I HC QUC GIA
TRNG I HC NGOI NG
=========
TI NGHIấN CU KHOA HC
CP I HC QUC GIA
NM HC 2008 - 2009
Mó s: QN.08.12
Chuyờn ngnh: Phng Phỏp Ging Dy
NGHIấN CU KHO ST MễN HC PHT
M CHO SINH VIấN NM TH 1, KHOA S
PHM TING ANH, HNN-HQG H Ni
Chủ nhiệm đề tài: Thạc sỹ Khoa Anh Việt
Cộng sự: Cấn Thị Chang Duyên, Nguyễn Hồng Diệu,
Nguyễn Thị Diệu Hà, Lu Ngọc Ly, Nguyễn Trần Ngọc
Liên, Trần Thu Hà, Nguyễn Phơng Trà, Hoàng Thị
Huyền Ngọc
H Ni 2010
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Để có thể giao tiếp nói bằng một ngôn ngữ nước ngoài theo cách giống như một người bản
ngữ, người học thứ tiếng ấy phải đạt được một mức nhất định về độ chính xác (accuracy) và
độ trôi chảy (fluency). Một số yếu tố khác như sự linh hoạt, âm vực và kích cỡ (âm lượng và
độ dài) của lời nói cũng được cho là có ảnh hưởng đến khả năng nói của người học (Hedge,
2000), tuy nhiên độ chính xác và độ trôi chảy vẫn được quan tâm hơn cả vì dường như hai yếu
tố này nổi lên bề mặt phía trên dễ nhận thấy nhất đối với người tham gia giao tiếp. Nhưng
trong suốt quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ nói chung và việc dạy và học ngôn ngữ nói
riêng, một vấn đề vẫn gây nhiều tranh cãi là yếu tố nào trong số hai yếu tố trên nên quan trọng
hơn và được ưu tiên hơn. Xu hướng thiên lệch thay đổi theo thời gian, tuy nhiên tại thời điểm
hiện tại trào lưu chú trọng về truyền đạt thông điệp (message-oriented) quan tâm đến độ trôi
(discourse), ngôn ngữ học xã hội (sociolinguistics) và chiến lược ngôn ngữ (strategic
competence) (Morley, 1994).
Dựa vào thực trạng như trên, nhóm nghiên cứu xét thấy việc đưa môn phát âm vào chương
trình học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Anh - Mỹ là rất cần thiết. Hiện tại có hai
nhóm đối tượng chính đang được đào tạo tại khoa: nhóm sinh viên học ngành sư phạm, và
nhóm sinh viên học ngành phiên dịch. Đối với nhóm thứ nhất, vai trò của việc học phát âm là
vô cùng quan trọng, vì những sinh viên này sau khi ra trường sẽ là người truyền đạt các kỹ
năng cũng như kiến thức về tiếng Anh cho rất nhiều người học khác. Nếu sinh viên không
nắm được ngôn ngữ này một cách chuẩn mực sẽ dẫn đến những thông tin sai lệch cho nhiều
người. Còn đối với sinh viên ngành phiên dịch, phát âm lại đóng vai trò là một công cụ chủ
chốt trong quá trình lao động: nếu có khả năng phát âm tốt, họ sẽ có thể làm cho các bên tham
gia giao tiếp hiểu nhau dễ dàng hơn.
