MỤC LỤC
Lời nói đầu
Khi nói đến Singapore, với một số người, quốc gia này không khác hơn là một
“dấu chấm nhỏ màu đỏ trên bản đồ”. Tuy nhiên, vị trí của Singapore trên thế giới
không chỉ gói gọn trong chấm nhỏ đó. Trên thực tế, Singapore là một đất nước năng
động, có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ . Ngoài yếu tố lịch sử, văn hóa, nhân lực, còn
có nhiều khía cạnh khác cấu thành nên sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Singapore
ngày nay, trong đó không thể không kể đến vai trò của lĩnh vực xuất nhập khẩu. Chiến
lược phát triển kinh tế của Chính phủ Singapore cũng như các chính sách phát triển
kinh tế, đặc biệt các chính sách thương mại đã và đang định hình nên một điểm sáng
về kinh tế, góp phần đưa Singapore trở thành một trong bốn con rồng của châu Á.
Trên cơ sở ấy, bài nghiên cứu tập trung vào đề tài “tình hình xuất nhập khẩu
của Singapore giai đoạn từ năm 2005 đến nay”. Bài viết đưa ra bức tranh tổng quan
về Singapore trên các khía cạnh: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư – xã hội, kinh
tế của Singapore. Bài viết chú trọng vào việc tổng hợp và phân tích tình hình xuất
nhập khẩu của Singapore trong giai đoạn 2005 đến nay trên các tiêu chí về đóng góp
của ngoại thương vào nền kinh tế, tổng giá trị xuất nhập khẩu, tỷ trọng tham gia vào
tổng kim ngạch của xuất khẩu - nhập khẩu, cơ cấu xuất nhập khẩu theo mặt hàng và
thị trường chủ yếu. Ngoài ra, các nhận xét cũng như đánh giá cơ bản về lĩnh vực xuất
nhập khẩu của quốc gia này trong giai đoạn trên cũng được đề cập trong bài viết.
Thông qua đó, chúng ta sẽ có những kiến thức và hiểu biết cơ bản nhất về Singapore,
đặc biệt là lĩnh vực xuất nhập khẩu của quốc gia này. Tựu chung lại, qua việc tổng hợp
và phân tích kết hợp nhận xét và đánh giá tình hình xuất nhập khẩu của quốc gia phồn
thịnh này trong giai đoạn gần đây, bài viết không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc cung
cấp thông tin và dữ liệu mà còn nêu lên chính sách, định hướng về lĩnh vực xuất nhập
khẩu của quốc gia này trong thời gian tới.
Bài viết được triển khai trên bố cục: nêu lên những thông tin cơ bản về đất nước
Singapore; tiếp đó đi sâu vào tổng hợp, phân tích, nhận xét và đánh giá tình hình xuất
nhập khẩu của Singapore giai đoạn 2005 đến nay và cuối cùng đề cập những định
hướng, chủ trương về lĩnh vực xuất nhập khẩu của Singapore trong giai đoạn tới.
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
ngày nay trở thành trung tâm tài chính ngân hàng và thị trường tài chính quốc tế phát
triển rất mạnh mẽ. Cùng với nguồn lao động siêng năng với chính sách kinh tế, đầu tư,
thương mại hợp lý đã góp phần tạo nên sự thành công của nên kinh tế Singapore.
Về cơ sở hạ tầng
Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu
châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc
dầu, chế biến và lắp ráp máy móc tinh vi. Một nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy
tính điện tử và hàng bán dẫn, còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng
đầu ở châu Á.
