MỘT số PHƯƠNG PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG nói - Pdf 10

MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nhật Bản và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay đã được 36
năm. Trong suốt thời gian qua, quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai nước không
ngừng phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực. Đặc biệt những năm gần đây
Nhật Bản đã trở thành một trong những nước đầu tư vào Việt Nam nhiều nhất với
nguồn vốn ODA khổng lồ. Các doanh nghiệp Nhật Bản liên tiếp tìm kiếm cơ hội
đầu tư tại Việt Nam. Chính vì vậy nhu cầu học tiếng Nhật để phục vụ cho công việc
của người Việt Nam đang là một vấn đề cấp bách.
Trong những năm qua, số người học tiếng Nhật ở Việt Nam tăng lên vượt
bậc, số người đật chứng chỉ năng lực tiếng Nhật cấp 1, cấp 2 cũng tăng lên đáng kể.
Tuy nhiên, với đặc điểm loại hình khác với tiếng Việt, tiếng Nhật là một ngoại ngữ
rất khó, và để nói tiếng Nhật thành thạo trong công việc là một điều không hề đơn
giản chút nào.
Một thực tế là sinh viên chỉ bắt đầu làm quen với tiếng Nhật khi bắt đầu
bước chân vào trường đại học. Chính vì thế việc yêu cầu sinh viên sau khi ra trường
có thể sử dụng thành thạo ngay như một số ngoại ngữ khác như tiếng Anh, tiếng
Pháp là rất khó. Để sinh viên sau khi ra trường có thể dùng tốt tiếng Nhật trong
công việc đòi hỏi nhiều thời gian và công phu hơn nữa. Đặc biệt, với những sinh
viên năm thứ nhất thì việc nói chuyện bằng tiếng Nhật là một điều khá xa xỉ, chỉ có
ở trên lớp. Nguyên nhân là do mới được làm quen với tiếng Nhật, vốn từ vựng còn
hạn chế, kiến thức về ngữ pháp, hiểu biết về văn hóa Nhật Bản chưa nhiều.
Với kinh nghiệm giảng dạy suốt 4 năm qua, tôi nhận thấy khả năng nói của
sinh viên chuyên ngành tiếng Nhật thường kém hơn so với những khả năng còn lại,
sinh viên còn rụt rè khi nói tiếng Nhật. Xét về trật tự các thành phần trong câu, trật
tự từ trong câu tiếng Nhật thường ngược so với tiếng Việt, thêm vào đó do ảnh
hưởng của tiếng mẹ để nên nhiều sinh viên hay nhầm lẫn khi sử dụng các từ gốc
Hán. Mặt khác, do sự khác nhau về văn hóa nên một số cách diễn đạt trong tiếng
Nhật không giống cách diễn đạt đó trong tiếng Việt…Những nguyên nhân này đã
khiến sinh viên không tự tin khi nói tiếng Nhật, dẫn đến khả năng nói tiếng Nhật
chưa tốt.

ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Khả năng nói (trình bày vấn đề) là rất quan trọng không chỉ trong công tác
dạy và học ngoại ngữ mà còn rất quan trọng đối với bất cứ ai, ở bất cứ công
việc gì. Ở Việt Nam hầu như chưa có nhiều tài liệu đề cập đến vấn đề nâng
cao khả năng nói tiếng Nhật. Đề tài này hy vọng có thể góp phần nâng cao
khả năng nói tiếng Nhật không chỉ của sinh viên năm thứ nhất mà của các
năm khác, nhằm phục vụ tốt cho công việc sau khi ra trường.
- Giúp sinh viên tự nhìn nhận lại những vấn đề cản trở khi nói tiếng Nhật mà
chính các em đang mắc phải. Từ đó chọn cho mình một phương pháp luyện
tập phù hợp nhất để có thể phát huy tốt hơn khả năng của mình.
- Giúp các giáo viên có thể tham khảo tìm ra một số hình thức luyện tập phù
hợp để rèn luyện không chỉ kỹ năng nói mà cả những kỹ năng khác.
CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Đề tài gồm có 3 phần như sau:
PHẦN MỞ ĐẦU
2
Gồm những thông tin khái quát về đề tài như Lý do và mục đích nghiên cứu, đối
tượng và nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài, cấu
trúc đề tài.
PHẦN CHÍNH VĂN
Gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề về lý luận
Chương 2: Tìm hiểu tình hình dạy và học môn “Nói” của sinh viên năm thứ nhất,
chuyên ngành tiếng Nhật, ĐHNN- ĐHQGHN.
Chương 3: Đề xuất một số phương pháp nâng cao khả năng nói của sinh viên năm
thứ nhất.
PHẦN KẾT LUẬN
3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN
1.Định nghĩa quá trình “Nói” trong hành vi ngôn ngữ

