C huyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương HoaGVHD:
TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
LỜI NÓI ĐẦU
Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thực hiện chủ trương đa dạng hóa các hình
thức sở hữu, các thành phần kinh tế được mở rộng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
Kiểm toán là một ngành khoa học có vai trò tích cực trong việc làm trong sạch tình
hình tài chính, kiểm toán giúp cho các nhà quản lý quản lý tốt hơn, giúp cho các nhà đầu tư
đầu tư một cách hiệu quả, kiểm toán giúp cho các tổ chức như ngân hàng có chính sách tín
dụng hợp lý…
Trong cơ chế thị trường của nền kinh tế Việt Nam hiện nay kiểm toán được xem là
một công cụ quản lý kinh tế hiệu lực nhất để khắc phục các rủi ro thông tin trong các báo cáo
tài chính. Điều đó đặt ra yêu cầu đối với ngành kiểm toán nói chung và các công ty kiểm toán
nói riêng là phải không ngừng nâng cao chất lượng các dịch vụ cung cấp để phục vụ tốt hơn
nhu cầu của khách hàng.
Kiểm toán Báo cáo tài chính là một trong những dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất trong
các dịch vụ kiểm toán đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nền kinh tế. Trước yêu cầu chung đối
với sự phát triển của ngành kiểm toán trong bối cảnh hội nhập, việc hoàn thiện chất lượng dịch
vụ kiểm toán Báo cáo tài chính được đặt lên hàng đầu.
Kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động là một phần hành kiểm toán quan trọng trong
kiểm toán Báo cáo tài chính. Chi phí hoạt động là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới kết
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thông qua đó chỉ tiêu lợi nhuận của doanh
nghiệp được xác định một cách chính xác. Bởi vậy, chi phí hoạt động ảnh hưởng trực tiếp tới
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ, ảnh hưởng tới quyết định cho vay hay đầu tư
của những đối tượng quan tâm bên ngoài doanh nghiệp cùng với sự quản lý của Nhà nước…
Sự quan trọng đó của chi phí hoạt động đã khiến thiết kế và thực hiện quy trình kiểm toán
khoản mục chi phí hoạt động trở thành một trong những vấn đề rất được quan tâm của các
cuộc kiểm toán và sự hoàn thiện kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động là điều tất yếu cần
thiết. Các Công ty kiểm toán trong quá trình hoạt động của mình, luôn tìm cách không ngừng
hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động. Đây chính là những lý do mà
Trần Lê Trang Kiểm toán
Trần Lê Trang Kiểm toán
48B Kiểm toán 48B
Sinh viên
Trần Lê Trang
3
C huyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương HoaGVHD:
TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN
KHOẢN MỤC CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG TRONG KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN PKF
VIỆT NAM THỰC HIỆN
1.1. Mục tiêu kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động trong kiểm toán Báo cáo
tài chính do Công ty TNHH kiểm toán PKF Việt Nam thực hiện
Chi phí hoạt động là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình hoạt động kinh
doanh của mọi loại doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp như doanh
nghiệp thương mại, các tập đoàn sản xuất, các Công ty xây dựng… Chi phí hoạt
động là chi phí gián tiếp ảnh hưởng lớn đến kết quả thu được trong kỳ của một
doanh nghiệp. Chi phí hoạt động xuất hiện trên báo cáo kết kinh doanh của doanh
nghiệp, là một trong các cơ sở để xác định các chỉ tiêu quan trọng, do đó việc phản
ánh sai lệch chi phí hoạt động sẽ dẫn đến các chỉ tiêu sau đó như lợi nhuận trước
thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế sẽ bị phản ánh lệch lạc.
