PHẦN MỞ ĐẦU
1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trước khi triết học Mác - Lênin du nhập vào Việt Nam, nếu theo tiêu
chí của một nền triết học là phải có triết gia, triết thuyết và trường phái thì
Việt Nam không có một nền triết học nào. Suốt mấy thập kỷ qua, quan
niệm này chiếm ưu thế trong đánh giá hoạt động văn hóa tinh thần của đất
nước. Tuy nhiên, một số học giả, một số nhà nghiên cứu vẫn nhìn nhận
rằng dân tộc Việt Nam có một nền văn hiến riêng, trong nó chứa đựng một
sắc thái tư tưởng không giống với các nền triết học và văn minh lớn lân
cận. Sự nghiên cứu tư tưởng dân tộc làm cho việc khẳng định có một thứ tư
tưởng triết học Việt Nam dần dần trở nên tự tin hơn. Đến nay, có xu hướng
còn cho rằng, nước ta không chỉ có những tư tưởng triết học mà còn có cả
những học thuyết triết học theo đúng nghĩa của nó .
Giới nghiên cứu đều thấy rằng, triết học phương Tây thường gắn với
những thành tựu của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên. Còn triết học
phương Đông thường gắn liền với tôn giáo (Ấn Độ), với chính trị - xã hội,
đạo đức (Trung Quốc), những tư tưởng triết học Việt Nam thì gắn liền với
công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Dân tộc Việt Nam không có một
nền triết học đồ sộ, phát triển rực rỡ như triết học Hy Lạp, Trung Quốc, Ấn
Độ song những triết lý về thiên nhiên, về con người, về mối quan hệ giữa
con người và tự nhiên trong kho tàng văn hoá dân gian Việt Nam thì lại
rất đa dạng, phong phú. Người Việt Nam có tư duy khái quát phát triển rất
sớm. Biết rút ra những cái chung từ quan sát các hiện tượng tự nhiên, xã
hội và con người. Biết lấy quá khứ để soi vào hiện tại, căn cứ vào hiện tại
để định hướng cho tương lai, xem xét sự vật, hiện tượng trong sự vận động
phát triển Việt Nam có nhiều chiến công oanh liệt trong dựng nước và
1
giữ nước, sau mỗi chiến công ấy đều có sự tổng kết để nâng lên thành lý
luận. Chẳng hạn, tổng kết từ thời đại nọ sang thời đại kia, từ thời loạn lạc,
chiến tranh sang hòa bình, đúc kết kinh nghiệm sau khi khắc phục thiên
tai Đó là những khái quát ít nhiều có tính triết học.
những tư tưởng triết học tự phát trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt
Nam” đã góp phần tích cực cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu
môn triết học trong đó có phần lịch sử tư tưởng Việt Nam đối với sinh viên
ĐHQGHN nói chung và sinh viên Trường ĐHNN nói riêng được thiết thực
hơn.
Vì vậy, để tiếp tục hướng nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn đề tài
“Tìm hiểu những tư tưởng triết học tự phát trong truyện ngụ ngôn Việt
Nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc Gia.
2- TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu những giá trị tư tưởng, tinh thần trong văn hoá truyền
thống của dân tộc Việt Nam trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đã và đang
được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ:
• Nghiên cứu dưới góc độ lịch sử tư tưởng Việt Nam có một số tài liệu
và tác giả điển hình:
- Lịch sử tư tưởng Việt Nam do GS. Nguyễn Tài Thư chủ biên.
- Lịch sử tư tưởng Việt Nam của GS. Lê Sỹ Thắng.
- Tìm về bản sắc văn hoá của Trần Ngọc Thêm
- Bản sắc văn hoá Việt Nam của Phan Ngọc
- Phát triển văn hoá – phát triển con người của GS – TS Huỳnh Khái
Vinh
3
• Nghiên cứu dưới góc độ văn học dân gian có một số tác giả và tác
phẩm tiêu biểu:
- Tác giả Phúc Khánh “Thử tìm hiểu các yếu tố tư tưởng triết học trong
truyện thần thoại Việt Nam ”.
- Tác giả Đỗ Bình Trị “Phân tích tác phẩm văn học dân gian ”.
- Hoàng Tiến Tựu: “Bình giảng truyện dân gian”, “Mấy vấn đề phương
pháp giảng dạy – nghiên cứu Văn học dân gian Việt Nam”.