cách tương đối giữa nội dung mình muốn nói và nội dung mình có thể nói được
bằng ngôn ngữ đó, tức là sẽ có khoảng cách giữa quá trình

với quá trình



.
Mục tiêu của nghiên cứu này là đề xuất ra một số phương pháp nâng cao
khả năng hội thoại cho sinh viên năm thứ nhất, hay nói cách khác là sẽ tìm ra một
số phương pháp giúp giảm thiểu khoảng cách giữa quá trình

với quá trình



trong khi thực hiện hành vi “Nói” của sinh viên.
2. Đặc điểm quá trình giao tiếp giữa người nói và người nghe.
Thông thường khi thực hiện hành vi “Nói” sẽ phải có hai bên tham gia vào
quá trình giao tiếp, đó là người nói và người nghe. Hay nói cách khác, hành vi
“Nói” có vai trò thực hiện việc giao tiếp giữa người nói và người nghe. Vậy quá
trình giao tiếp giữa người nói và người nghe mang những đặc điểm gì?
Trước khi bắt đầu tiến hành hội thoại với một ai đó, tức là trước khi thực hiện hành
vi “Nói” chúng ta phải suy nghĩ xem mình cần nói nội dung gì với người nghe, và
nói để làm gì. Như vậy, để thực hiện quá trình giao tiếp, trước hết cần có mục đích
giao tiếp. Đây chính là động cơ giúp chúng ta có thể bắt đầu một hành vi “Nói” hay
một cuộc giao tiếp.
Ngoài ra, trong quá trình giao tiếp, nhất thiết sẽ xảy ra các câu hỏi và câu
trả lời về một vấn đề nào đó. Cụ thể, người nói sẽ hỏi người nghe những thông tin
mà người đó chưa biết và người nghe sẽ trả lời. Như vậy hành động giao tiếp sẽ

lực liên quan đến năng lực sử dụng ngôn ngữ, ví dụ như nói với ai, nói như thế nào,
nói vào lúc nào…gọi là “năng lực giao tiếp”. Sau đó, tác giả Canal (1983) đã phân
chia năng lực thành 4 kỹ năng cụ thể gồm có “năng lực ngữ pháp”, “ năng lực ngôn
ngữ xã hội”, “năng lực đàm thoại”, “ năng lực chiến lược”.
3.1 Năng lực ngữ pháp
Năng lực ngữ pháp là những kiến thức liên quan đến kiến thức ngữ pháp như các
quy tắc ngữ pháp, từ vựng, phát âm, cách viết…Năng lực ngữ pháp vốn rất được
chú trọng trong việc giáo dục ngoại ngữ từ trước đến nay.
3.2 Năng lực ngôn ngữ xã hội
Khi sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt là khi sử dụng ngoại ngữ, chỉ có kiến thức về ngữ
pháp thôi thì chưa đủ. Một điều rất quan trọng trong khi sử dụng ngôn ngữ đó là khi
muốn “nói gì, với ai, trong trường hợp như thế nào, dùng những cách diễn đạt ra
sao…” cần phỉ chú ý đến những quy tắc vốn có về mặt xã hội và văn hóa của đất
nước đang nói thứ ngôn ngữ đó. Việc đảm bảo các quy tắc đó trong khi sử dụng
ngôn ngữ được gọi là “năng lực ngôn ngữ xã hội”. Năng lực ngôn ngữ xã hội là một
trong những yếu tố đảm bảo cho quá trình giao tiếp diễn ra suôn sẻ.
Hãy xem ví dụ sau đây:
場面:大教の教究室で
(Tại phòng nghiên cứu của giáo sư tại trường đại học)
教生:「先生、先生の論文、見ましたよ。すばらしいですね。すごいです
ね」
Sinh viên: “Thầy giáo ơi, em đã xem Luận văn của thầy. thật là hay, tuyệt thật
6
đấy”.
先生:「...」
Thầy giáo: “……………………”
Trong đoan hội thoại trên, sinh viên khen Luận văn của thầy giáo
「すごい
ですね」
. Người Nhật không bao giờ thể hiện sự đánh giá của mình đối với những