Với vai trò quan trọng của khoản mục chi phí hoạt động như vậy, do đó
trong mọi cuộc kiểm toán, kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động luôn được quan
tâm đúng mức. Kiểm toán viên cần thực hiện kiểm tra một cách thận trọng để đảm
bảo không bỏ qua những sai sót trọng yếu.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 – “Mục tiêu và nguyên tắc cơ
bản chi phối kiểm toán Báo cáo tài chính” (Ban hành theo quyết định số
120/1999/ QĐ-BTC ngày 27/9/1999 của Bộ Tài chính): “Mục tiêu của cuộc kiểm
toán Báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý
kiến xác nhận rằng Báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở Chuẩn mực và Chế độ
*/Mục tiêu định giá: Đảm bảo việc ghi chép và phân bổ các yếu tố chi phí dài
hạn là nhất quán và phù hợp
*/Mục tiêu chính xác cơ học: Các con số chi phí hoạt động được tính toán
một cách chính xác, số liệu tổng cộng trên các sổ chi tiết khớp đúng với sổ Cái chi
phí hoạt động. Các con số chuyển sổ sang trang, cộng dồn là thống nhất.
Trần Lê Trang Kiểm toán
48B Kiểm toán 48B
5
C huyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương HoaGVHD:
TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
*/Mục tiêu trình bày và công bố: Các tài khoản chi phí hoạt động được trình
bày trên BCTC, thuyết minh Báo cáo tài chính là phù hợp
1.2. Đặc điểm kế toán khoản mục chi phí hoạt động ở khách thể kiểm toán của
Công ty TNHH kiểm toán PKF Việt Nam ảnh hưởng tới kiểm toán
1.2.1. Đặc điểm chung về khoản mục chi phí hoạt động ở các khách thể
kiểm toán của Công ty TNHH kiểm toán PKF Việt Nam
Chi phí hoạt động tại một khách hàng của PKF Việt Nam thường bao gồm
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Để hoạt động trong một doanh nghiệp, một tổ chức diễn ra bình thường, vận
hành tốt thì cần thiết phải có hệ thống cán bộ và hệ thống các phương tiện quản lý.
Các chi phí bỏ ra để nhằm cho cỗ máy quản lý đó hoạt động giúp cho doanh nghiệp,
tổ chức thực hiện được các chức năng nhiệm vụ của mình để tồn tại và phát triển.
Khi doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm, hay khi doanh nghiệp mua hàng hóa
về để trao đổi. Nếu như khâu tiêu thụ ngưng lại, thì tất yếu dẫn đến việc tiếp tục tái
đầu tư là không thể, từ đó làm ngưng trễ mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Chi phí hoạt động là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là những chi phí xảy ra trong kỳ hoạt động
kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, là những chi phí gián tiếp và không
trực tiếp liên quan đến quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm.
Chi phí hoạt động xuất hiện trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có
chữa TSCĐ, tiền thuê kho, thuê bãi, tiền thuê bốc vác, vận chuyển hàng hóa để tiêu
thụ, tiền hoa hồng cho đại lý bán hàng, cho đơn vị nhận ủy thác xuất khẩu…
Thứ bảy – Chi phí bằng tiền khác: Là các chi phí khác phát sinh trong khi
bán hàng, ngoài các chi phí kể trên như: chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí
giới thiệu sản phẩm, hàng hóa, quảng cáo, chào hàng, chi phí hội nghị khách hàng…
Chi phí quản lý doanh nghiệp là những khoản chi phí liên quan chung đến
toàn bộ hoạt động của cả doanh nghiệp mà không tách riêng ra được cho bất kỳ một
hoạt động nào. Chi phí quản lý doanh nghiệp tại các khách hàng của PKF Việt Nam
cũng bao gồm nhiều loại như chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và chi
phí chung khác. Tuân thủ theo qui định của BTC tại các đơn vị này chi phí quản lý
doanh nghiệp được chi tiết thành:
Trần Lê Trang Kiểm toán
48B Kiểm toán 48B
7
C huyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương HoaGVHD:
TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Thứ nhất – Chi phí nhân viên quản lý: Gồm các khoản tiền lương, các khoản
phụ cấp, BHXH, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của Ban giám đốc, nhân viên
quản lý ở các phòng ban của doanh nghiệp.
Thứ hai – Chi phí vật liệu quản lý: Phản ánh giá trị vật liệu xuất dùng cho
công tác quản lý doanh nghiệp như giấy, bút mực, vật liệu sử dụng cho việc sửa
chữa tài sản cố định, công cụ, dụng cụ…
Thứ ba – Chi phí đồ dùng văn phòng: Phản ánh giá trị dụng cụ, đồ dùng văn
phòng dùng cho công tác quản lý.