- Lịch sử Văn học dân gian Việt Nam của các tác giả Đinh Gia Khánh,
Chu Xuân Diên chủ biên.
• Nhiệm vụ:
- Tìm hiểu nguồn gốc và đặc điểm cơ bản của truyện ngụ ngôn Việt
Nam.
- Khai thác một số tư tưởng triết học tự phát trong một số truyện ngụ
ngôn điển hình của các dân tộc Việt Nam.
- Khẳng định các giá trị trong đó có giá trị giáo dục của truyện ngụ ngôn
trong lịch sử và giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất một số hướng nghiên cứu và sử dụng truyện ngụ ngôn Việt
Nam như các cứ liệu cho việc giảng dạy và nghiên cứu triết học cho sinh
viên của các trường đại học thuộc khối ngành khoa học xã hội và nhân văn
trong giai đoạn hiện nay.
4- KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
• Khách thể nghiên cúu: Truyện ngụ ngôn của các dân tộc Việt Nam đã
được các nhà nghiên cúu văn học dân gian sưu tầm, tập hợp lại trong các
tài liệu như: truyện ngụ ngôn Việt Nam của các tác giả Anh Tú, Phạm
Minh Hạnh, Nguyễn Xuân Kính, Trương Chính, Triều Nguyên
5
• Đối tượng nghiên cứu: Những tư tưởng triết học tự phát trong truyện
ngụ ngôn của các dân tộc Việt Nam.
5- PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
• Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận và
phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa duy vật biện chứng(CNDVBC) và
Chủ nghĩa duy vật lịch sử(CNDVLS). Kết hợp với phương pháp luận
nghiên cứu lịch sử triết học như: quan điểm khách quan của sự xem xét,
quan điểm phát triển, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, các tác giả đã sử dụng các
phương pháp: Phân tích, tổng hợp, thống kê, phân loại, so sánh, lôgíc - lịch
sử, khái quát hoá, hệ thống hoá và một số phương pháp hỗ trợ khác.
• Phạm vi nghiên cứu: Khảo cứu những truyện ngụ ngôn của các dân tộc
Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu văn học dân gian sưu tầm và biên
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài
gồm 2 chương, 5 tiết.
7
Chương 1
KHÁI LUẬN CHUNG VỀ TRUYỆN NGỤ NGÔN
VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và nguồn gốc truyện ngụ ngôn Việt Nam
1.1.1. Khái niệm truyện ngụ ngôn Việt Nam
Nếu như truyện cổ tích là thể loại tự sự tiêu biểu trong văn học dân
gian, thì truyện ngụ ngôn cũng có hình thức tự sự như truyện cổ tích, nhưng
mục đích chủ yếu lại không phải tự sự. Ngụ ngôn có nghĩa là lời nói ở đó
gửi gắm một ý tứ gì đó. Trang Chu ngày xưa trước tác hơn mười vạn lời,
đại để đều là ngụ ngôn” (Theo sử ký của Tư Mã Thiên). Nói đến truyện
ngụ ngôn, người ta thường hay nghĩ đến các tác giả như Êđốp, Pheđơrơ, La
Phôngten ở phương Tây hoặc Trang Tử, Liệt Tử vv ở phương Đông.
Điều đó có cơ sở thực tế, các nhà tư tưởng đã từ lâu hay dùng thể văn ngụ
ngôn để diễn đạt các tư tưởng, các quan niệm của mình. Với thể văn ấy, các
ý niệm trừu tượng có thể diễn đạt một cách cụ thể và do đó dễ phổ cập hơn.
Cho nên Trang Tử đã nói: “Ngụ ngôn thập cửu” (nghĩa là: thể ngụ ngôn
trong mười phần có chín phần dùng được). La Phông ten cũng đã nêu rõ lý
do khiến cho thể ngụ ngôn có tác dụng đặc biệt trong việc diễn đạt tư tưởng
như sau: “Một thứ luân lý trần trụi làm người ta chán nản, truyện kể làm
cho điều luân lý lọt tai cùng với nó”.