7
B:
あ、そうですか。いいですよ。
Thế à, ừ, được thôi.
A:
忙しいところ、すみません。
Xin lỗi đã làm phiền trong lúc anh đang bận rộn thế này.
B:
いいえ。
Không có gì.
Có thể thấy rằng cả hai đoạn hội thoại trên đều có cùng một mục đích là A muốn B
cho phép về sớm. Tuy nhiên đoạn hội thoại ở ví dụ 2 tự nhiên hơn. Nguyên nhân là
vì đoạn hội thoại trong ví dụ B có đầy đủ 3 phần của một hội thoại hoàn chỉnh, đó
là “phần mở đầu”, “phần chính”, và “phần kết luận”. Cụ thể như sau:
A:
あのう、すみません。
B:
どうしたんですか。

Phần mở đầu
A:
教は、午後、用事がありますので、今日は早く教らせていただけません
か。
B:
あ、そうですか。いいですよ。

Phần nội dung chính
A:
忙しいところ、すみません。
B:

Mặt khác, hành vi “nói” sẽ gây ấn tượng rất sâu đậm đối với người nghe.
Nếu nói một cách trôi chảy, thích hợp với hoàn cảnh sẽ tạo ấn tượng rất tốt đối với
người nghe, thậm chí có giúp ích rất nhiều trong quá trình giao tiếp, cộng tác sau
này. Còn ngược lại nếu có những lời nói không thích hợp với hoàn cảnh (kể cả
không cố tình), hoặc nói không trôi chảy sẽ gây ấn tượng xấu, ảnh hưởng xấu đến
quá trình giao tiếp, thậm chí là ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa người với người.
Tùy vào mục đích nói và kỹ năng yêu cầu khi thực hiện mục đích nói mà hành vi
“nói” được chia thành hai loại như sau:
* Đối thoại (Dialogue)
Đây là hành vi nói mà trong quá trình giao tiếp, người tham gia giao tiếp
hoán đổi liên tục giữa vai trò của người nói và người nghe. Để thực hiện loại hành
vi giao tiếp này thì ngoài kỹ năng “nói” cần thiết phải có kỹ năng “nghe” những
điều đối phương đang nói để có sự đối đáp cho phù hợp. Hình thức giao tiếp này có
thể đưa đến những hội thoại đầy tính sáng tạo và có nội dung triển khai phong phú
tùy vào sự ứng đáp của những người tham gia. Có thể chia thành hai loại chủ yếu
như sau:
+ Nghị luận, thảo luận: Hai bên cùng đưa ra căn cứ, ý kiến để tranh luận về
một vấn đề nào đó.
+Hội thoại theo kỹ năng: Nhằm đạt được ý đồ giao tiếp của người nói. Hội
thoại được xây dựng dựa trên cơ sở những mục đích định trước như nhờ vả, cảm
ơn, xin lỗi, xin phép…Trong phạm vi của trình độ sơ cấp thì chủ yếu tập trung hội
thoại theo kỹ năng này. Cụ thể, cần cho sinh viên luyện tập hội thoại theo từng nội
dung cho sẵn như nhờ vả, cảm ơn, xin lỗi, xin phép…hoặc luyện tập những hội
9
thoại nhỏ để có thể dùng thành thục những mẫu câu đã học.
* Độc thoại (Monologue)
Đây là hành vi giao tiếp được thực hiện dưới hình thức một người nói còn
những người khác nghe. Như vậy người nói sẽ thực hiện được hành vi nói từ đầu
đến cuối quá trình giao tiếp, có thể kiểm soát hoàn toàn nội dung mình sẽ nói, và
không có sự hoán đổi vai trò giữa người nói và người nghe. Chính vì vậy người nói