Thứ tư – Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao tài sản cố định
dùng chung cho doanh nghiệp như nhà cửa làm việc của các phòng, ban, kho tàng,
vật kiến trúc, phương tiện truyền dẫn, máy móc thiết bị quản lý dùng tại văn phòng.
Thứ năm – Thuế, phí và lệ phí: Phản ánh các khoản chi phí về thuế, phí và lệ
phí như thuế môn bài, thuế nhà đất, các khoản phí, lệ phí khác.
Thứ sáu – Chi phí dự phòng: Phản ánh khoản dự phòng phải thu khó đòi tính
TK 6417: Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6418: Chi phí bằng tiền khác
TK 642: Tên gọi chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm các tiểu khoản sau
TK 6421: Chi phí nhân viên quản lý
TK 6422: Chi phí vật liệu quản lý
TK 6423: Chi phí đồ dùng văn phòng
TK 6424: Chi phí khấu hao TSCĐ
TK 6425: Thuế, phí, lệ phí
TK 6426: Chi phí dự phòng
TK 6427: Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6428: Chi phí bằng tiền khác
Tuy vậy, không phải lúc nào chi phí hoạt động tại các khách thể cũng bao
gồm đầy đủ cả chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Cụ thể như tại các
Công ty xây dựng chỉ hoạt động về xây dựng thì không phát sinh chi phí bán hàng,
do đó chi phí hoạt động tại các Công ty này chỉ gồm chi phí quản lý doanh nghiệp.
Do đó, TK 641 không sử dụng để hạch toán.
• Về hệ thống chứng từ sử dụng
Trần Lê Trang Kiểm toán
48B Kiểm toán 48B
9
C huyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương HoaGVHD:
TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Các chứng từ chi phí tiền lương gồm có: Hợp đồng lao động, bảng tính
lương, bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương, bảng thanh toán tiền thưởng
Các chứng từ liên quan tài sản cố định: Bảng tính và phân bổ khấu hao,
biên bản giao nhận TSCĐ…
Chứng từ phản ánh các dịch vụ mua ngoài: Hóa đơn giá trị gia tăng, hợp
đồng mua hàng, bảng kê mua hàng…
Chứng từ tiền gồm: Phiếu thu, phiếu chi, giấy báo nợ, giấy báo có của ngân hàng.
Chứng từ liên quan đến đồ dùng, vật tư: Phiếu xuất kho, bảng kê mua hàng…
Chi phí nhân viên quản lý Các khoản ghi giảm
chi phí quản lý
TK 152, 153
TK 911
Chi phí vật liệu, dụng cụ Kết chuyển chi phí bán hàng TK 214
Chi phí khấu hao TSCĐ TK 333, 111, 112 …
Thuế phí, lệ phí TK 139
Chi phí dự phòng TK 335, 142, 242
Chi phí theo dự toán
TK 1422
TK 331, 111, 112…
- Điều tra nguyên nhân biến động chi phí: Khi đã biết được nơi có biến động
chi phí lớn, doanh nghiệp tiến hành xác minh nghuyên nhân biến động chi phí là do
nguyên nhân nào? Chủ quan hay khách quan? Đồng thời tìm cách giải quyết vấn đề.
Ngoài ra, bên cạnh những khách hàng lớn thủ tục KSNB được Ban quản lý
quan tâm và thực hiện có hiệu quả còn có những khách thể mà quy mô nhỏ, mới đi
vào hoạt động… các thủ tục kiểm soát còn hạn chế. Cụ thể, tại các khách thể xây
dựng như (NHK, BLM…) thủ tục đối chiếu hoạt động giữa các bộ phận là không
hiệu quả bởi tình trạng các đội công trình thực hiện ở xa do đó việc KSNB đối với
chi phí hoạt động là không hiệu quả.