Vì vậy, truyện ngụ ngôn đã được các triết gia, văn gia, các nhà văn
hoá sử dụng từ lâu. Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt đã đưa ra quan niệm về
truyện ngụ ngôn “Là bài thơ hoặc truyện ngắn mượn chuyện loài vật để nói
về việc đời, nhằm dẫn đến những kết luận về đạo lý, về kinh nghiệm sống”
[32, 691]. Trong sách giáo khoa lớp 10 – Nhà xuất bản Hà Nội, nhà nghiên
cứu Chu Xuân Diên định nghĩa: “Truyện ngụ ngôn là những truyện kể có
8
Văn học dân gian là một hình thái ý thức xã hội. Cũng như mọi hình
thái ý thức xã hội khác, văn học dân gian phát sinh trong quá trình hoạt
động sản xuất có ý thức của tập thể những con người sống thành xã hội.
Điều kiện ra đời của văn học dân gian một mặt là lực lượng sản xuất đã đạt
tới một trình độ nhất định, với những quan hệ sản xuất nhất định, mặt khác
là sự nảy sinh và sự phát triển của những cảm xúc thẩm mỹ của con người.
C.Mác đã vạch rõ nghệ thuật chỉ xuất hiện trong quá trình hoạt động thực
tiễn của con người khi nào “sự tiêu dùng thoát ra khỏi tình trạng thô sơ
buổi đầu, mất tính chất trực tiếp của nó đi”[11, 97], khi nào cảm xúc thẩm
mỹ không bị “lệ thuộc vào những nhu cầu thẩm mỹ thô thiển[11, 97] nghĩa
là khi nào cảm xúc thẩm mỹ có tính độc lập tương đối và được dùng để
thoả mãn những nhu cầu tinh thần của con người. Sự cảm thụ thẩm mỹ,
mối quan hệ thẩm mỹ đối với thực tại chỉ có thể nảy sinh trong xã hội loài
người, bởi vì chỉ do kết quả của lao động xã hội, do ảnh hưởng của những
sản phẩm lao động được chính con người tạo ra “chỉ có thông qua sự phong
phú, đã được phát triển về mặt vật chất của bản chất con người, thì sự
phong phú của tính cảm giác chủ quan của con người mới phát triển và một
phần, thậm chí lần đầu tiên mới được sản sinh ra: lỗ tai thính âm nhạc, con
mắt cảm thấy cái đẹp của hình thức – nói tóm lại là những cảm giác có khả
năng đạt tới sự thưởng thức có tính chất người và tự khẳng định mình như
những lực lượng bản chất của con người” [ 12, 137]. Hoạt động xã hội của
con người càng mở rộng, mối quan hệ thực tiễn giữa con người đối với thế
giới càng đa dạng, thì khả năng nhận thức bản chất của các hiện tượng
xung quanh con người cũng như bản chất của chính con người càng phát
10
triển. Như vậy, sự ra đời của văn học dân gian đánh dấu sự ra đời thực sự
của nghệ thuật với tư cách là một hình thái ý thức xã hội. Đây cũng chính
là lúc hình thành ra thứ văn học không thành văn của những thần thoại và
truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, truyện ngụ ngôn mà C.Mác khẳng định là
“đã có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của nhân loại” [ 11, 33]. Ngay từ
là vở kịch nhỏ trong đó nhân vật có thể là bất cứ vật gì trong vũ trụ, và sân
khấu là bất kể ở đâu.
Trong truyện ngụ ngôn thì cốt truyện hoàn toàn có tính chất tưởng
tượng. Người ta có thể tự do – tất nhiên tự do trong điều kiện nhất định -
đặt bày những sự việc, sắp xếp những tình tiết, miễn là phục vụ cho việc
diễn đạt cái ý mà mình muốn ngụ mở trong sự tích. Nếu như truyện cổ tích
là một loại truyện tưởng tượng thì truyện ngụ ngôn cũng là sản phẩm của
trí tưởng tượng nhưng không giống trong truyện cổ tích, sự tưởng tượng
phải chịu sự hướng dẫn chặt chẽ của lí trí. Khi sáng tác truyện ngụ ngôn
người ta phân biệt cốt truyện tức là những sự kiện cụ thể với lời quy châm -
tức ý niệm trừu tượng. Yếu tố tưởng tượng trong truyện ngụ ngôn nhằm
giúp cho con người ta có thể diễn đạt một cách linh hoạt, tươi mát những
khái niệm khô khan, chi phối toàn bộ tác phẩm. Ở truyện ngụ ngôn, ta cảm
thấy đằng sau mọi sự tô vẽ của óc tưởng tượng, đằng sau những tình tiết có
vẻ ngây thơ là một lý trí sáng suốt, nghiêm khắc, già giặn. Và xét đến cùng
thì truyện ngụ ngôn là sản phẩm của sự tưởng tượng nhưng sản phẩm đó
được tạo ra theo yêu cầu của lý trí, dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của lý trí.