đối phương muốn truyền tải tới mình.
6. Vai trò của kỹ năng “nói” trong việc dạy và học ngoại ngữ.
10
Bốn kỹ năng quan trọng trong giảng dạy và học tập bộ môn ngoại ngữ là
“nghe”, “nói”, “đọc”, “viết”. Trong đó kỹ năng “nói” có vai trò hết sức quan trọng.
Chúng ta đều biết việc học ngoại ngữ là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải có sự
luyện tập thường xuyên và liên tục. Trong đó kỹ năng “nói” giúp người học có thể
thực hành được những kiến thức về từ vựng, về mẫu câu được học từ các kỹ năng
khác, để vận dụng từng bước, khiến người học có thể tiến hành giao tiếp bằng ngoại
ngữ mà mình được học với những người khác cùng biết ngoại ngữ đó, hoặc với
người bản xứ, giúp chúng ta đạt được các hiệu quả giao tiếp như mong muốn trong
cuộc sống hàng ngày cũng như trong công việc. Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hóa
như hiện nay, giao tiếp bằng ngoại ngữ là một kỹ năng không thể thiếu của con
người hiện đại.
Với sinh viên ở trình độ sơ cấp, những kiến thức học được còn hạn chế về
nhiều mặt, thì kỹ năng “nói” yêu cầu người học phải vận dụng được những kiến
thức đã học để giao tiếp ở mức độ sơ cấp. Thực tế là có rất nhiều sinh viên ngoại
ngữ, mặc dù rất giỏi các kiến thức về ngữ pháp, đọc, viết nhưng lại rất kém và thiếu
tự tin khi giao tiếp chỉ vì không áp dụng được các kiến thức ngoại ngữ đã được học
trong khi giao tiếp. Việc nói được những mẫu câu đã học là một điều tưởng chừng
như đơn giản song trên thực tế lại không đơn giản chút nào.

11
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP
MÔN “NÓI” CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT
CHUYÊN NGÀNH TIẾNG NHẬT ĐHNN-ĐHQGHN
1. Thực trạng việc giảng dạy hội thoại cho sinh viên năm thứ nhất chuyên
ngành tiếng Nhật.
Hiện nay, sinh viên năm thứ nhất chuyên ngành tiếng Nhật được chia thành
5 lớp, học chương trình được chỉ định như nhau. Tiến hành phỏng vấn các giáo viên

đại học Ngoại ngữ Tokyo biên soạn. Thời lượng các giờ học tiếng Nhật trong 1 tuần
như trong bảng dưới đây.
Môn học Số tiết
Tiếng Nhật tổng hợp 11
Nói 2
Bổ trợ nói 1
Nghe 2
Chữ Hán 1
Trong đó, giờ học Hội thoại sẽ được tiến hành sau khi sinh viên đã học xong nội
dung của cả bài (ngữ pháp, luyện tập…). Thêm vào đó giờ Bổ trợ nói sẽ do giáo
viên bản ngữ đảm nhiệm nhằm giúp sinh viên có cơ hội nghe và nói tiếng Nhật với
người bản ngữ, và có cơ hội luyện phát âm tốt hơn. Tuy nhiên trong giờ học Hội
thoại thì tập trung chủ yếu vào việc học và luyện tập đoạn hội thoại mẫu trong sách
Kaiwa. Những hội thoại mẫu trong mỗi bài sẽ chứa các mẫu câu học trong bài đó
nên đôi khi bối cảnh còn chưa tự nhiên, chưa thật gần gũi và chưa gây được hứng
thú cho sinh viên.
2. Điều tra khả năng Nói tiếng Nhật của sinh viên năm thứ nhất
Tiến hành điều tra sinh viên năm thứ nhất của trường có thể rút ra một số nhận xét
như sau:
- Sau khi tham khảo bảng điểm các môn tiếng Nhật tổng hợp có thể thấy điểm kỹ
năng Nói luôn thấp hơn so với các kỹ năng khác. Đây cũng là một điều dễ hiểu vì
trong quá trình học ngoại ngữ thì khả năng Nói và Viết vào nhóm kiến thức đầu ra
(output), và sự tiến triển của kỹ năng này luôn đi sau các kỹ năng đầu vào như Đọc
và Nghe.
- Tự tin trong kỹ năng Hội thoại: Đặc thù của sinh viên các trường Ngoại ngữ nói
chung là thích giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp với người bản xứ của thứ ngôn ngữ mà
mình đag theo đuổi. Tuy nhiên sinh viên tiếng Nhật thì hơi khác các sinh viên các
13
khoa khác. Nếu như sinh viên chuyên ngành tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung
Quốc, tiếng Pháp… thì trước khi vào đại học đã được học ngoại ngữ một số năm,