Trần Lê Trang Kiểm toán
48B Kiểm toán 48B
12
C huyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương HoaGVHD:
TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
1.2.4. Những sai phạm thường gặp tại các khách thể và rủi ro khi thực hiện kiểm
toán khoản mục chi phí hoạt động
Khoản mục chi phí hoạt động là một khoản mục với nhiều khoản mục chi phí
khác nhau. Các nghiệp vụ chi phí phát sinh một cách thường xuyên, hạch toán
khoản mục chi phí hoạt động liên quan tới nhiều phương pháp phân bổ về KH
TSCĐ (một số khách thể thực hiện khấu hao theo phương pháp đường thẳng, một
số khách thể thực hiện theo phương pháp khấu hao nhanh), chi phí trả trước dài
hạn… do đó làm tăng cơ hội cho các sai phạm nảy sinh dẫn đến rủi ro trong công
tác kiểm toán. Đồng thời, chi phí hoạt động có ảnh hưởng trọng yếu tới lợi nhuận
thuần trong năm. Bởi vậy, khoản mục chi phí hoạt động thường được PKF đánh giá
là có rủi ro.
Như đã tìm hiểu ở trên, tại các khách thể của Công ty TNHH kiểm toán PKF
Việt Nam công tác kiểm soát nội bộ đối với khoản mục chi phí hoạt động thường
được đặt ra qua một số thủ tục và bước kiểm soát. Bên cạnh những khách thể
KSNB chi phí hoạt động hiệu quả vẫn còn có những khách thể mà các thủ tục kiểm
soát còn chưa phát huy hết tác dụng… Do đó, khi thực hiện kiểm toán khoản mục
có chứng từ hợp lệ, bởi vậy khoản chi này vẫn chưa được hạch toán vào chi phí
trong kỳ.
Thứ hai – Một số khoản trên thực tế đã chi ra nhưng do người được giao
nhiệm vụ đã hoàn thành và đến cuối kỳ kế toán người được giao nhiệm vụ này
không làm thủ tục thanh toán, do vậy những khoản chi này vẫn chưa được hạch
toán vào chi phí trong kỳ. Từ đó dẫn đến chi phí trong kỳ này bị ghi thiếu trong khi
chi phí của kỳ sau bi ghi tăng lên. Việc hạch toán như vậy sẽ không đúng kỳ dẫn
đến lợi nhuận của doanh nghiệp bị phản ánh sai lệch
Thứ ba – Doanh nghiệp không ghi nhận nhưng chi phí đã chi ra kỳ trước
nhưng được phân bổ cho chi phí ở kỳ này…
*/ Chi phí các loại và các đối tượng công việc phản ánh trên sổ sách kế toán
có sự nhầm lẫn, không đúng với thực tế
Những nguyên nhân dẫn đến sai phạm trên thường là:
Tại đơn vị trong quá trình hạch toán các loại chi phí, kế toán đã phân loại
nhầm lẫn, điều này dẫn đến chi phí này tăng lên trong khi chi phí khác giảm đi.
Trần Lê Trang Kiểm toán
48B Kiểm toán 48B
14
C huyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương HoaGVHD:
TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Từ nhận định về những sai phạm và rủi ro có thể xảy ra do đặc điểm kế toán
khoản mục chi phí hoạt động tại các khách thể của mình, PKF Việt Nam khi thực hiện
bất kỳ một cuộc kiểm toán nào thì khoản mục này rất được chú trọng và quan tâm.
+ Khi rủi ro được xác định là khách hàng có khả năng ghi tăng chi phí hoạt
động nhằm giảm lợi nhuận thực tế đồng nghĩa với giảm chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp. KTV tiến hành kiểm tra ngược theo trình tự kế toán. KTV cần phải tăng
cường kiểm tra theo hướng khai tăng tức là kiểm tra những khoản mục có quy mô
lớn, phát sinh bất thường, những khoản mục chi phí phân bổ như chi phí trả trước,
KH TSCĐ trong kỳ.
+ Khi rủi ro được xác định là khách hàng có khả năng ghi giảm chi phí hoạt
xây dựng chương trình kiểm toán. Kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động trong
giai đoạn này KTV chủ yếu thực hiện ba bước công việc là:
Thứ nhất: Hiểu biết về khách hàng
Ở mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau thì đặc thù chi phí của chúng có rất
nhiều điểm khác biệt, đòi hỏi phải có những yêu cầu khác nhau trong công việc
kiểm toán, đòi hỏi phải có những hiểu biết cụ thể tại mỗi khách thể. Bởi vậy, việc
am hiểu khách hàng, ngành nghề kinh doanh của khách hàng, các yếu tố pháp lý…
là điều kiện cần cho việc thực hiện kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động một
cách đầy đủ.