Với tất cả những đặc điểm đó thì truyện ngụ ngôn chỉ có thể hình
thành với một trình độ phát triển tương đối cao của tư duy loài người.
Lúc đầu nhân loại chắc chắn không thể sáng tác được truyện ngụ ngôn gồm
12
hai phần tách bạch là: sự tích cụ thể và ý niệm trừu tượng ngụ ở trong sự
tích ấy. Phân biệt được phần trừu tượng và phần cụ thể là một việc mà
người nguyên thuỷ không thể làm được.
Con người nguyên thuỷ sống gần tự nhiên hơn chúng ta ngày này.
Hơn nữa họ chưa hoàn toàn tách mình ra khỏi tự nhiên. Vì công cụ sản xuất
còn thô sơ, kỹ thuật sản xuất còn thấp kém, cho nên kết quả của lao động
còn rất ít ỏi. Con người phải vận dụng toàn thể các giác quan để kiếm
miếng ăn hàng ngày, cũng như để tự vệ. Người ta chăm chú nhận xét hình
dạng, màu sắc, hơi tiếng của từng con dã thú cũng như tập quán sinh hoạt
phát triển mạnh mẽ ở thời phong kiến. Tuy nhiên, vấn đề này còn đang
được các nhà nghiên cứu bàn luận, chứng minh. Tiếc rằng, ở nước ta thời
xưa ít có những người sưu tầm truyện ngụ ngôn dân gian hoặc viết lại
truyện ngụ ngôn như ở nhiều nước khác. Khi Phật giáo tràn vào nước ta,
các truyện ngụ ngôn nhà Phật lại được thâm nhập vào nhân dân. Để cho
giáo lý trừu tượng Phật giáo dễ thâm nhập vào quần chúng nhân dân, nhà
chùa đã sử dụng công án tức là một thứ truyện ngụ ngôn Ấn Độ đã bắt đầu
truyền sang ta hồi thế kỷ II trở đi. Truyện Người ăn nửa chiếc bánh, Hai vợ
chồng và một cái bánh, lưu truyền trong nhân dân đều bắt nguồn từ Kinh
Bách Dụ (Avadêna) [ 2, 109]. Vì thế, vào thời Lý và thời Trần, truyện ngụ
ngôn Việt Nam phát triển khá mạnh cả về mặt chất và mặt lượng. Nhà chùa
cũng dùng truyện ngụ ngôn như một công án để thuyết minh cho giáo lý
của mình. Chẳng hạn, khi vua nhà Lý sai sứ giả mời Huệ Sinh về triều giúp
việc triều chính, sư Huệ Sinh đã trả lời: “Người hãy xem một con vật dùng
làm cỗ cúng, người ta buộc nó bằng dây lụa, nuôi nó bằng rau cỏ ngon. Kịp
khi ắt vào nhà Thái Miếu, thì dẫu nó muốn sống lâu cũng không thể được”.
14
Với câu nói trên, sư Huệ Sinh muốn bảo cho sứ giả nhà Lý biết rằng: Về
triều với Vua thì tuy được phú quý nhưng mất tự do, đời sẽ như con vật đưa
vào nhà Thái miếu.