hứng, chưa chuyên nghiệp, nên khả năng đạt giải cao chưa nhiều.
+ Khả năng hội thoại: Mặc dù đã được học một số mẫu câu thực dụng trong sinh
hoạt hàng ngày như cảm ơn, nhờ vả, xin phép, xin lỗi, từ chối… nhưng sinh viên
mới chỉ dừng ở mức nghe hiểu mà chưa biết vận dụng vào hội thoại, chưa vận dụng
một cách nhuần nhuyễn trong khi nói chuyện với người Nhật. Những mẫu câu vừa
học xong cớ thể dùng được ngay trong bài đó nhưng khi học sang một nội dung
14
khác thì lại quên những mẫu đã học hoặc dùng không chính xác. Sau mỗi mẫu câu,
sinh viên có thời gian để luyện tập mẫu câu đó song việc luyện tập đó xem ra chỉ đủ
thời gian cho các em hiểu, nhớ mẫu câu là chính chứ chưa giúp sinh viên thực sự
thấm nhuần để vận dụng vào các tình huống trong thực tế. Đặc biệt, sinh viên chưa
hình dung được cấu trúc của một đoạn hội thoại có hàm chứa các nội dung như cảm
ơn, nhờ vả, xin phép, xin lỗi, từ chối. Chính vì vậy, khi có việc cần trao đổi với
người Nhật hoặc giáo viên người Nhật trong thực tế thì hầu hết sinh viên rất lúng
túng không biết bắt đầu từ đâu hay nói cách khác là không biết đặt vấn đề khi tiến
hành hội thoại. Lại càng không biết cách làm thế nào để thể hiện một cách thuyết
phục nội dung mình muốn nói, nhằm đạt mục đích giao tiếp.
Việc thiếu cơ hội luyện tập và thiếu các hình thức luyện tập hiệu quả có thể coi là
nguyên nhân lớn nhất dẫn đến tình trạng sinh viên thiếu tự tin trong khi nói tiếng
Nhật và khả năng nói tiếng Nhật chưa cao. Để khắc phục tình trạng này, cải thiện
khả năng nói tiếng Nhật của sinh viên năm thứ nhất nói riêng và sinh viên chuyên
ngành tiếng Nhật nói chung ngày càng tốt hơn, trong chương 3 tiếp sau đây, tác giả
đưa ra một số phương pháp luyện tập được cho là có hiệu quả trong việc nâng cao
khả năng nói tiếng Nhật.
15
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP LUYỆN
TẬP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG NÓI CỦA SINH VIÊN
NĂM THỨ NHẤT CHUYÊN NGÀNH TIẾNG NHẬT.
Trong chương này, tác giả xin đề cập đến một số phương pháp luyện tập
được cho là có hiệu quả trong việc nâng cao khả năng nói của sinh viên năm thứ