Trong bước thu thập thông tin khách hàng, KTV quan tâm đến cả môi trường
bên trong và bên ngoài của đơn vị, những hiểu biết về hệ thống KSNB, thực hiện
phân tích soát xét sơ bộ đồng thời có đánh giá về khả năng hoạt động liên tục, xác
định mức trọng yếu, và đánh giá sơ bộ ban đầu về các nhân tố rủi ro do gian lận.
*/Tìm hiểu về môi trường bên trong khách hàng, kiểm toán viên tìm hiểu
những thông tin về bản chất của khách hàng như:
Cơ cấu tổ chức bộ máy và nhân sự của khách hàng ra sao, và sự ảnh hưởng
đến chi phí hoạt động như thế nào? Doanh nghiệp thuộc loại hình doanh nghiệp tư
nhân, nhà nước hay cổ phần… Ngoài ra, KTV còn cần phải quan tâm đến lĩnh vực
hoạt động kinh doanh của khách hàng, các sản phẩm dịch vụ mà nó cung cấp, chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp… từ đó sẽ tác động đến tỷ trọng của chi phí hoạt
động trong tổng chi phí của doanh nghiệp
Trần Lê Trang Kiểm toán
48B Kiểm toán 48B
16
C huyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương HoaGVHD:
TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
*/ Tìm hiểu về môi trường bên ngoài, KTV tìm hiểu về đặc điểm ngành nghề
của khách hàng
Khi tìm hiểu về môi trường bên ngoài KTV quan tâm tới các thông tin về thị
trường của khách hàng cả về nhà cung cấp chính, các đối thủ cạnh tranh… Các cổ
Hệ thống kế toán chi phí có theo dõi chi tiết cho từng loại chi phí hay không?
Có sự phân tách giữa các phòng ban thực hiện các chức năng phê duyệt, ghi
sổ không?
• Đánh giá ban đầu về hoạt động có hiệu quả hay không hiệu quả của hệ
thống kiểm soát nội bộ đối với chi phí hoạt động để lập kế hoạch cho việc thực hiện
kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động. Kiểm toán viên cần phải xác định mục tiêu
kiểm soát đặc thù đối với khoản mục chi phí hoạt động tại khách hàng, từ đó xác
định quá trình kiểm soát chủ yếu tương ứng để đạt được mục tiêu đó. Qua đó, đánh
giá các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ bằng cách xem xét sự vắng mặt
của quá trình kiểm soát chính. Từ đó, KTV đưa ra được nhận định ban đầu về tính
hiệu quả của hệ thống KSNB đối với khoản mục chi phí hoạt động. Nếu như hệ
thống KSNB được đánh giá là kém hiệu quả thì đồng nghĩa các thử nghiệm cơ bản
cần được tăng cường để đảm bảo tính đầy đủ và phù hợp của bằng chứng cho kết
luận kiểm toán và ngược lại.
*/ Thực hiện thủ tục phân tích soát xét sơ bộ
Tại Công ty TNHH kiểm toán PKF Việt Nam trong bước này KTV thực hiện
phân tích một cách tổng quát về các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính, những chỉ tiêu
được sử dụng để phân tích có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chỉ tiêu chi phí
hoạt động. KTV tiến hành trên cả hai dạng:
- Phân tích ngang: Thực hiện so sánh chi phí kỳ này với chi phí kỳ trước
hoặc giữa các tháng trong kỳ.
- Phân tích dọc: KTV thực hiện so sánh tỷ lệ từng nhóm chi phí như chi phí
lương, vật liệu… với lãi gộp giữa năm nay và năm trước
Thông qua thủ tục phân tích kiểm toán viên thấy được những biến động bất
thường giữa các tháng trong năm, giữa năm nay so với năm trước, giữa dự toán so
với thực tế, trên cơ sở đó KTV xác định những khoản chi phí cần được quan tâm,
lưu ý.