Việc học phát âm lại càng quan trọng hơn nữa đối với các sinh viên năm thứ nhất, vì phần lớn
họ đang ở độ tuổi trẻ nhất trong trường đại học (khoảng 18-19 tuổi). Rất nhiều nghiên cứu cho
thấy rằng người học càng lớn tuổi thì khả năng có được phát chuẩn như người bản ngữ càng ít
đi, cho dù các yếu tố khác của ngôn ngữ như ngữ pháp hoặc từ vựng có thể không khác gì so
với người bản ngữ. Có thể kể đến ở đây các tác giả tiêu biểu ủng hộ quan điểm này như
Oyama (1976), Snow & Hoefnagel-Hohle (1977), Werker et al. (1981) hay Kenworthy
(1988). Vì vậy, giới thiệu môn học phát âm cho sinh viên ngay tại thời điểm đầu tiên của bậc
học đại học là một việc cần thiết để nâng cao khả năng ngôn ngữ cho sinh viên cũng như hoàn
3
thiện chương trình dạy và học tại trường đại học. Hơn thế nữa, môn phát âm còn phải được
tách ra thành một môn học riêng chứ không tích hợp với các môn kỹ năng khác để nâng cao ý
thức của sinh viên với môn học cũng như có nhiều điều kiện thử nghiệm và hoàn thiện môn
phát âm nói riêng và giao tiếp nói nói chung hơn. Nghiên cứu này ra đời với mong muốn
mang lại một cái nhìn toàn diện hơn về môn học phát âm, cũng như nhằm tạo ra được một
chương trình học chất lượng và hiệu quả.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Xét đến sự cần thiết của môn học như đã được trình bày trên đây, nghiên cứu này tập trung
vào nhiệm vụ đánh giá lại quá trình dạy và học môn phát âm trong học kỳ I, năm học 2008-
Cách thức phân tích số liệu Kết quả số liệu thu được được định lượng hoá theo tỉ lệ phần trăm
từ 0 đến 100 và lấy đến 1 số sau dấu phẩy.
Phần câu hỏi mở để sinh viên nêu lên những nhận xét và đóng góp nhằm cải thiện chất lượng
dạy và học sẽ được tổng hợp từ những điểm chung nổi bật.
Từ các kết luận thu được từ kết quả khảo sát và phân tích các dữ liệu, tác giả thông qua đó có
thể đánh giá một cách chính xác mức độ khả thi và hiệu quả của việc triển khai giảng dạy
môn phát âm thông qua nhu cầu của người học và rút ra những nhận xét mang tính ứng dụng
trực tiếp và đóng góp những đề nghị nhằm cải tiến chất lượng dạy và học Phát âm.
5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Quan niệm về phát âm (pronunciation)
Nghiên cứu về phát âm bao gồm hai lĩnh vực đó là ngữ âm học (phonetics) và âm vị học
(phonology).
Trong đó, ngữ âm học (phonetics) nghiên cứu về âm thanh lời nói (speech sounds). Một nhà
ngữ âm học thường nghiên cứu về một trong những vấn đề sau:
Ảnh hưởng của kết cấu (anatomical), tâm lí (neurological) và thần kinh
(physiological) đến lời nói (thường được biết đến là các chức năng tâm lí của ngữ âm
học (physiological phonetics) )
Sự hoạt động (actions) và chuyển động (movements) của các cơ quan cấu âm trong
quá trình phát ra âm, thường được biết đến là cách phát âm ngữ âm học (articulatory
phonetics)
Bản chất (nature) và độ vang (acoutics) của song âm trong quá trình phát ra âm
(acoustic phonetics)
Làm thế nào âm được nhận diện bởi cơ quan thính giác (auditory phonetics)
Làm thế nào não lĩnh hội được âm (perceptual phonetics)
Ngữ âm học là một lĩnh vực rộng lớn và không cần thiết phải có sự liên quan trực tiếp với
việc nghiên cứu ngôn ngữ. Mặc dù những ngành nghiên cứu ngữ âm học được nêu trên có thể
được nghiên cứu một cách độc lập với những ngành khác nhưng chúng hoàn toàn có liên quan
đến nhau. Ví dụ như các cơ quan cấu âm tạo ra âm thanh, âm thanh được truyền đi dưới dạng
song âm, sóng âm được truyền tới cơ quan thính giác và được xử lí thong tin bởi bộ não.
những chiếc máy ghi đĩa đầu tiên, sau đó là bằng cassette, những phòng thí nghiệm cho ngôn
ngữ vào giữa thế kỉ 20 và ngày nay là những phương tiện nghe nhìn như băng video và đĩa
CD.
2.2.2. Phương pháp phân tích ngôn ngữ học (analytic-linguistic approach) lại sử dụng
thông tin và phương tiện như bảng chữ cái ngữ âm, sự miêu tả phát âm, mô tả hệ thống phát
âm, các thông tin đối chiếu so sánh, các phương tiện hỗ trợ để bổ sung kĩ năng nghe, bắt
chước, phát âm. Phương pháp này cung cấp những thông tin một cách trực tiếp cho người học
và hướng sự tập trung vào âm thanh, ngữ điệu của ngôn ngữ đích (target language). Phương
pháp này đã được phát triển đến giai đoạn hoàn thiện chứ không đơn thuần là sự thế chỗ cho
phương pháp bắt chược theo trực giác (intuitive-imitative approach).
