Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang
Đài Loan Nguyễn Văn Ngữ Trƣờng Đại học Kinh tế
Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Hữu Sở
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hoạt động (xuất khẩu lao
động) XKLĐ làm cơ sở để phân tích, đánh giá một cách khoa học và mang tính
khách quan hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan. Khái quát hoá vấn đề lý
luận về hoạt động XKLĐ, phân tích, so sánh, đánh giá hoạt động XKLĐ Việt Nam
sang thị trƣờng Đài Loan với hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang các thị trƣờng
khác và đặt trong mối quan hệ với một số hoạt động khác của nền kinh tế. Hệ thống
hoá lý luận về hoạt động XKLĐ, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về hoạt động
XKLĐ từ đó rút ra bài học kinh nghiệm áp dụng vào Việt Nam, xây dựng các chỉ
tiêu đánh giá khách quan, so sánh, phân tích một cách khoa học về thực trạng hoạt
động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan. Đƣa ra những giải pháp để không ngừng đẩy
mạnh hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan nói riêng và nƣớc ngoài nói chung.
Keywords. Kinh tế lao động; Xuất khẩu lao động; Việt Nam; Đài Loan
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
trƣờng Đông Bắc Á, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị, Trƣờng đại học Kinh tế, Đại học Quốc
gia Hà Nội. Trần Thị Thanh Trà (2006), Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trƣờng Đông
Bắc Á, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế đối ngoại, Khoa Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu đã khái quát hoá một số vấn đề lý luận về XKLĐ, phân tích
thực trạng XKLĐ ở Việt Nam, từ đó đã có những giải pháp để từng bƣớc đổi mới, hoàn thiện,
thúc đẩy hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang làm việc ở nƣớc ngoài. Tuy nhiên, sự nghiên
cứu mới đƣợc xem nhƣ ở từng khía cạnh, chƣa đƣợc nghiên cứu mang tính chất hệ thống về
hoạt động XKLĐ Việt Nam sang làm việc tại Đài Loan.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hoạt động XKLĐ.
- Phân tích, so sánh, đánh giá hoạt động XKLĐ Việt Nam sang thị trƣờng Đài Loan với
các thị trƣờng khác và với một số hoạt động khác của nền kinh tế.
- Đƣa ra những giải pháp để không ngừng đẩy mạnh hoạt động XKLĐ Việt Nam sang
Đài Loan.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tƣợng nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan gắn với hoạt
động XKLĐ của Việt Nam sang các thị trƣờng khác.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu hoạt động XKLĐ Việt Nam sang làm việc tại Đài Loan.
+ Về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài
Loan (2000 – 2010).
5. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ:
- Phƣơng pháp hệ thống và trừu tƣợng hóa khoa học.
- Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp.
- Phƣơng pháp thống kê, so sánh và mô hình toán.
- Phƣơng pháp logic - lịch sử.
6. Những đóng góp mới của luận văn.
- Hệ thống hoá để làm rõ những vấn đề mang tính lý luận cơ bản về hoạt động XKLĐ Việt
Nam sang Đài Loan và nƣớc ngoài nói chung để làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng
hoạt động XKLĐ sang Đài Loan.
thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định, tức ngƣời lao động phải đƣợc tự do về
thân thể và ngƣời lao động bị tƣớc đoạt hết tƣ liệu sản xuất” [ 7, tr 84-88].
1.1.2. Nguồn nhân lực, di dân.
* Nguồn nhân lực.
Theo Liên hiệp quốc (UN) thì nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh
nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân
và của đất nƣớc.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ
những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.
* Di dân, tính tất yếu của di dân.
- Khái niệm di dân.
“Di dân là quá trình di chuyển của con ngƣời qua biên giới của vùng lãnh thổ này sang
vùng lãnh thổ khác kèm theo hiện tƣợng di chuyển chỗ ở thƣờng trú hoặc thay đổi tạm thời.
Nếu sự di chuyển đó diễn ra trong phạm vi từng nƣớc thì gọi là di dân nội địa, còn nếu sự di
chuyển đó vƣợt ra khỏi phạm vi mỗi nƣớc và mang tính chất liên quốc gia thì gọi là di dân
quốc tế” [14, tr.96-107].
- Tính tất yếu của di cƣ lao động quốc tế.
Một là, do sự mất cân đối giữa cung - cầu về việc làm trong mỗi quốc gia dẫn đến di
cƣ quốc tế.
Hai là, sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các quốc gia trong cùng khu vực
và trên thế giới.
Ba là, chênh lệch về mức tăng dân số giữa các quốc gia.
Bốn là, do tác động của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế.