học trên lớp)
- Có thể điều chỉnh dễ dàng nội dung đề phù hợp với mọi trình độ của người
học, từ trình độ sơ cấp đến trình độ trung cấp và cao cấp.
Khi lập giáo án, kế hoạch cho các hoạt động luyện tập này, giáo viên cần lưu ý đến
những vấn đề mấu chốt như sau:
*Trình độ của người học (sơ cấp, trung cấp, cao cấp)
*Những chủ đề hợp với nhu cầu, sở thích, sự quan tâm của người học
*Quá trình thực hiện hành vi “Nói” (đã nêu ở chương 1)
- Suy nghĩ nội dung muốn nói là gì
- Suy nghĩ xem sẽ thể hiện nội dung đó như thế nào
- Thực hiện hành vi “Nói”
*Những yếu tố cần thiết để thực hiện giao tiếp một cách tự nhiên, hiệu quả
- Mục đích giao tiếp
- Khoảng cách thông tin
- Quyền lựa chọn
- Phản ứng
*Năng lực cần thiết trong quá trình giao tiếp
- Năng lực ngữ pháp
- Năng lực ngôn ngữ xã hội
-Năng lực nói chuyện
Năng lực chiến lược (xử lý tình huống)
Đối với sinh viên năm thứ nhất, vốn từ vựng và ngữ pháp còn hạn chế, giáo
viên cần lựa chọn xem hình thức luyện tập nào phù hợp với loại mẫu câu nào, loại
mẫu câu nào dùng trong hội thoại như thế nào để xây dựng hoạt động luyện tập một
cách phù hợp và hiệu quả nhất.
1. Phỏng vấn (Interview)
1.1 Đặc điểm của hoạt động phỏng vấn
Phỏng vấn là hình thức người muốn có thông tin hỏi một người khác mà mình cho
rằng người đó có thể cung cấp cho mình thông tin mình muốn biết. Ví dụ như
phỏng vấn một người nào đó để viết bài báo về người đó, hay hỏi người khác những

độ sơ cấp (sinh viên năm thứ nhất), kinh nghiệm cho thấy sinh viên thường có hứng
thú với những chủ đề gần gũi với cuộc sống thường ngày như thời gian/ phương
thức đi làm/ đi học hàng ngày, cách đổ rác/ phân loại rác, một ngày của bạn, ngày
cuối tuần, thành phố nơi bạn ở…
Chọn được một chủ đề phỏng vấn phù hợp với quan tâm và sở thích của tất
cả sinh viên là điều rất lý tưởng nhưng trong thực tế không phải lúc nào cũng thực
hiện được điều này. Trong những trường hợp như vậy thì giáo viên cần phải làm thế
nào cho sinh viên cảm thấy có hứng thú và quan tâm đến chủ đề mình sắp đưa ra.
Hoạt động đó gọi là “khơi gợi cảm hứng” cho sinh viên. Hoạt động này không chỉ
giúp sinh viên có hứng thú hơn với hoạt động phỏng vấn ngay sau đó mà con giúp
18
sinh viên nhớ lại, vận dụng những kiến thức nền mà mình đã biết liên quan đến chủ
đề/ lĩnh vực đó.
Mặt khác hoạt động phỏng vấn còn giúp rèn luyện một số kỹ năng cần thiết
trong qua trình giao tiếp như kỹ năng nói chuyện, kỹ năng chiến lược (xử lý tình
huống).
- Năng lực đàm thoại: Để thực hiện được hoạt động phỏng vấn, sinh viên phải có
kỹ năng nói chuyện tối thiểu như biết cách mở đầu, kết thúc phỏng vấn, chuyển
sang câu hỏi khác, nói từ đệm… Có thể nêu ra ví dụ cụ thể như sau:
Một số cách diễn đạt trong khi phỏng vấn
あのう、すみません、~について聞きたいんですが →
開始部
Xin lỗi, tôi muốn hỏi về vấn đề…………