Một con đường nữa để làm phong phú kho tàng truyện ngụ ngôn của
nước ta. Hán học cũng đem vào nước ta nhiều truyện ngụ ngôn của Trung
Quốc. Những truyện Châu chấu đá xe, Trai, cò và Ngư ông có thể tìm thấy
dị bản trong các sách cổ của Trung Quốc như Chiến quốc sách, Hàn Phi
ngoại truyện. Tuy nhiên sự trùng lặp giữa truyện ngụ ngôn nước ta với
nước khác đều được giải thích bằng sự giao lưu văn hoá. Truyện ngụ ngôn
được sáng tác để chứng minh những ý niệm trừu tượng, cốt truyện lại rất
đơn giản. Vì vậy, sự “trùng kiến” giữa các dân tộc là một điều hoàn toàn dễ
hiểu. Do đó, phương Đông có truyện: Trai, cò và người đánh cá (Tô Tần -
Chiến quốc sách) thì phương Tây cũng có truyện: Trai, cò và người đánh
nguyên tắc đó. Giáo sư Đinh Gia Khánh đã từng nhấn mạnh: tư tưởng triết
học của nhân dân có thể tìm thấy trong tất cả các loại hình văn học dân
gian, nhưng thể hiện tập trung nhất là ở truyện ngụ ngôn. Nhà nghiên cứu
Folklore Cao Huy Định cho rằng: Cái lối ẩn dụ việc đời phần nhiều bằng
hình tượng súc vật là đặc điểm của ngụ ngôn. Mỗi con vật biết nói, biết
nghĩ, biết hành động là một biểu tượng của một loại người nhất định. Quan
hệ xung đột hoặc đồng tình giữa chúng là những quan hệ xã hội thật sự nói
lên những vấn đề đạo đức thật sự. Những vấn đề triết lý, đạo đức được đề
cập đến trong nội dung truyện ngụ ngôn rất phong phú, đa dạng, nó có thể
là những kinh nghiệm sống qua các bài học thực tế ở đời, những lời khuyên
răn đạo đức cho mỗi con người trong xã hội. Chẳng hạn, truyện Chị bán
nồi đất chế giễu những người hay mơ mộng viển vông, không thực tế để
16
phải đón nhận lấy bất hạnh. Chỉ vì mơ mộng mà chị ta làm vỡ tất cả số nồi
đất đem bán, mộng tan và bị thiệt hại. Truyện Cáo mượn oai hùm là bài học
để mọi người cùng suy nghĩ, chỉ nên dựa vào sức mạnh và tiềm năng của
chính bản thân, đừng nên dựa dẫm vào người khác. Truyện Bó đũa là lời
khuyên đầy thực tế về việc nếu biết đoàn kết thì sẽ có sức mạnh, chia rẽ thì
bị tiêu diệt một cách dễ dàng… Ngoài những kinh nghiệm sống, nội dung
của truyện ngụ ngôn còn bao gồm cả những vấn đề đạo đức, những phạm
trù triết học sâu sắc. Truyện Thầy bói xem voi đã nói về phạm trù của cái
toàn bộ và cái cục bộ. Truyện Con vờ và con đom đóm kể rằng: Vờ chỉ
sống có nửa ngày, nó không biết có ngày và đêm, nhưng cứ cãi với đom
đóm là không thể nào có chuyện mặt trời mọc rồi lặn. Ấy là con vờ đã
phạm một sai lầm về phạm trù chủ quan và khách quan. Nhắc nhở con
người cần phải nắm vững các quy luật phát triển của đời sống, tự nhiên và
xã hội thì mới có thể thích nghi, tồn tại và phát triển Đặc trưng nổi bật
nhất của truyện ngụ ngôn là những bài học về kinh nghiệm sống, những tư
tưởng, quan niệm đạo đức triết học và những cách đối nhân xử thế ở đời
được đúc rút lại qua thực tế đời sống. Đó là cả một kho tàng tri thức bác
rút ra sau mỗi truyện ngụ ngôn càng rõ và có ý nghĩa rất sâu sắc hơn.
Chẳng hạn, truyện Đẽo cày giữa đường là sự phủ định cách sống không có
chủ kiến để khẳng định sự cần thiết phải xem xét kỹ và có quyết định cho
công việc của bản thân… Có thể nói truyện ngụ ngôn có hai phần: phần
truyện kể nổi lên còn phần ý nghĩa thì chìm sâu trong truyện mà mỗi người
cần có kiến thức, trình độ hiểu biết mới có thể tự rút ra cho mình. Chính
đặc điểm này làm cho truyện ngụ ngôn có sự hàm súc và chiều sâu đặc biệt
độc đáo của nó.