1.1.3. Sự hình thành và phát triển của thị trƣờng lao động, XKLĐ và một số khái niệm liên
quan.
* Khái niệm thị trƣờng lao động.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): Thị trƣờng lao động là thị trƣờng trong đó có
các dịch vụ lao động đƣợc mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ việc làm của
lao động cũng nhƣ mức độ tiền công.
* Thị trƣờng lao động quốc tế là nơi diễn ra quan hệ mua bán sức lao động trên quốc tế.
Năm là, truyền thống, văn hoá, dân tộc.
Sáu là, sự điều chỉnh hay thay đổi chính sách, luật pháp của Đài Loan.
Bảy là, lao động Việt Nam tại Đài Loan có một số vi phạn pháp luật nƣớc sở tại.
1.2. Nội dung của hoạt động XKLĐ.
1.2.1. Cấp phép và quản lý các doanh nghiệp XKLĐ.
1.2.2. Nghiên cứu, khai thác thị trƣờng nƣớc ngoài.
1.2.3. Khai thác, tuyển chọn lao động trong nƣớc.
1.2.4. Đào tạo lao động.
1.2.5. Các khoản chi phí và các khoản khấu trừ của ngƣời lao động sang Đài Loan.
1.2.6. Đƣa ngƣời lao động sang nƣớc ngoài và tổ chức quản lý lao động.
1.2.7. Thanh lý hợp đồng lao động
1.3. Hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang nước ngoài.
1.3.1. Khái niệm hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Hiệu quả kinh tế - xã hội là chỉ tiêu biểu hiện quan
hệ giữa kết quả của nền sản xuất xã hội (xét cả hai mặt kinh tế và xã hội) và các nguồn phƣơng
tiện tạo ra nó, đƣợc đánh giá thông qua thƣớc đo thực hiện mục tiêu của một phƣơng thức sản
xuất nhất định và những nhiệm vụ KT - XH của từng thời kỳ, từng kế hoạch dài hạn và kế
hoạch hàng năm”.
1.3.2. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ sang nƣớc ngoài.
1.3.2.1. Quy mô, số lượng lao động Việt Nam tại nước ngoài.
Quy mô lao động làm việc tại nƣớc ngoài là chỉ tiêu phản ánh số lƣợng lao động bình
quân của Việt Nam làm việc tại nƣớc ngoài hàng năm và đƣợc tính theo công thức:
QMj = QMexj + QMexj-1 – Qmimj (1.1)
Trong đó:
QMj là số lao động bình quân làm việc tại nƣớc ngoài năm thứ j;
QMexj là số lao động xuất khẩu sang nƣớc ngoài bình quân năm thứ j; QMexj-1là số lao động
đang làm việc tại nƣớc ngoài cuối năm thứ j-1;
QMimj là số lao động tại nƣớc ngoài về nƣớc năm thứ j; j là năm nghiên cứu.
1.3.2.2 Mức độ giải quyết việc làm của hoạt động XKLĐ sang nước ngoài.
Mức độ giải quyết việc làm hàng năm từ hoạt động XKLĐ sang nƣớc ngoài là tỉ lệ %
2.1. Giới thiệu thị trường lao động Đài Loan.
2.1.1. Tổng quan về thị trƣờng lao động Đài Loan.
2.1.2. Quan hệ cung cầu về lao động và những yêu cầu nhập khẩu lao động của Đài Loan: Từ
năm 1990, Đài Loan bắt đầu nhận lao động của các nƣớc Thái Lan, Philipin, Indonesia và từ
tháng 11 năm 1999 đến nay Đài Loan tiếp nhận thêm lao động Việt Nam.
2.2. Phân tích thực trạng hoạt động XKLĐ sang Đài Loan từ 2000 đến 2010.
2.2.1. Việc cấp phép và quản lý các doanh nghiệp XKLĐ: Thời gian qua, không ít doanh
nghiệp XKLĐ đƣợc cấp phép hoạt động XKLĐ sang Đài Loan nhƣng khoán trắng việc thực
hiện cho Chi nhánh.
2.2.2. Khai thác, mở rộng thị trƣờng nƣớc ngoài: Chính phủ và các doanh nghiệp XKLĐ phải
tốn rất nhiều thời gian, công sức và kinh phí, thậm chí có lúc không khai thác đƣợc hoặc bị để
mất thị trƣờng.
2.2.3. Tuyển chọn lao động trong nƣớc.: Nhìn chung các doanh nghiệp thực hiện việc tuyển
chọn thông qua các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội địa phƣơng. Tuy nhiên, đôi
lúc không đáp ứng kịp thời đơn hàng của đối tác Đài Loan.