Phần mở đầu
ありがとうございました →
終了部
Xin cám ơn rất nhiều

Phần kết thúc

- Phản hồi từ phía giáo viên
1.3 Đánh giá hoạt động phỏng vấn
1.3.1 Đánh giá vào thời điểm nào?
Việc đánh giá hoạt động phỏng vấn sẽ được tiến hành khi các phía tham gia hội
thoại kết thúc hoạt động phỏng vấn. Có thể đánh giá kết quả phỏng vấn theo hai
cách: Một là đánh giá nội dung, cách diễn đạt phỏng vấn. hai là đánh giá kết quả đạt
được thông qua phỏng vấn. Cách đánh giá nội dung, diễn đạt trong phỏng vấn cũng
tương tự như cách đánh giá cách hùng biện.
1.3.2 Đánh giá những nội dung gì?
Điều quan trọng nhất cần đánh giá là có đạt được mục đích giao tiếp (mục đích đặt
ra trước khi phỏng vấn) hay không. Cụ thể có thể đánh giá những mục sau:
- Nội dung phỏng vấn: Thông thường, ở trình độ sơ cấp thì nội dung phỏng vấn
thường do giáo viên chỉ định. Tuy nhiên trong những trường hợp cho sinh viên tự
quyết định nội dung phỏng vấn thì giáo viên có thể đánh giá xem nội dung phỏng
vấn đó có thú vị hay không, có giúp người phỏng vấn có thêm nhiều thông tin mới
hay không.
- Cấu trúc: Cách đặt vấn đề, đặt câu hỏi, chuyển sang câu hỏi tiếp theo, kết thúc
phỏng vấn…
- Năng lực diễn đạt: Có lỗi sai về mặt từ vựng hay ngữ pháp… hay không.
- Có sự phản ứng qua lại giữa người nói và người nghe hay không: có chú ý đến
phản ứng của người nghe hay không, có thay đổi cách diễn đạt của mình đề phù
hợp với phản ứng của người nghe hay không.
1.3.3 Đánh giá như thế nào?
Giáo viên có thể phát những tờ đánh giá cho học sinh để đánh giá cho hoạt động
phỏng vấn của các nhóm khác. Bản thân giáo viên cũng không thể theo dõi hết. Nên
trong trường hợp cần thiết hoặc có điều kiện thì có thể dùng phương pháp ghi âm,
ghi hình rồi đánh giá cho thật chính xác.

2. Hùng biện (speech)
2.1 Những đặc trưng cơ bản của hoạt động hùng biện.

tiếp theo.
Vậy, thông qua hình thức tập hùng biện có thể luyện tập cho sinh viên những kỹ
năng nào cần thiết trong việc nâng cao khả năng “Nói”?
* Năng lực đàm thoại
Thông qua việc luyện tập hùng biện, sinh viên được luyện tập khả năng nói tiếng
Nhật trước đông người, đồng thời được làm quen với cách triển khai một bài biết
dài, mang nội dung nhất quán, gồm những phần như sau:
- Bắt đầu bài hùng biện
- Nói về các sự kiện, các vấn đề một cách tuần tự, nêu lên vấn đề
- Cách giải quyết các vấn đề
- Cảm nghĩ của bản thân đối với các sự kiện/ vấn đề đó
- Kết thúc bài hùng biện
* Năng lực chiến lược (năng lực xử lý tình huống)
Một bài hùng biện thường kéo dài một vài phút, với tốc độ nói trung bình khoảng
250 chữ trên 1 phút. Chính vì vậy trong suốt quá trình hùng biện sẽ có thể xảy ra
21
trường hợp người nghe mất tập trung với bài hùng biện của mình, hoặc mình không
tìm được từ ngữ thích hợp để diễn tả tình huống. Để giải quyết những vấn đề này
đòi hỏi sinh viên cần có năng lực xử lý tình huống.
Cụ thể khi bắt đầu bài hùng biện bạn cần lôi kéo sự chú ý của người nghe, hay nói
cách khác là ban cần có tín hiệu thông báo với người nghe rằng sau đây tôi xin bắt
đầu hùng biện, trong trường hợp này, thường dùng những từ như
え教と、えっ、
あのう

Còn trong quá trình hùng biện, nếu không tìm ra ngay cách diễn đạt thích hợp,
muốn người nghe thông cảm, cho mình thêm thời gian để suy nghĩ thì bạn có thể
dùng một số từ đệm như
あのう、えっ、その、まあ
…Những từ đệm như thế này