18
Kết cấu của truyện ngụ ngôn có điểm nổi bật là ở sự ngắn gọn, súc tích
của ngôn ngữ và chi tiết. Thông thường thì truyện ngụ ngôn có độ dài rất
khiêm tốn, thường thì chỉ có 200 đến 300 từ, chỉ có một số truyện thơ dài
như bốn truyện nôm ngụ ngôn quen thuộc như Trê Cóc, Lục súc tranh
công, Trinh thử và Hoa điểu tranh năng. Cái tạo ra độ ngắn của truyện ngụ
ngôn chính là ở tính truyện của nó. Nó không chấp nhận cách giải thích dài
dòng, vòng vo, tỉ mỉ. Mỗi truyện ngụ ngôn chỉ gồm một tình tiết, một sự
việc được diễn đạt hết sức cô đọng, hàm súc qua sự ám chỉ, so sánh, ẩn dụ
đặc sắc để rồi con người tìm ra những vấn đề triết lý sâu xa. Để tạo được
những nét tiêu biểu của truyện ngụ ngôn, người ta cần phải có một trình độ
tư duy tương đối cao, để có thể nhận biết được những đặc điểm chủ yếu,
đặc sắc, bản chất nhất ở người, loài vật, sự vật… rồi chọn đưa vào truyện.
Chẳng hạn, con cáo được người ta quen gán cho tính ranh mãnh, xảo trá.
Con Ong thì chăm chỉ, cần cù; con Hổ, Báo, Sư tử thì độc ác mà ngu ngốc;
Thỏ thì thông minh, tốt bụng; Rùa thì chậm chạp, hiền lành… Vì thế khi
cần nói đến sự độc ác, người ta chọn Hổ, cần nói đến sự thông minh, người
ta chọn Thỏ… Sự chọn lựa này tạo ra tính hợp lý của truyện mà không cần
giải thích dài dòng.
1.2.2. Sự khác biệt của truyện ngụ ngôn với một số thể loại khác
trong văn học dân gian
Văn học dân gian là một hình thái ý thức xã hội phức tạp, có rất nhiều
cái vỏ cho con người náu mình trong đó, nói lên tiếng nói của họ về cuộc
sống với mọi tình huống xảy ra với họ.
Về đối tượng, truyện loài vật trong giai đoạn đầu tiên có thể là cho cả
người lớn và trẻ em cùng thưởng thức. Nhưng dần dần, do những kiến thức
20
hiểu biết về tự nhiên và xã hội của con người được nâng lên, con người đã
qua được thời thơ ấu mông muội thì sự hấp dẫn của truyện về loài vật cũng
giảm đi. Nhưng đối với trẻ em thì truyện về loài vật vẫn rất được yêu thích.
Trẻ em tìm được con đường đi tới sự hiểu biết thế giới xung quanh mình và
cuộc sống dần dần qua những câu chuyện đơn giản và hấp dẫn về loài vật.
Vì vậy, đối tượng chính của truyện về loài vật là trẻ em. Ngược lại, đối
tượng chính của truyện ngụ ngôn là người lớn. Trẻ em có thể tiếp thu được
phần truyện kể, còn những bài học và ngụ ý sâu xa cần rút ra ở mỗi câu
chuyện thì không phải ở tầm của trẻ em. Ngay một số người lớn, nếu không
có một trình độ hiểu biết, những kiến thức nhất định thì đôi khi cũng khó
có thể hiểu được hết ý nghĩa của truyện ngụ ngôn.
Như vậy, điểm giống nhau giữa truyện ngụ ngôn và truyện về loài vật
là ở chỗ cùng có nhân vật là con vật. Nhưng sự khác nhau cơ bản là ở chỗ
truyện ngụ ngôn dùng loài vật để nói về con người, muốn nêu lên những
quan hệ ứng xử xã hội khó khăn, gay cấn đòi hỏi nhiều đến sự thông minh,
khôn ngoan… Vì thế, không thể xếp hai loại truyện này vào thành một loại
được, mà phải tách chúng ra để xem xét từng thể loại mới có thể thấy rõ vị
trí, vai trò và tác dụng của chúng.