7
2.3. Vấn để kiểm tra đánh giá trong việc dạy phát âm:
Theo các tác giả Cele-Murcia, Brinton, Goodwin (1996) hiện nay vấn đề kiểm tra đánh giá
trong việc dạy phát âm không nhận được nhiều sự quan tâm như các lĩnh vực khác. Một phần
là vì cách đánh giá trong phát âm cũng được tiến hành như các kĩ năng khác như nghe, đọc,
viết. Nhưng không giống như các lĩnh vực khác, việc kiểm tra đánh giá trong phát âm có
những khía cạnh riêng biệt ảnh hưởng tới việc đánh giá được thực hiện như thế nào, phản hồi
được đưa ra ra sao, và khi nào thì đưa ra hướng dẫn… Một đặc điểm nỗi bật trong các yếu tố
riêng biệt đó là phát âm không chỉ là sự áp dụng các qui luật đơn thuần mà liên quan tới sự
nhận thức và sản phẩm phát âm của người học. Các tác giả Cele-Murcia, Brinton, Goodwin
(1996) đã trình bày 3 loại hình kiểm tra đánh giá trong môn học phát âm đó là kiểm tra chẩn
đoán (Diagnostic evaluation), đánh giá và phản hồi thường xuyên (ongoing evaluation with
feedback), và kiểm tra trong lớp học (Classroom testing).
2.3.1. Đánh giá chẩn đoán: (Diagnostic evaluation)
Đây là kiểu đánh giá để xác định trình độ của người học. Kiểu đánh giá này thường nhằm
mục đích xác định xem người học có thể thực hiện được một nhiệm vụ nhất định hay không,
hoặc để xếp người học vào lớp tương xứng với trình độ ngôn ngữ của họ. Trong những trường
hợp cụ thể, đây cũng là phương pháp ban đầu người thầy dùng để lập ra hay điều chỉnh mục
đích của khóa học cho phù hợp với một bộ phận người học cụ thể và xác định được nhu cầu
của mỗi cá nhân. Tóm lại, đây chính là một đánh giá tổng thể về sự nhận thức (perception) và
1. Mary’s gone home
2. The VCR doesn’t work
3. Jim and Jessica had triplets
Loại hình bài tập này có thể được biến đổi gắn với các dạng ngữ pháp mà nghĩa của phát ngôn
có sự khác nhau bởi sự lên hay xuống của ngữ điệu.
Ví dụ: Đánh dấu ô tương ứng với ngữ điệu của phát ngôn: (Trong câu hỏi đuôi, người phát
ngôn dùng ngữ điệu lên xuống khi chắc chắn và ngữ điệu lên nếu không chắc chắn)
Phát ngôn Chắc chắn Không chắc chắn
1. He hasn’t finished fixing the car, has he?
2. The situation’s getting worse, isn’t it?
3. The stores will be really crowded this time of
year, won’t they?
9
d. Nuốt âm: (reduced speech) giáo viên có thể đưa ra một đoạn ngắn có ô trống là những từ
bị nuốt và không được nhấn mạnh. Người học sẽ điền vào các từ đó khi nghe đoạn băng.
Ví dụ: Nghe đoạn thông tin dự báo thời tiết sau và điền vào ô trống:
This is WPRO weather update. The weather on Friday is expected (1) _______ be cool
(2)_______ cloudy. There will be fifty percent chance (3) _______ showers in the morning,
but is (4) ______ clear up by late afternoon. Temperatures will range (5) _______ a low of
forty-five degrees to a high of sixty-two.
Answers:
1. to
2. and
3. of
4. should
5. from
2.3.1.2. Chẩn đoán sản phẩm trong lớp học:
Có hai loại mẫu sản phẩm phát ngôn của người học đó là:
- một mẫu người học đọc to (reading aloud)
- một mẫu người học nói tự do (free speech)
2.3.2.1. Tự điều khiển và đánh giá: (self-monitoring and correction)
Cùng với xu hướng dạy học lấy người học làm trung tâm như hiện nay, thì tính tự giác cùng
với khả năng tự điều khiển quá trình học của người học càng có tầm quan trọng hơn trong dạy
học ngoại ngữ. Việc tự điều khiển một phần cho thấy người học có trách nhiệm với việc học
của chính họ và là điều không thể thiếu được giúp họ thấy được sự tiến bộ của mình. Điều này
đặc biệt đúng với học phát âm.