2.2.4. Đào tạo lao động: Công tác đào tạo lao động trƣớc khi sang Đài Loan trong thời gian qua
vẫn chƣa đƣợc quan tâm nhiều.
2.2.5. Các khoản chi phí và khấu trừ của lao động sang Đài Loan.
- Các khoản chi phí của lao động khi xuất cảnh thể hiện tại bảng 2.1.
Bảng 2.1. Tổng hợp các khoản chi phí của người lao động khi xuất cảnh. TT
Các khoản chi phí phải nộp
ĐVT
Tiền
1
Phí dịch vụ
USD
1.192
động sang nƣớc ngoài, dẫn đầu là Đài Loan với 237.643 lao động, Malaysia là 184.614 lao
động , số liệu tại bảng 2.2.
Bảng 2.2. Số lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài (2000 – 2010)
ĐVT: Ngƣời
Năm
Đài
Loan
Malaysia
Nhật
Bản
Hàn
Quốc
Nước
khác
Tổng
cộng
2000
8.099
239
1.497
7.316
14.349
31.500
2001
7.782
23
3.249
3.910
21.204
14.127
37.941
5.360
10.577
10.850
78.855
2007
23.640
26.704
5.517
12.187
16.972
85.020
2008
31.631
7.810
6.142
18.141
23.266
86.990
2009
21.677
2.792
5.456
7.578
35.525
73.028
2010
28.499
11.741
XKLĐ để tiến hành thanh lý hợp đồng.
2.3. Đánh giá hiệu quả KT – XH của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan.
2.3.1. Hiệu quả KT - XH của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan về quy mô, số lƣợng
lao động.
Trong tổng số lao động nƣớc ngoài đang có mặt tại Đài Loan hiện nay thì lao động
của Indonesia chiếm khoảng 41%, Việt Nam chiếm khoản 21%, Philippin chiếm khoảng gần
21%, Thái Lan khoảng 17%, một số ít không đáng kể của các nƣớc khác nhƣ Malaysia và
Mông Cổ.
2.3.2. Hiệu quả KT – XH của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan về giải quyết việc
làm.
Năm 2010, số lao động xuất khẩu sang Đài Loan 28.499 ngƣời, chiếm 1,77% trong
tổng số ngƣời đƣợc tạo việc làm mới của cả nƣớc và chiếm 33,3% trong tổng số lao động xuất
khẩu của cả nƣớc.
2.3.3. Hiệu quả kinh tế của hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan về thu nhập.
- Hiệu quả kinh tế về thu nhập của người lao động tại Đài Loan: Tiền lƣơng cơ bản
hợp đồng 02 năm là 429.120 NT$, tiền làm thêm giờ là 118.800 NT$. Tiền lƣơng cơ bản hợp
đồng 03 năm là 643.689, tiền làm thêm giờ là 178.300 NT$, bảng 2.9.
Bảng 2.9. Thu nhập cơ bản và thu nhập thực tế của người lao động theo hợp đồng.
ĐVT: NT$
Thời
hạn
Lương
cơ bản
Khoản
khấu
trừ
Lương làm
thêm giờ
Thu nhập
trường
Đơn vị tính
Thu nhập thực tế
1
Malaysia
USD/ngƣời/tháng
250 - 300
2
Đài Loan
USD/ngƣời/tháng
550 - 600
3
Nhật Bản
USD/ngƣời/tháng
1.000
4
Hàn Quốc
USD/ngƣời/tháng
1.000 - 1.100
Nguồn: Cục QLLĐNN – Bộ LĐTB & XH (2011)
Qua số liệu tại bảng 2.10, thu nhập bình quân hàng tháng của ngƣời lao động tại thị
trƣờng Đài Loan gấp khoản 2 lần so với thu nhập của ngƣời lao động làm việc tại Malaysia, và
thu nhập bình quân hàng tháng của ngƣời lao động tại thị trƣờng Đài Loan thấp hơn so với lao
động làm việc tại thị trƣờng Nhật Bản và Hàn Quốc.
- Hiệu quả kinh tế về thu nhập của người lao động tại Đài Loan đóng góp vào GDP
bình quân đầu người hàng năm của Việt Nam
về phòng ngừa bệnh.
- Phí môi giới, phí quản lý của lao động cao
Chương 3
ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO
ĐỘNG SANG ĐÀI LOAN
3.1. Bối cảnh mới.
3.1.1. Bối cảnh Quốc tế.
- Tình hình chung thị trường lao động Quốc tế.