Trần Lê Trang Kiểm toán
48B Kiểm toán 48B
18
Trần Lê Trang Kiểm toán
48B Kiểm toán 48B
19
C huyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương HoaGVHD:
TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
+ Đối với dự án, tổ chức phi lợi nhuận thì mức trọng yếu là từ 0.5% đến 1%
trên tổng chi phí
Mức trọng yếu được xác định từ tối thiểu đến tối đa, mức trọng yếu cho
khoản mục chi phí hoạt động được xác định xong, kiểm toán viên ước tính sai số và
so sánh. Nếu tổng hợp sai số nhỏ hơn ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thì Báo
cáo tài chính sẽ được coi là trung thực, hợp lý. Ngược lại, nếu tổng hợp các sai sót
lớn hơn giá trị tối đa thì BCTC không được coi là trung thực, hợp lý.
Chi phí hoạt động của doanh nghiệp thường có rất nhiều khoản mục chi phí
khác nhau, vì vậy thông qua thủ tục phân tích và đánh giá mức trọng yếu KTV cần
xác định được các khoản mục chi phí trọng yếu và mức độ ảnh hưởng của nó đối
với Báo cáo tài chính từ đó có biện pháp kiểm tra sao cho phù hợp.
*/ Hiểu biết và đánh giá về các nhân tố rủi ro do gian lận:
Thông qua bước công việc này kiểm toán viên có thể xác định được những
chi phí có khả năng sai sót trọng yếu, để từ đó KTV có cơ sở cho việc tiến hành
đánh giá rủi ro.
Thứ hai: Đánh giá rủi ro
Tại Công ty TNHH kiểm toán PKF Việt Nam đánh giá rủi ro có thể dựa trên
cơ sở những hiểu biết về khách hàng ảnh hưởng đến khoản mục chi phí của chi phí
hoạt động, xem xét từng cơ sở dẫn liệu đối với chi phí hoạt động và các nhân tố rủi
ro liên quan. Công việc đánh giá rủi ro nhằm đánh giá khả năng xảy ra sai sót trọng
yếu ở mức độ tổng thể Báo cáo tài chính cũng như đối với khoản mục chi phí hoạt
động để việc thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình kiểm toán ở
phía sau được phù hợp
Thêm vào đó, kiểm toán viên xác định các nhân tố rủi ro liên quan đến toàn
thể báo cáo tài chính hay ở mức độ cơ sở dẫn liệu.
*/ Thiết kế thử nghiệm kiểm soát
Khi thiết kế thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viên dựa trên các hướng dẫn
chung của PKF, tuy nhiên vẫn được thực hiện bởi KTV có nhiều kinh nghiệm. Thủ
tục kiểm soát sẽ được thiết kế cho riêng khoản mục chi phí hoạt động
*/ Thiết kế thử nghiệm cơ bản bao gồm thủ tục tổng hợp đối chiếu, thủ tục
phân tích và thủ tục kiểm tra chi tiết
Việc xác định bản chất, thời gian và quy mô của thử nghiệm cơ bản phụ thuộc
vào xét đoán của kiểm toán viên (thông qua việc đánh giá ban đầu về hệ thống
Trần Lê Trang Kiểm toán
48B Kiểm toán 48B
21
C huyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương HoaGVHD:
TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
KSNB, thông qua những hiểu biết về ngành nghề…) đối với mỗi khách hàng cụ thể.
Thông thường tại PKF Việt Nam các thủ tục cơ bản thiết kế tuân theo chương trình
kiểm toán được thiết kế sẵn (phụ lục)
1.3.1.2. Thực trạng lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán khoản
mục chi phí hoạt động tại Công ty ABC
Công ty xây dựng ABC là khách hàng cũ của PKF Việt Nam, các thông tin
về Công ty này PKF Việt Nam đã nắm bắt được và lưu giữ trong hồ sơ thường trực
của mình. Khi nhận được thư mời kiểm toán, trên cơ sở những hiểu biết trước đó về
khách hàng, nhằm mục đích đảm bảo những công việc lặp đi, lặp lại đối với khách
hàng không chứa đựng những rủi ro không thể chấp nhận, PKF Việt Nam tiến hành
việc đánh giá khả năng chấp nhận khách hàng ABC. Khi nhận được thư mời kiểm
toán PKF Việt Nam tiến hành xem xét các thông tin thay đổi so với năm trước như:
- Có sự thay đổi quan trọng về đội ngũ lãnh đạo hoặc hình thức sở hữu của
khách hàng không?