Về kinh tế
Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ có tốc độ tăng
trưởng khá nhanh. Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang
nền kinh tế tri thức và đang thực hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singapore thành
một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế
toàn cầu và một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm kinh doanh. Với tốc độ tăng trưởng qua
các năm được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thực tế (%) của Singapore 1999 – 2010
Năm 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tốc độ 5.5 10.1 -2.2 2.2 1.1 8.1 6.4 7.9 7.7 1.1 -1.3 14.5
Nguồn: CIA WORLD FACTLOOK
Hình 1: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng GDP thực tế
Chính phủ Singapore thực hiện chính sách tự do hóa thương mại và đầu tư rất
sớm (1966 - 1973). Mà then chốt là chính phủ thực thi chiến lược hướng về xuất khẩu
như dồn mọi nỗ lực vào việc tiếp cận và phát triển thị trường nước ngoài, hỗ trợ phát
triển các nhà xuất khẩu (1979 - 1984 ), xúc tiến xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ (1985 -
1990). Từ năm 1991 đến nay, Singapore thực thi chính sách “quốc tế hóa nội địa”,
mục tiêu là biến Singapore trở thành một trung tâm thương mại quốc tế lớn. Hệ thống
chính sách kinh tế của Singapore được tập trung giải quyết bởi một Uỷ ban liên bộ của
chính phủ, do phó thủ tướng đứng đầu, dưới nữa là các ủy ban chuyên trách như IDB,
TDB(Uỷ ban phát triển đầu tư - thương mại), HDB (Uỷ ban phát triển nhà ở)
407.9%.
Giai đoạn từ năm 2005 đến 2008, nền kinh tế Singapore cũng như nhiều nền kinh
tế khác trên thế giới trải qua nhiều biến động, dưới ảnh hưởng của khủng hoảng tài
chính châu Á (1997) và đặc biệt là khủng hoảng tài chính thế giới (2008). Khủng
hoảng tài chính thế giới 2008 đã làm nền kinh tế quốc gia này suy giảm mạnh, tốc độ
tăng trưởng năm 2008 chỉ đạt 1,5 % (theo ADB). Tuy nhiên, với nhiều chính sách hỗ
trợ và khuyến khích của chính phủ Singapore, nền kinh tế Singapore đã phục hồi và
phát triển ấn tượng. Dưới đây là các bảng số liệu thống kê thể hiện kết quả xuất nhập
khẩu của Singapore giai đoạn này.
Tình hình xuất nhập khẩu của Singapore giai đoạn 2005-2008
Bảng 2: Trị giá xuất nhập khẩu của Singapore giai đoạn 2005 – 2008
Đơn vị tính: triệu SGD (Đô-la Singapore)
Năm
Tổng kim
ngạch XNK
Xuất khẩu Nhập khẩu
Cán cân thương mại
Trị giá
Tỷ lệ XK/NK
(%)
2005 715,722.80 382,532.00 333,190.80 49,341.20 114.81
2006 810,483.30 31,559.20 378,924.10 52,635.10 113.89
2007 846,607.40 450,627.70 395,979.70 54,648.00 113.80
2008 927,654.80 476,762.20 450,892.60 25,869.60 105.74
Trung
bình
825,117.08 435,370.28 389,746.80 45,623.48 112.06
Nguồn: Niên giám thống kê Singapore 2011
Thông qua bảng trên, ta có thể thấy rằng quy mô trị giá xuất nhập khẩu của
Singapore liên tục tăng trong giai đoạn 2005 – 2008, với mức trung bình đạt
53.45% (2005) xuống 53.23% (2007). Tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ trong tổng giá trị
xuất khẩu ở mức cao và tăng dần qua các năm, lần lượt là 15.00% (2005), 16.35%
(2006) và 17.70% (2007).
Thứ hai, về cơ cấu thị trường xuất khẩu: Các bạn hàng xuất khẩu chủ yếu là:
Malaysia (13,1%), Mỹ (10,2%), Hongkong (10,1%), Trung Quốc (9,7%), Indonesia
(9,2%), Nhật Bản (5,5%), Thái Lan (4,2%) (năm 2006).