Tác giả Acton (1984) được trích trong Cele-Murcia, Brinton, Goodwin (1996) nhấn mạnh vai
trò của học hợp tác (contract learning). Ông cho rằng những thay đổi quan trọng nhất trong
phát âm sẽ diễn ra ngoài lớp học. Dickerson (1984, 1987a) trích trong Cele-Murcia, Brinton,
Goodwin (1996) đề cập đến covert rehearsal. Với phương pháp này, người học sẽ tự luyện tập
như: chuẩn bị đối thoại, tạo ra các trao đổi, nghĩ ra các phát ngôn đúng, rồi so sánh chúng với
11
những mẫu của người bản địa và với các quy luật phát âm mà họ biết. Có một số phương pháp
được gợi ý như sau:
a. nâng cao nhận thức của người học về tầm quan trọng của việc dùng ngôn ngữ đích
(target language) để tự nói to với chính họ.
b. yêu cầu người học đoán trọng âm của từ, vowel quality, sentence prominence,… ở
những bài tập họ làm ở nhà, và sau đó là đọc to.
c. yêu cầu người học ghi âm lai bài ở trên lớp để ôn luyện ở nhà
d. cung cấp cho người học bản checklist trong đó ghi những đặc điểm phát âm mà giáo
viên sẽ kiểm tra.
Mặc dù có những điểm khác nhau nhỏ, các chương trình dạy phát âm lấy người học làm trung
tâm có chung một số nền tảng. Nổi bật nhất đó là sự nhấn mạnh trách nhiệm của người học
trong việc tạo ra những thay đổi trong phát âm. Hơn nữa, chúng nhấn mạnh việc đạt được
những mục đích cụ thể, đó là dạy phát âm để phát triển learners’ intelligibility chứ không phải
để đạt đến sự chính xác hoàn toàn.
2.3.2.2. Peer feedback:
Để giúp cho tất cả người học có thể có được ích lợi từ việc giao tiếp với nhau trên lớp, giáo
viên có thể tổ chức các đôi như là người điều khiển và người đưa ra phản hồi (monitors and
givers of feedback). Điều này giúp người học tăng khả năng nghe và sử dụng được ngay kiến
học và chương trình cụ thể. Vì kiểm tra chẩn đoán và kiểm tra trên lớp có thể giống nhau về
thiết kế (design) nên một số ví dụ trình bày ở phần kiểm tra chẩn đoán trước có thể được dùng
cho kiểm tra trên lớp.
Điều quan trọng cần phải chú ý đó là phạm vi của kiểm tra trên lớp thường hẹp hơn kiểm tra
chẩn đoán. Thêm vào đó, kiểm tra chẩn đoán diễn ra vào đầu khóa học, trong khi đó kiểm tra
trên lớp có thể thực hiện vào nhiều thời điểm khác nhau trong suốt khóa học để kiểm tra
những phần nhất định đã dạy.
Loại hình kiểm tra này cũng được chia thành kiểm tra nhận thức và kiểm tra sản phẩm phát
âm.
13
Kiểm tra nhận thức của người học cũng có các dạnh như đã trình bày ở phần kiểm tra chẩn
đoán như phân biệt nguyên âm, phụ âm, trọng âm từ, trọng âm câu, ngữ điệu, nuốt âm.
Cũng như với kiểm tra nhận thức, kiểm tra sản phẩm phát âm của người học nên tập trung vào
các yếu tố đã được dạy trên lớp. Để kiểm tra, người học sẽ đọc to một hoặc nhiều đoạn văn
ngắn sau đó thu âm vào băng. Việc chấm điểm những bài đọc này cần rõ ràng, chấm điểm
từng yếu tố riêng lẻ cần được đánh giá. Người học cần thiết phải được luyện tập trước khi thu
băng với hai mục đích chính. Một là, việc luyện tập giúp người học làm quen với đoạn văn.
