Tìm hiểu những yếu tố triết học (hay triết lý dân gian) trong tục ngữ Việt Nam - Pdf 58

Tìm hiểu những yếu tố triết học (hay triết lý dân gian) trong tục ngữ
Việt Nam
Tục ngữ và triết học là hai lĩnh vực, hai hiện tượng ý thức xã hội khác nhau. Tục ngữ thuộc
lĩnh vực nghệ thuật, là một thể loại văn học dân gian (folklore), còn triết học thuộc lĩnh vực
khoa học, là khoa học về thế giới quan và phương pháp luận.
Tri thức của tục ngữ là tri thức dân gian, được rút ra trên cơ sở quan sát và miêu tả cái cụ
thể, đó là những tri thức kinh nghiệm, những "lẽ phải thông thường". Còn triết học - triết
học nào cũng đi xa hơn "lẽ phải thông thường là tri thức khoa học, là hệ thống những quan
niệm, quan điểm về thế giới, là sự tổng hợp và khái quát ở mức độ chung nhất và cao nhất
những quy luật vận động của tự nhiên, của xã hội, của con người, của tư duy. Tục ngữ là
văn học dân gian nên tác giả của nó là tập thể, là quần chúng nhân dân, còn triết học là
một môn khoa học nên tác già của một hệ thống hoặc một tác phẩm triết học bao giờ cũng
là cá nhân - là những người hoạt động trí óc chuyên nghiệp, có khả năng tư duy lý luận và
có năng lực khái quát cao. Xét về cội nguồn, về thời điểm ra đời tục ngữ cũng có trước triết
học. Tục ngữ đã có từ trong xã hội nguyên thuỷ, nhưng trong xã hội nguyên thủy thì chưa
thể có triết học, nhiều lắm là chỉ có những mầm mống của tư tưởng triết học, hay là tư duy
tiền triết học phải đến thời đại văn minh, tức là khi xã hội đã phân chia giai cấp thì triết học
thực sự mới có điều kiện ra đời, nghĩa là trình độ tư duy trừu tượng và các tri thức khoa học
của con người đã phát triển đến mức đòi hỏi và có khả năng khái quát các tư tưởng triết
học.
Tục ngữ tuy không phải là triết học nhưng về phương diện nào đó nó rất gần gũi với triết
học. Tục ngữ được làm ra với mục đích triết lý, luôn luôn cố gắng phát hiện ra bản chất và
tính quy luật của các sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người. Do đó
nhiều người gọi tục ngữ là "'triết lý dân gian", "triết học của nhân dân lao động". Điều đó
được thể hiện ở chỗ trong nội dung tục ngữ có chứa đựng những yếu tố của tư tưởng triết
học, nghĩa là những tư tưởng triết học không được thể hiện một cách đầy đủ và chặt chẽ
như những quy luật, nguyên lý và mệnh đề triết học mà nó chỉ được thể hiện một phần nào
đó và bằng cách nào đó trong nội dung của tục ngữ.
Về mặt thế giới quan, tục ngữ Việt Nam đã phản ánh những nhận thức có tính duy vật tự
phát, thừa nhận sự tồn tại và vận động khách quan của thế giới không phụ thuộc vào con
người: "Chạy trời không khỏi nắng", "Chạy mưa không khỏi trời", "trời", "nắng", "mưa" ở

là "người" nhưng không phải ai cũng như ai, cũng như tuy cùng là "của" nhưng không phải
cái gì cũng có hai trị như nhau, vì thế tục ngữ ta cũng có phân loại: “Người ba bẩy đảng, của
ba bẩy loài”.
Đi đôi với tư tưởng duy vật tự phát, trong tục ngữ Việt Nam cũng chứa đựng rất nhiều
những yếu tố của tư tưởng biện chứng. Đó là cách nhìn nhận các sự vật và hiện tượng
không phải ở trạng thai đứng im, bất biến mà ở trong sự vận động, biến đổi và phát triển và
luôn luôn liên hệ điều đó với đời sống con người: “Trời còn có khả năng khi mưa, ngày còn
khi sớm khi trưa nữa người”, “Người có lúc vinh, lúc nhục, nước có lúc đục lúc trong”, “Ai
giàu ba họ, ai khó ba đời”, “Hết cơn bĩ cực đến kỳ thái lai”, “Tre già măng mọc”, “Con chị nó
đi, con dì nó lớn”…
Các sự vật và hiện tượng không tồn tại độc lập, tách rời nhau: mà giữa chúng có những mối
liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau với mức độ và phạm vi khác nhau tùy theo từng đối tượng
cụ thể: "Mạ nhờ nước, nước nhờ mạ”, “Hồ cậy rừng, rừng cậy hồ”, “Gần mực thì đen, gần
đèn thì sáng”, “Gần lửa rát mặt”, “Cháy thành vạ lây”, “Con sâu bỏ rầu nồi canh”, “Thớt trên
mòn, thớt dưới cũng mòn’, “Trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết”, “Cả nhà làm quan cả họ
được cậy, một người làm bậy cả họ mất nhờ”, “Lê tồn Trịnh, tại Lê bại Trịnh vong”…
Mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng được tục ngữ thể hiện khá phong phú và sinh
động, tuy không phải dùng đến khái niệm “Chất, lượng, độ, thuộc tính” như triết học. Phân
biệt chất khác nhau được tạo nên bởi những thuộc tính khác nhau: “Chẳng chua cũng thể là
chanh, chẳng ngọt cũng thể cam sành chín cây”. Chất khác nhau tạo ra những giá trị khác
nhau: “Trăng mờ còn tỏ hơn sao, dẫu rằng núi nở còn cao hơn đồi”. Không thể lấy lượng
thay chất được dù rằng lượng đó gấp bao nhiêu lần: “Trăm đom đóm không bằng bó đuốc,
trăm hòm chỉ chẳng đúc lên chuông”. Chất bao giờ cũng được coi trọng hơn lượng. “Quý hồ
tinh bất quý hồ đa”, “Văn hay chẳng lọ dài dòng”… và rất nhiều câu diễn tả sự thay đổi về
lượng khi “vượt độ” sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất: “Quá mù ra mưa”, “Tốt quá hoá lốp”,
“Mèo già hoá cáo”, “Góp gió thành bão, góp cây nên rừng”… Đặc biệt có câu thể hiện sự
chuyển hoá lẫn nhau giữa khái niệmlượng và khái niệm chất: ”Gò với núi cũng kể loài cao,
bể với ao cũng kể loài thấp”.
Mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng được tục ngữ nói đến ở nhiều góc độ và mức độ
khác nhau, rất thực tế và linh hoạt. Bản chất bao giờ cũng bộc lộ qua hiện tượng: "Người

phận nhân dân trong xã hội ta ngày nay, đặc biệt là đối với lớp người làm nghề buôn bán và
tầng lớp thanh niên gặp nhiều khó khăn, trắc trở về tình duyên, về công việc làm ăn... Đó
cũng là điều khó tránh khỏi. Chi có sự phát triển của đời sống xã hội và kinh nghiệm thực tế
của mỗi người mới có thể dần dần khắc phục và loại trừ những quan niệm sai lầm trong thế
giới quan và nhân sinh quan.
Ý nghĩa triết học của kho tàng tục ngữ Việt Nam rất rộng lớn, phong phú, muôn hình, muôn
vẻ. Đó là những di sản quý báu “Những viên ngọc quý” của đời sống tinh thần được coi như
một trong những điểm tựa về tư tưởng truyền thống của dân tộc mà chúng ta cần và có thể
chọn lọc, kế thừa và sử dụng trong cuộc sống mới hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status