Bảng 4: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Singapore giai đoạn 2005 - 2007
Đơn vị tính: triệu SGD (Đô-la Singapore)
Năm
2005 2006 2007
Trị giá
Tỷ lệ
%
Trị giá
Tỷ
lệ %
Trị giá
Tỷ
lệ %
Tổng kim
ngạch XK
430,565.50 100 481,754.20 100 500,810.10 100
Châu Mỹ 48,380.10 11.24 54,820.90 11.38 54,740.40 10.93
Châu Á 261,400.90 60.71 297,054.20 61.66 314,668.40 62.83
Châu Âu 48,296.90 11.22 50,958.80 10.58 50,909.00 10.17
Châu Úc 19,613.70 4.56 22,499.90 4.67 23,271.10 4.65
Châu Phi 4,840.40 1.12 6,225.40 1.29 7,038.90 1.41
Liên minh
Châu Âu
46,028.50 10.69 48,189.00 10.00 48,175.30 9.62
vật
437.5 0.13 470.6 0.13 672.8 0.17
Hóa chất và hóa
phẩm
20,817.1 6.33 22,781.6 6.11 23,918.7 6.14
Hàng sản xuất 25,033.2 7.61 27,925.2 7.49 30,715.2 7.88
Máy móc và thiết bị 186,268.2 56.62 207,442 55.67 208,406.5 53.5
Tạp hóa 26,213.6 7.97 27,586.9 7.40 29,238.5 7.51
Nguồn: Niên giám thống kê Singapore 2011
Bảng 5 đưa đến một cái nhìn tổng quan về cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của
Singapore giai đoạn 2005 – 2007. Các nhóm hàng có tỷ trọng giảm dần là thực phẩm,
đồ uống và thuốc lá, hóa chất và hóa phẩm, máy móc thiết bị và tạp hóa. Trong khi đó,
các nhóm hàng nguyên liệu thô, khoáng sản nhiên liệu, dầu thực vật, động vật và hàng
sản xuất có tỷ trọng tăng dần. Tuy nhiên, tất cả các biến động này là không nhiều.
Có thể thấy máy móc và thiết bị chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị nhập
khẩu, trên dưới 50%, cụ thể là 56.62% năm 2005, 55.67% năm 2006 và 53.50% năm
2007. Khoáng sản nhiên liệu là nhóm hàng có trị giá nhập khẩu lớn thứ hai sau máy
móc và thiết bị với 17.98% năm 2005, 20.03% năm 2006 và 21.40% năm 2007. Các
nhóm hàng thực phẩm, đồ uống và thuốc lá, nguyên liệu thô, dầu thực vật và động vật
chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng giá trị nhập khẩu (dưới 3%).
Thứ hai, về cơ cấu thị trường nhập khẩu: Các bạn hàng nhập khẩu chủ yếu là:
Malaysia (13%), Mỹ (12,7%), Trung Quốc (11,4%), Nhật Bản (8,3%), Đài Loan
(6,4%), Indonesia (6,2%), Hàn Quốc (4,4%) (năm 2006).
Bảng 6: Cơ cấu thị trường nhập khẩu của Singapore giai đoạn 2005 - 2007
Đơn vị tính: triệu SGD (Đô-la Singapore)
Năm
2005 2006 2007
Trị giá Tỷ lệ Trị giá Tỷ lệ Trị giá Tỷ lệ
% % %
như giảm áp lực lạm phát trong nước
2
.
Trong bối cảnh như vậy, hoạt động ngoại thương của Singapore vẫn đạt được
những kết quả nhất định và có xu hướng vực dậy sau cuộc khủng hoảng.