Hai là, việc luyện tập giúp cho người học có thời gian để suy nghĩ một cách có chủ ý những
đặc điểm phát âm và quy luật phát âm đã được học để áp dụng. Người học được khuyến khích
ghi âm, sau đó nghe lại, và có thể thu âm lại nếu họ nhận ra một lỗi mà họ muốn sửa. Ngoài
việc đọc một đoạn văn, giáo viên có thể cho người học đọc một đoạn hội thoại.
2.4. Các hoạt động dạy ngữ âm:
Để dạy phát âm trước hết giáo viên cần xác định việc dạy phát âm là một phần quan trọng
trong việc dạy ngoại ngữ và quyết định mô hình dạy học nào phù hợp để áp dụng. Các hình
thức dạy ngữ âm cũng rất đa dạng và phong phú, từ các hoạt động mang tính chuyên sâu cao
như luyện tập (drilling) cho đến các hoạt động dàn trải hơn như giao cho người học tìm ra các
đặc trưng phát âm trong bài nghe. Các hoạt động luyện tập chuyên sâu như drilling giúp
người học củng cố chung các kĩ năng tiếp nhận và sản xuất (receptive and productive skills)
trong khi các hoạt động cao hơn giúp người học củng cố các kĩ năng tiếp nhận (receptive
skill) (theo Kelly, 2000)
If I’d seen him…
If I’d seen him, I would’ve told him.
b. Luyện tập theo ngữ cảnh là một biến thể rất hữu ích của hoạt động này. Hoạt động này gồm
việc luyện tập một cấu trúc, nhưng thay thế các từ vựng vào câu như sau:
Teacher: It’s in the corner
Student 1: It’s in the corner
Teacher: It’s on the table
Student 2: It’s on the table
Teacher: It’s under the chair, v.v.
15
Các hoạt động luyện tập drilling này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc dạy trọng âm từ,
trọng âm câu và ngữ điệu. Giáo viên nên có mục đích đọc mẫu các từ và cụm từ một cách tự
nhiên phụ thuộc vào ngữ cảnh của từ đó. Giáo viên có thể gõ theo nhịp của trọng âm khi
luyện tập.
Drilling là một công cụ quan trọng trong việc luyện phát âm. Nhiều giáo viên bỏ qua việc
luyện tập drilling vì họ cho rằng hoạt động này chỉ thích hợp với các học viên trình độ thấp,
nhưng thực ra cả các học viên trình độ cao cũng cần luyện tập để nắm vững cách phát âm của
những từ và cụm từ mà họ mới học được.
2.4.1.3. Những cặp phát âm tối thiểu minimal pairs
Những cặp phát âm tối thiểu là những cặp từ chỉ khác nhau một âm vị. Giáo viên có thể sừ
dụng minimal pairs cho những lớp có trình độ trung bình khá như là một cách tập trung vào
những âm gây ra nhiều khó khăn cho học viên.
a. Học viên có thể được đưa cho một danh sách các từ và làm việc với một bạn học để quyết
định những từ nào có một âm riêng biệt:
b. Học viên có thể được cho nghe một chuỗi từ và phải tìm ra xem một âm nào đó được phát
âm bao nhiêu lần:
c. Giáo viên có thể luyện tập những câu sau theo cả lớp và luyện tập từng cá nhân:
Pass me the pepper and the paper.
I’ll post the letter later.
They won’t let us in if we’re late.
cách phát âm của người bản xứ. Qua việc so sánh, học viên và giáo viên có thể nhận ra các lỗi
trong cách phát âm của học viên cũng như sự khác biệt trong cách phát âm của học viên với
cách phát âm của người bản xứ.
Cart class heart learn smart part
17
2. 4.4. Hoạt động đọc
Hoạt động đọc là hoạt động học viên nhận được nhiều ngôn ngữ mới, nên giáo viên có thể kết
hợp luyện tập phát âm cho học viên, đặc biệt khi một đoạn văn hoặc một phần đoạn văn được
đọc to trước lớp. Tuy nhiên để tránh việc học viên quá chú trọng đến phát âm mà quên đi việc
hiểu nghĩa của đoạn văn, trước hết giáo viên cần thảo luận về ý nghĩa của đoạn văn với học
viên, hoặc yêu cầu học viên đọc theo cụm từ có nghĩa (thought group):
Susan got up late that morning./ Nothing could have prepared her for the events of the day to
come./ It was snowing lightly/ and she could see that the path was already completely
covered./ “How will we get to London in this? She thought.