- Khách hàng thay đổi các chuyên gia tư vấn pháp luật không?
- Khách hàng có sự thay đổi cơ bản về hoạt động kinh doanh không? …
Trên cơ sở đó, PKF Việt Nam kết luận rằng: PKF Việt Nam nhận thấy không
GTGT được tính theo phương pháp giá trị gia tăng được khấu trừ
Tại Công ty ABC không sử dụng tài khoản 641. Tài khoản sử dụng để theo
dõi chi phí hoạt động ở đây bao gồm:
TK 642: Chi phí quản lý doanh nghiệp
TK 6421: Chi phí tiền lương, phụ cấp, trợ cấp
TK 6422: Chi phí vật liệu quản lý
TK 6423: Chi phí đồ dùng văn phòng
Trần Lê Trang Kiểm toán
48B Kiểm toán 48B
Chủ tịch
HĐQT
Giám đốc
Các phòng ban
Phó Giám đốc
Các xí nghiệp, đội
23
C huyên đề thực tập chuyên ngành GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương HoaGVHD:
TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
TK 6424: Chi phí khấu hao TSCĐ
TK 6425: Thuế, phí và lệ phí
TK 6426: chi phí dự phòng
TK 6427: Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6428: Chi phí bằng tiền khác
Tìm hiểu và đánh giá ban đầu về hệ thống KSNB
KTV thông qua những tài liệu trong hồ sơ thường trực của Công ty ABC và
phỏng vấn nhân viên trong Công ty để từ đó khẳng định và bổ sung các thông tin về
hệ thống KSNB đặc biệt về hệ thống kế toán của Công ty đối với chi phí hoạt động.
Qua đó KTV đã thu thập và ghi chép lại trong biểu số 1.2 – Ghi chép hệ
thống kế toán đối với chi phí hoạt động tại khách hàng ABC.
Tổng hợp các thông tin thu thập được, KTV nhận định:
phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác mà có phát sinh lớn thì sẽ phải có sự
phê duyệt như sau:
Quy trình cụ thể:
- Bộ phận có nhu cầu kinh phí lập Bản kế hoạch dự trù thời gian kinh phí trình
Trưởng bộ phận phê duyệt, sau đó trình Ban giám đốc phê duyệt
- Sau khi nhận kinh phí, bộ phận tiến hành chi tiêu, sau đó thu thập hóa đơn chứng từ
- Lập giấy đề nghị thanh toán hoặc bản quyết toán kinh phí trình trưởng bộ phận và
Ban giám đốc phê duyệt
- Sau khi giấy tờ được được phê duyệt, bộ phận chuyển toàn bộ hồ sơ chứng từ liên
quan cho bộ phận hạch toán kế toán để bộ phận này tiến hành vào sổ.
Thực hiện thủ tục phân tích sơ bộ
Sau khi tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục chi phí
hoạt động, kiểm toán viên tiến hành phân tích sơ bộ, qua đó có nhận định một cách
khái quát về các thông tin trên BCTC để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch kiểm toán về
bản chất, thời gian, và nội dung các thủ tục kiểm toán sẽ được sử dụng cho kiểm
toán khoản mục chi phí hoạt động.
Bởi mối liên quan chặt chẽ giữa chi phí hoạt động và các phần hành khác nên
thủ tục phân tích sơ bộ ngoài thực hiện đối với khoản mục chi phí hoạt động còn
được tiến hành thực hiện đối với các khoản mục có liên quan trực tiếp hoặc gián
tiếp đối với chi phí hoạt động trên BCĐKT và báo cáo KQKD
Trần Lê Trang Kiểm toán
48B Kiểm toán 48B
25