1 Financial Liberalization and the Impact of the Financial Crisis on Singapore, by Michael Lim Mah-Hui and
Taya Maru
2 Economic Survey of Singapore 2008
Dưới đây là hai bảng tổng hợp tình hình xuất nhập khẩu giai đoạn từ năm 2008
đến quý 2 năm 2011 của Singapore:
Bảng 7: Kim ngạch Xuất Nhập khẩu giai đoạn 2008 đến quý 2 năm 2011
Đơn vị: triệu SNG
Nguồn: International Enterprise Singapore
Bảng 8: Tỷ lệ thay đổi so với giai đoạn cùng kỳ năm trước
Đơn vị: %
Năm GDP
Tổng kim ngạch Xuất
Nhập khẩu
Nhập
khẩu
Xuất
khẩu
2008
0.3
9.6 13.9 5.8
2009
-0.5
-19.4 -21.0 -18.0
2010
13.9
XK/NK
(%)
Trị giá
%
GD
P
%
Xuất
khẩu
2008 267,951.9
927,654.
8
450,892.
6
476,762.2
25,869.
6
9.7 5.4 105.7
2009 266,659.2
747,417.
4
356,299.
2
391,118.
2
34,819.
0
13.1 8.9 109.8
2010 303,652.2
902,062.
tuyệt đối. Năm 2008, xuất siêu chiếm 5.4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tỷ lệ này tiếp
tục tăng và đến năm 2010 con số này là 11.6%. Kết quả nhận được từ thống kê quý I
và quý II năm 2011 cũng cho cái nhìn khả quan đối với cán cân thương mại của cả
năm 2011.
Năm 2009, các chỉ tiêu đều tăng trưởng âm so với năm 2008 (bảng 2). Toàn năm
2009, Cầu ngoài nước giảm mạnh 11% bởi sự giảm xuống cơ bản trong hoạt động xuất
khẩu hàng hóa, chủ yếu là hàng điện tử. Cầu trong nước giảm 4.8%, so sánh với tăng
trưởng 15% của năm 2008 với nguyên nhân nằm ở mức đầu tư thấp hơn về tổng nguồn
vốn cố định và sự giảm sút trong hàng tồn kho. Chính vì vậy, năm 2009 tổng cầu giảm
mạnh, gây ảnh hưởng đến tình hình sản xuất trong nước nói chung và hoạt động xuất
nhập khẩu nói riêng
3
.
Trên đây là những nhìn nhận tổng quan về tình hình xuất nhập khẩu của
Singapore từ năm 2008 trở lại đây. Để có thể hiểu rõ ràng hơn về riêng từng hoạt động
xuất khẩu và nhập khẩu thì chúng ta sẽ đi sâu vào phân tích từng khía cạnh chính của
ngoại thương Singapore.
Hoạt động của doanh nghiệp Singapore cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của
cơn khủng hoảng kinh tế 2008. Bốn thị trường xuất khẩu hàng đầu của Singapore là ở
châu Á. Là quốc gia có mức lệ thuộc thương mại cao. Vì thế, khi tiền tệ trong khu vực
bị mất giá so với với đồng dollar Singapore, xuất khẩu trở nên đắt đỏ và khó khăn.
Những doanh nghiệp sở tại ở Singapore thường có qui mô vừa và nhỏ, tham gia vào
hoạt động thương mại nhiều hơn hoạt động nghiên cứu và phát triển.Do đó, tác động
của cơn khủng hoảng lên hoạt động nghiên cứu và phát triển ít nghiêm trọng ở
Singapore .Về cơ cấu kinh tế-xã hội,phúc lợi xã hội không phổ biến ở nhiều nền kinh
tế châu Á kể cả Singapore .Cơn bão suy thoái kinh tế châu Á đã chứng kiến cảnh đình
đốn sản xuất và giảm giá trị tài sản. Ở cao trào cơn khủng hoảng, tỉ lệ thất nghiệp ở
Singapore lên đến gấp đôi tỉ lệ thất nghiệp trước thời khủng hoảng .
Về xuất khẩu
Sau đây chúng ta sẽ xem xét tình hình xuất khẩu của Singapore qua 3 tiêu chí:
(%)
Trị giá
Tỷ lệ
(%)
Trị giá
Tỷ lệ
(%)
Kim ngạch Nhập khẩu 476,762.2 100 391,118.2 100 478,840.7 100 124,642.4 100
128,296.