mạnh những chỗ cần thiết, giúp người nghe dễ theo dõi và không bị mất tập trung.
Thông thường người hùng biện sẽ hay nói nhanh hơn bình thường do bị căng thẳng
hoặc mất bình tĩnh trước đám đông. Điều này là không nên vì khi nói quá nhanh sẽ
khiến cho bài hùng biện không được diễn cảm. Đấy là chưa kế đến việc chúng ta
đang nói tiếng nước ngoài nên việc nói quá nhanh dễ gây ra việc phát âm không
chính xác.
Nhấn mạnh những chỗ quan trọng: Thử
tưởng tượng nếu một bài hùng biện mà từ
đầu đến cuối người nói hùng biện bằng một
giọng điệu đều nhau thì chắc chắn người
nghe sẽ có cảm giác buồn chán, không thú
vị, dễ trở nên mất tập trung. Để lôi cuốn sự
chú ý của người nghe thì người nói cần đánh
dấu những chỗ cần quan trọng, để thực hiện
lên giọng, xuống giọng, kéo dài… nhằm tạo ấn tượng, diễn cảm…Những chỗ cần
nhấn mạnh trong một bài hùng biện thường là trợ từ đi sau chủ đề, chủ ngữ (trợ từ
wa), sau các trợ từ trong câu, sau các từ trọng điểm (keyword)…
- Cách thể hiện bài hùng biện: Phải nói
bằng tất cả tình cảm của mình chứ
không phải là đọc.
- Có tính hài hước: Đây là yếu tố rất
quan trọng làm nên một bài hùng biện
hay, dành được cảm tình của người
nghe.
- Điệu bộ, cử chỉ: Khi nói phải hướng ánh nhìn của mình xuống phía người nghe và
luôn giữ một khuôn mặt tươi cười, thân thiện
- Có thể dùng một số phương tiện hỗ trợ khác để cho bài hùng biện thêm sinh động
và gây ấn tượng như sơ đồ, hình vẽ minh họa, trình chiếu slides, ảnh, băng video…
2.3. Các bước chuẩn bị cho một
bài hùng biện:

* Sắp xếp thời gian trên lớp cho hoạt động hùng biện
Hiện tại một lớp tiếng Nhật có khoảng 20-25 sinh viên. Không ít giáo viên
đã rất trăn trở khi không thể sắp xếp đủ thời gian để tổ chức hoạt động hùng biện
cho sinh viên trên lớp, vì thời gian của tiết học không cho phép. Hơn nữa cũng
không có giờ học nào riêng cho kỹ năng hùng biện.
Thật ra, tùy theo thời gian trên lớp và số lượng sinh viên có thể tiến hành hoạt động
hùng biện trên lớp theo hai cách
Cách 1: Tất cả sinh viên cùng hùng biện trong một buổi (mỗi người từ 1-2 phút).
24
Cách này có thể áp dụng cho những lớp học không quá động sinh viên, và với
những bài hùng biện không quá dài.
Cách 2: Mỗi buổi học gọi một vài sinh viên (mỗi người từ 4-5 phút). Cách này có
thể áp dụng trong trường hợp lớp học đông sinh viên hoặc nội dung của bài hùng
biện khá dài.
* Chuẩn bị và luyện tập hùng biện
Vì thời gian trên lớp bị hạn chế nên thao tác viết phác thảo nội dung hùng
biện sẽ do từng cá nhân chuẩn bị trước ở nhà. Nhưng công việc “Gợi nguồn cảm
hứng” cho sinh viên và những câu hỏi mang tính chất gợi ý để sinh viên có thể đưa
ra ý kiến, cảm nghĩ của mình thì sẽ cùng nhau tiến hành trên lớp.
Thao tác chuẩn bị phát biểu sẽ khác nhau tùy theo từng trình độ. Cụ thể, ở
trình độ sơ cấp khi mà vốn từ và ngữ pháp còn chưa nhiều thì sinh viên sẽ viết toàn
bộ nội dung phác thảo và kiểm tra lại thật kỹ trước khi hùng biện. Đến trình độ
trung cấp thì chỉ cần viết những ý chính (outlines) ra trước khi hùng biện. Còn đến
trình độ cao cấp thì có khi chỉ cần nghĩ ra ý tưởng trong đầu cũng có thể hùng biện
được.
Với thao tác viết toàn bộ nội dung phác thảo hay được áp dụng ở trình độ sơ cấp thì
có ưu điểm và nhược điểm như sau:
Ưu điểm: Có đầy đủ thời gian để suy nghĩ về cách diễn đạt, cấu trúc bài,
nội dung nên sẽ hạn chế tối đa lỗi sai, trở thành bài hùng biện dễ hiểu, có tính
thuyết phục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status