Thứ hai: Truyện ngụ ngôn và truyện cổ tích thế sự
Về nội dung, truyện ngụ ngôn và truyện cổ tích thế sự là những truyện
cùng có nội dung xã hội, tức là cùng nói về việc đời. Cả hai loại truyện
cùng nêu lên những cách ứng xử, những tính cách, các quan niệm sống,
những triết lý, đạo đức nhân sinh, đều có sự phê phán, tố cáo và đấu tranh
cho một thế giới tốt đẹp với những con người hoàn thiện, hoàn mỹ. Nhưng
sự khác biệt ở chỗ, truyện cổ tích thế sự thường phản ánh cuộc sống ở một
22
truyện này là thông qua việc đời để hoàn thiện con người và mong ước có
cuộc sống tốt đẹp với những con người nhân hậu, hoàn thiện, hoàn mỹ. Dù
bằng phương pháp lý tưởng hóa ước mơ của những con người yếu đuối
trong truyện cổ tích hay đạt được cuộc sống tốt đẹp và có những con người
tốt đẹp thông qua sự khôn ngoan, sắc sảo của lối dùng ẩn dụ… trong truyện
ngụ ngôn thì mục đích duy nhất và cao nhất vẫn như vậy. Nhưng trẻ em là
đối tượng chính, chủ yếu của truyện cổ tích thế sự, còn ngược lại, người
lớn mới là đối tượng trực tiếp và chủ yếu của truyện ngụ ngôn. Truyện ngụ
ngôn đã lôi cuốn người lớn đến với nó, để những câu chuyện thâm thúy với
bao bài học kinh nghiệm quý báu giúp cho họ vượt qua những trở ngại,
những tình huống khó khăn trong cuộc sống. Trong xã hội ngày nay, truyện
ngụ ngôn vẫn còn được dùng để giáo dục con người, phê phán thói hư tật
xấu trong xã hội, giúp cho con người và xã hội loài người ngày càng sống
tốt hơn.
Thứ ba: Truyện ngụ ngôn với truyện cười
Giữa truyện ngụ ngôn và truyện cười có mối quan hệ gần gũi và có
những nét tương đồng khá thú vị, người ta có cảm giác người kể chuyện
luôn luôn ẩn giấu một nụ cười kín đáo, một thái độ châm biếm sâu sắc ở
truyện ngụ ngôn và họ sẽ cười to, thoái mái ở truyện cười. Chẳng hạn ở
truyện Thầy bói xem voi làm cho người nghe dễ dàng hình dung thấy cuộc
cãi vã vô bổ giữa mấy ông thầy bói mù. Các ông đánh nhau chỉ vì ông nào
cũng cho mình là đúng, mà đúng thật, khi chính ông đã “sờ tận tay”, nhưng
tất cả lại không đúng vì mỗi ông chỉ biết một bộ phận của con voi, nhưng
cứ tưởng rằng đã biết toàn bộ con voi. Sự nhầm lẫn chủ quan của mấy ông
thầy bói mù có tác dụng gây cười. Nhưng trong truyện này, mục đích chính
không phải là gây cười mà là ở bài học rút ra sau câu chuyện đó. Đó là một
lời khuyên người ta chớ vội kết luận việc gì khi mới chỉ biết một phần của
23
sự việc, đây thực chất là tư tưởng về cái toàn diện trong triết học. Cái cười
Tưởng rằng tôi mất
Chẳng hóa tôi không
Tôi cháy ra sông
Nuôi loài tôm cá
Qua các làng xã
Theo máng theo mương
Cho người giồng giọt
Thóc vàng chật cót
Cơm trắng đầy nồi
Vậy chớ khinh tôi
“Hạt mưa, hạt móc”.
Với bài đồng dao này đã cung cấp cho các em kiến thức về tự nhiên
một cách nhẹ nhàng, hấp dẫn, dễ hiểu và được trẻ em yêu thích. Tuy nhiên,
tính chất răn dạy, giáo dục ở truyện ngụ ngôn có tấm khái quát cao và sâu
sắc hơn nhiều so với đồng thoại, đồng dao. Nó là những bài học phải được
rút ra từ nội dung truyện và là một bài học gián tiếp chứ không trực tiếp và
đơn giản như trong các truyện đồng thoại, các bài đồng dao cho trẻ em. Về
đối tượng của truyện ngụ ngôn chủ yếu là người lớn, còn đối tượng của
đồng thoại, đồng dao thì hoàn toàn là trẻ em. Ở truyện ngụ ngôn, bài học
càng sâu sắc, thâm thúy bao nhiêu thì câu truyện càng hấp dẫn người đọc
bấy nhiêu. Ngược lại, đồng thoại, đồng dao lại yêu cầu câu chuyện phải
thật giản dị, hồn nhiên, ngộ ngĩnh để trẻ em ham thích, say mê đọc và hát.
25