1
100
Dầu mỏ 115,478.5 24.2 78,398. 20.1 103,511. 21.6 32,498.5 26.1 35,439.7 27.6
Thực phẩm, đồ uống, lá
thuốc lá
7,827.2 1.6 7,542.7 1.9 8,711.9 1.8 2,225.6 1.8 2,442.7 1.9
Nguyên liệu thô 3,041.6 0.6 2,265.6 0.6 2,820.0 0.6 804.4 0.6 909.5 0.7
Dầu thực vật, dầu động vật 888.7 0.2 593.0 0.2 610.6 0.1 133.7 0.1 127.3 0.1
Hóa chất và sản phẩm hóa
dược
48,514.1 10.2 46,597.9 11.7 56,644.3 11.8 15,545.8 12.5 16,371.4 12.8
Hàng công nghiệp 22,331.0 4.7 16,835.5 4.3 18,904.7 3.9 4,699.9 3.8 5,132.2 4.0
Thiết bị máy móc và vận tải 242,702.0 50.9 203,294.9 52.1 244,933.1 51.1 58,918.4 47.3 57,737.2 45.0
Sản phẩm công nghiệp khác 29,885.4 6.3 27,501.7 7.0 33,410.0 7.0 8,145.2 6.5 8,727.6 6.8
Sản phẩm khác 6,093.7 1.3 8,088.9 2.1 9,295.2 2.1 1,670.7 1.3 1,408.4 1.1
Nguồn: International Enterprise Singapore
Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu ở bảng 9, Singapore được biết đến là quốc gia có thế
mạnh về xuất khẩu các mặt hàng hoá: máy móc, thiết bị (bao gồm cả điện tử), hàng tiêu
dùng, dầu mỏ, dược phẩm và hóa chất khác, nhiên liệu khoáng sản. Mặc dù không có một
giọt trữ lượng dầu mỏ nào nhưng Singapore lại là nước xuất khẩu sản phẩm hóa dầu lớn
thứ 18 trên thế giới. Trong năm 2010, Singapore đã xuất khẩu 1.374 triệu thùng dầu
17,317.9 3.6 18,219.4 4.7 19,547.7 4.1
- Đài Loan
13,411.1 2.8 12,600.3 3.2 17,441.5 3.6
- Ấn Độ
16,834.6 3.5 13,429.3 3.4 18,101.4 3.8
- Hồng Kông
49,526.3 10.4 45,273.8 15.8 56,081.0 45.3
Châu Mỹ
54,029.5 11.3 43,910.5 11.2 49,943.9 10.4
16
- Hoa Kỳ
33,452.4 7.0 25,485.1 6.5 47,515.3 9.9
- Brazil
2,314.1 0.5 1,728.5 0.4 1,988.5 0.4
- Canada
2,763.5 0.6 3,563.6 0.9 1,981.5 0.4
Châu Âu
51,353.2 10.8 40,096.4 10.3 50,262.8 10.5
- EU
48,609.2 10.2 37,168.9 9.5 47,156.9 9.9
+ Đức
9,377.8 1.9 6,012.5 1.5 8,369.7 1.8
+ Pháp
5,845.7 1.2 5,155.4 1.3 7,530.6 1.6
+ Anh
9,284.2 2.0 7,167.5 1.8 8,333.6 1.7
+ Italy
895.4 0.1 630.0 0.1 932.1 0.2
- Thụy Sỹ
1,070.6 0.2 1,464.3 0.4 1,573.0 0.3
khẩu là vô cùng cần thiết đối với Singapore. Một mặt, nhập khẩu nông sản, thực phẩm
đảm bảo an ninh lương thực cũng như nhu cầu thụ trong nước. Mặt khác, nó đảm bảo
không những cho quá trình vận hành sản xuất mà tạo điều kiện phát triển dịch vụ nhờ vào
việc cung ứng máy móc, thiết bị vận tải, nguyên, nhiên vật liệu cần thiết và một số sản
phẩm khác.