Read this text for your partner. Listen to the example on the tape and read again.
Điều quan trọng trong việc luyện phát âm đó là giữ cho việc luyện tập có không khí vui vẻ và
nhẹ nhàng. Giáo viên có thể dùng tư liệu đọc là những câu nói líu lưỡi (tongue twister). Ví dụ:
She sells seashell on the seashore.
Giáo viên cũng có thể cho học viên luyện tập đọc các câu như “Thank you” hay “Hello” theo
các ngữ điệu khác nhau như bực bội, vui mừng, ngạc nhiên…
2.4.5. Hoạt động nghe:
Các bài tập nghe hiểu thường dùng các đoạn băng được đọc bởi người bản xứ. Các đoạn nghe
này có thể được khai thác để giới thiệu cách phát âm của những từ mới cho học viên. Ví dụ,
trước khi làm bài tập nghe, học viên có thể được giới thiệu ý nghĩa và cách phát âm của một
số từ và cụm từ cần chú ý. Bài tập nghe theo sau có thể yêu cầu học viên nghe xem từ đó được
phát âm bởi người bản ngữ trong đoạn hội thoại như thế nào.
Việc sử dụng các bài hát nhạc jazz đã tỏ ra tính hiệu quả của nó trong việc giảng dạy tiếng
Anh nói chung. Để việc học phát âm nhẹ nhàng và dễ nhớ, giáo viên có thể dùng các bài hát
nhạc jazz đơn giản trình độ sơ cấp trở lên (jazz chants) để cho học viên hát theo cùng lời bài
hát, các bài hát cổ truyền như “Ten green bottles”, “there was an old woman who swallowed a
đoạn 2 ở học kỳ 2. Tuy nhiên trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập tới giai đoạn 1 của môn
học phát âm này.
19
Môn học Nghe-Nói gồm có 3 tiết chỉ. Một tín chỉ ở đây được tính là 2 tiết lên lớp và 1 tiết học
ở nhà. Tức là môn Nghe-Nói sẽ có 6 tiết. Nghe chiếm 2 tiết và Nói Phát âm chiếm 4 tiết. Tuy
nhiên, môn phát âm được tách riêng. Tức là mỗi lớp sẽ có 14 tiết học phát âm (trừ một tiết
kiểm tra giữa kỳ của các kỹ năng). Sinh viên học chính thức trong 7 tuần và những tuần còn
lại làm bài tập lớn. Mỗi tuần sinh viên có 2 tiết học phát âm trên lớp. Nội dung cụ thể như
sau:
TT. Nội dung Chú ý
1. Giới thiệu (Cơ quan phát âm và kí tự phiên âm) Lớp chia thành các nhóm
nhỏ. Mỗi nhóm chuẩn bị
một bài đọc với độ dài
khoảng 150 từ. Sinh viên
lần lượt ghi âm giọng đọc
của mình.
2. Nguyên âm # 1
Phân loại nguyên âm
/i:/, /ɪ/, /e/, /æ/, /ə/, /ɜː/
Sinh viên làm thêm bài tập
ở nhà theo những đầu sách
tham khảo.
3. Nguyên âm # 2
/ʌ/, /uː/, /ʊ/, /ɔː/, /ɒ/, /ɑː/
Sinh viên làm thêm bài tập
ở nhà theo những đầu sách
tham khảo.
4. Nguyên âm # 3
/eə/, /ɪə/, /ʊə/, /eɪ/, /aɪ/, /ɔɪ/, /əʊ/, /aʊ/
Sinh viên làm thêm bài tập
13. Giáo viên kiểm tra lại toàn bộ bài tập của sinh viên. Xem có sinh viên nào không
nộp và lên kế hoạch chấm
14. Giáo viên chấm bài tập
15. Trả bài và thông báo điểm.
3.3. Cách thức tiến hành dạy môn phát âm
Vì giai đoạn 1 tập trung chủ yếu dạy 44 âm nên bài viết này chỉ đề cập cách dạy cho một âm
điểm hình đó là âm /i:/
Bước 1: Sinh viên sẽ được xem một đoạn video giới thiệu về âm /i:/. Đoạn video này được tải
về từ trang www.bbclearning.com.