Tổng kim ngạch nhập khẩu là 450,892.6 triệu đô la, gấp 1.68 lần GDP vào năm
2008. Đến năm 2010, con số này là 423,221.8 triệu đô là, gấp 1.39 lần GDP. Tổng kim
ngạch nhập khẩu giảm xuống vào năm 2009 và tăng trở lại vào 2010 nhưng không tăng
vượt qua giá trị năm 2008. Tốc độ tăng bình quân từ 2008 đến 2010 là 6.9%, riêng năm
2009 nhập khẩu giảm 21%. So với giai đoạn cùng kỳ năm 2010, quý I và quý II năm 2011
có quy mô nhập khẩu tăng, với tốc độ tăng lần lượt là 10.2% và 8.4%.
Cơ cấu hàng nhập khẩu được thể hiện thông qua bảng 11 và hình 3 dưới đây:
18
Bảng 11: Cơ cấu nhập khẩu giai đoạn từ 2008 đến quý 2 năm 2011
Đơn vị: triệu SNG
Năm
Mặt hàng
2008 2009 2010 Quý I, 2011 Quý II, 2011
Trị giá
Tỷ lệ
(%)
Trị giá
Tỷ lệ
(%)
Trị giá
Tỷ lệ
(%)
Trị giá
Tỷ lệ
(%)
Qua các năm từ 2008 đến 2010 và hai quý đầu năm 2011, nhìn chung cơ cấu mặt
hàng nhập khẩu của Singapore tương đối ổn định. Sự thay đổi tỷ trọng của các nhóm hàng
không lớn (nhỏ hơn 5%).
Căn cứ vào bảng số liệu và đồ thị, các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Singapore
vẫn là thiết bị máy móc và phương tiện vận tải (46.5% năm 2010) và dầu mỏ (27.3% năm
2010). Riêng đầu năm 2011, sự thay đổi đáng kể đến từ hai mặt hàng nhập khẩu chính của
Singapore là dầu mỏ và thiết bị máy móc, phương tiện vận tải. Cả hai quý đầu năm, sản
phẩm dầu mỏ đạt tỷ trọng cao và ổn định, cụ thể là 33.5% quý I và 33.1% quý II. Nhưng
mức độ tăng so với cùng kỳ năm 2010 lần lượt là 29.7% và 27.2%, chỉ bằng khoảng một
nửa tốc độ tăng trong quý I và quý II của năm 2010 (lần lượt là 52.4% và 48.1%). Trong
khi đó giá trị nhập khẩu thiết bị máy móc, phương tiện vận tải có xu hướng giảm nhẹ so
với cùng thời kỳ năm 2010 (quý I giảm 1.6% và quý II giảm 3.6%), so sánh với số liệu
năm 2010 (quý I là 16.5% và quý II là 17.2%).