Trong lúc xem sinh viên nghe và làm theo hướng dẫn. Lời thoại của đoạn video này như sau:
This is a long vowel sound. It’s pronunced ‘i:’. Now you try. Repeat after me. ‘i:’ ‘i:’. Here
are some words which have this sound ‘fleece – sea – machine’. Now you try. Repeat after me
‘fleece – sea – machine’. Good. For speakers of some languages, it can be difficult to tell the
difference between this sound the long vowel ‘i:’ and another sound the short vowel sound ‘I’.
Here are some examples where you can hear the difference. ‘litre – litter’, ‘cheap – chip’,
‘feet – fit’, ‘he’s – his’, ‘peach – pitch’, ‘sheep – ship’. Now you try. Listen carefully and
repeat after me. In each example, the vowel with the long sound is first. ‘litre – litter’, ‘cheap
– chip’, ‘feet – fit’, ‘he’s – his’, ‘peach – pitch’, ‘sheep – ship’
Trong đoạn video này chỉ dừng lại ở việc nghe và nhắc lại từ và so sánh giữa hai âm ‘i:’ và
‘I’.
21
Bước 2: Sinh viên sẽ được xem hình ảnh minh hoạ
Đây là bước khá quan trọng vì giáo viên sẽ phải mô tả cách phát âm của âm /i:/. Chính vì vậy
giáo viên cần phải nắm khá rõ các âm được phát âm như thế nào.
Bước 3: Sinh viên sẽ được xem hình động âm /i:/ được phát âm như thế nào.
Lúc này giáo viên sẽ giải thích thêm cho sinh viên xem hình nhiều lần để sinh viên thấy rõ âm
này được phát âm như thế nào nhé.
Bước bốn: Sinh viên bắt đầu luyện tập. Ở đây sinh viên so sánh âm /i:/ với những âm khác.
Luyện âm /i:/ trong từ cũng như trong câu.
Bước 3:
Khi đã hoàn thành việc ghi 44 âm trong tiếng Anh, tìm một đoạn văn không quá 150 từ. Đọc
to và ghi âm lại giọng đọc.
Bước 4:
Để bài tập của nhóm vào một thư mục trong máy tính theo tên của nhóm (bao gồm tên thành
viên) và tên lớp. Trong thư mục này có chứa 01 file bài tập dưới dạng Word và 01 file audio.
Sau đó nộp cho lớp trưởng thông qua USB. Lớp trưởng có nhiệm vụ thu thập tất cả bài tập lớn
của các nhóm trong lớp và cho tất cả vào một đĩa CD (lưu ý chỉ burn ở dạng DATA chứ
không ở dạng AUDIO vì nếu burn ở dạng AUDIO thì sẽ không lưu trữ được file bài tập dưới
dạng Word. Viết tên lớp trên CD và nộp lại cho giáo viên. Hạn chót nộp bài tập lớn là tuần 12
3.4.4. Bài Tập Mẫu
PHẦN I: 44 âm tiếng Anh
No. Sounds Examples Transcriptions
Vowels
1 /iː/ read /riːd/
sleep /sliːp/
series /'sɪəriːz/
2 /ɪ/ still /stɪl/
city /'sɪti/
quality /'kwɒlɪti/
24
3 /e/ many /'meni/
spend /spend/
education /ˌedju:'keɪ∫ən/
4 /æ/ that /ðæt/
cat /kæt/
pan /pæn/
5 /ə/ arrive /ə'raɪv/
yesterday /'jestədeɪ/
cigarette /ˌsɪgə'ret/
actually /'æktjuəli/
tour /tʊə(r)/
16 /eɪ/ state /steɪt/
mate /meɪt/
wait /weɪt/
17 /aɪ/ night /naɪt/
provide /prə'vaɪd/
type /taɪp/
18 /ɔɪ/ enjoy /ɪn'dʒɔɪ/
noise /nɔɪz/
boy /bɔɪ/
19 /əʊ/ code /kəʊd/
toe /təʊ/
rose /rəʊz/
20 /aʊ/ now /naʊ/
25