Bảng 12: Cơ cấu thị trường nhập khẩu giai đoạn 2008 – 2010
Đơn vị: triệu SNG
Năm
Thị trường
2008 2009 2010
Trị giá Tỷ lệ (%) Trị giá Tỷ lệ (%) Trị giá Tỷ lệ (%)
Kim ngạch
Nhập khẩu
450,892.6 100.0 356,299.2 100.0 423,221.8 100.0
Châu Á
311,896.8 69.2 236,094.1 66.3 290,501.7 68.6
- Các nước khác
trong ASEAN
105,286.1 23.4 85,426.2 24.0 101,542.3 24.0
- Trung Quốc
47,594.6 10.6 37,585.3 10.5 45,844.3 10.8
- Nhật Bản
- Thụy Sỹ
3,642.5 0.8 3,584.5 1.0 6,181.3 1.5
Châu Đại
Dương
7,714.8 1.7 6,858.7 1.9 5,597.1 1.3
- Australia
6,459.0 1.4 5,803.7 1.6 4,710.6 1.1
- New Zealand
1,093.6 0.2 833.4 0.2 783.9 0.2
Châu Phi
1,741.1 0.4 1,402.5 0.4 1,487.6 0.4
Nguồn: International Enterprise Singapore
Hình 4: Biểu đồ cơ cấu thị trường nhập khẩu của Singapore từ năm 2008 – 2010
Biểu đồ cơ cấu thị trường nhập khẩu từ năm 2008 đến 2010 cho biết tỷ trọng nhập
khẩu của các thị trường vào Singapore nhìn chung không có biến động lớn và tương đối
ổn định về thứ tự. Do đó có thể sử dụng số liệu của một năm để xác định các thị trường
nhập khẩu chính cho cả giai đoạn. Theo số liệu thống kê năm 2010, Singapore chủ yếu
nhập khẩu từ các quốc gia châu Á (68.6%). Đứng tại vị trí tiếp theo là nhóm các nước
châu Âu (14.1%) và châu Mỹ (14.1%). Trong số đó, nhập khẩu từ các thành viên khác
trong ASEAN chiếm tỷ trọng cao nhất (24.0%), sau đó là EU (12.3%), Hoa Kỳ (11.2%)
và Trung Quốc (10.8%). Đối với thị trường châu Đại Dương và châu Phi thì tỷ trọng của
hai thị trường này tương đối nhỏ (lần lượt là 1.3% và 0.4%).
Quy mô và tỷ trọng nhập khẩu từ các quốc gia châu Đại Dương có xu hướng giảm
trong khi từ các quốc gia châu Phi ổn định tại mức 0.4% qua cả ba năm.
Quy mô nhập khẩu từ các thị trường đều biến động theo xu hướng giảm vào năm
2009 và tăng dần vào năm 2010. Riêng đối với châu Đại Dương thì quy mô giảm dần qua
cả ba năm.
21
Năm 2010, nhóm 10 đối tác nhập khẩu chủ yếu của Singapore là EU27 (13.1%),
Malaysia (12.4%), Hoa Kỳ (12,2%), Trung Quốc (11.5%), Nhật Bản (8.4%), Hàn Quốc
không nằm ngoài luồng đó. Hoạt động ngoại thương nói riêng và cả nền kinh tế Singapore
đều bị ảnh hưởng nhất định. Nhưng với những lỗ lực và giải pháp hợp lý đã nhanh chóng
đưa nên kinh tế phục hồi và đạt tốc độ tăng trưởng thần kì 13,9% vào năm 2010.
Đề tài “ Tình hình xuất nhập khẩu của Singapore trong giai đoạn từ năm 2005 đến
nay” hi vọng sẽ đem đến cái nhìn tổng quát nhất về tình hình xuất nhập khẩu của
Singapore trong giai đoạn này.
23
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Kinh tế ngoại thương của GS.TS Bùi Xuân Lưu và PGS.TS
Nguyễn Hữu Khải_ NXB Lao Động – Xã Hội
2. http://www.indexmundi.com/singapore/gdp_real_growth_rate.html
3. http://app.mti.gov.sg/default.asp?id=148&articleID=25561
4. http://www.iesingapore.gov.sg/wps/portal
5. http://www.guidemesingapore.com/relocation/introduction/singapores-
economy
6. http://www.baomoi.com
7. http://www.tinkinhte.com
8. http://vneconomy.vn/62708P0C99/xuat-khau-cua-singapore-trien-vong-kha-
quan.htm
9. http://cafef.vn/20111017090151338CA32/xuat-khau-cua-singapore-sut-
giam-manh.chn
10.http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_Singapore
11.http://en.wikipedia.org/wiki/Economy_of_Singapore
12.http://www.indexmundi.com/singapore/gdp_real_growth_rate.html
24