Một là, những tác động rõ nhất đó là tình trạng sụt giảm của thƣơng mại toàn cầu. Điều
này ảnh hƣởng đến tốc độ tăng trƣởng kinh tế và việc làm của ngƣời lao động ở các nƣớc,
trong đó có Việt Nam.
Hai là, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn giữa các công ty cung ứng lao động của
các nƣớc khác nhau vào thị trƣờng Đài Loan.
Mặc dù các nền kinh tế trên thế giới đang gặp khó khăn do khủng hoảng, nhƣng quá
trình hội nhập, các quan hệ kinh tế, đối ngoại, lao động… đƣợc thiết lập tạo điều kiện cho lao
động Việt Nam có nhiều cơ hội đi làm việc ở nƣớc ngoài.
- Tình hình tại thị trường lao động Đài Loan.
Hàng năm, Đài Loan có nhu cầu sử dụng trên 300.000 lao động nƣớc ngoài, mức lƣơng
cơ bản hiện nay là 17.880 NT$ (tƣơng đƣơng 596 USD/ngƣời/tháng). Dự báo trong những năm
tới, nhu cầu tiếp nhận lao động nƣớc ngoài tại thị trƣờng này vẫn có xu hƣớng tăng mạnh, đây
là cơ hội rất lớn cho lao động Việt Nam sang Đài Loan.
3.1.2. Bối cảnh trong nƣớc.
Về số lƣợng nguồn nhân lực xã hội: “Hiện nay cả nƣớc có khoảng 43,9 triệu lao động
trong độ tuổi lao động đang làm việc, chiếm 51,2% dân số. Hàng năm, Việt Nam có khoảng
trên 1 triệu ngƣời bƣớc vào độ tuổi lao động, dự báo đến 2015 sẽ có khoảng 64,3 triệu ngƣời
trong độ tuổi lao động, chiếm khoảng 62,8% dân số và nhƣ vậy Việt Nam đã bƣớc vào thời kỳ
đỉnh cao về số lƣợng dân số, đó là “cơ cấu dân số vàng”. Đây là “cơ hội vàng” cho đất nƣớc
phát triển, tận dụng nguồn nhân lực vô cùng quý gía để phát triển kinh tế, thực hiện thắng lợi
sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc” [29].
- Đối với cơ quan quản lý Nhà nƣớc về hoạt động XKLĐ cần tăng cƣờng hơn nữa trong
việc phối hợp kiểm tra, giám sát.
Một là, kiểm tra, giám sát hoạt động môi giới, tuyển chọn, đào tạo lao động, việc ký kết
và thực hiện các điều khoản hợp đồng giữa doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam với đối tác Đài
Loan, giữa ngƣời lao động với chủ sử dụng Đài Loan.
Hai là, kiểm tra, giám sát thƣờng xuyên việc thực hiện trách nhiệm của các doanh
nghiệp XKLĐ về công tác quản lý lao động Việt Nam tại Đài Loan.
Ba là, chỉ đạo và hỗ trợ các doanh nghiệp XKLĐ sang Đài Loan thực hiện biện pháp
ngăn ngừa hiện tƣợng lao động bỏ trốn mới.
Bốn là, Chính phủ thông qua quan hệ hợp tác ngoại giao với chính phủ Đài Loan cho
phép các doanh nghiệp XKLĐ đƣợc cử cán bộ sang thƣờng trực tại Đài Loan với thời hạn ít
nhất từ 06 tháng trở lên.
- Đối với các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam đƣợc phép đƣa lao động sang Đài Loan.
Một là, tìm hiểu kỹ đối tác ngay từ khi nghiên cứu thị trƣờng, đàm phán và đi đến ký
kết các hợp đồng cung ứng lao động với đối tác Đài Loan.
Hai là, cần chủ động nắm tình hình thị trƣờng lao động Đài Loan về việc làm, thu nhập,
điều kiện sinh hoạt
Ba là, phối hợp với cơ quan chức năng, chủ sử dụng, đối tác, Ban QLLĐ Việt Nam tại
Đài Loan để nắm bắt những thông tin về số lao động đang bỏ trốn tại Đài Loan.
- Đối với ngƣời lao động Việt Nam tại Đài Loan.
Một là, mỗi cá nhân đều phải nhận thức và có trách nhiệm thực hiện đúng các nội dung
trong hợp đồng đã ký với doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam và hợp đồng đã ký với chủ sử dụng
lao động Đài Loan.
Hai là, phối hợp với chủ sử dụng, đối tác, Ban QLLĐ Việt Nam tại Đài Loan và doanh
nghiệp XKLĐ Việt Nam để đƣợc hỗ trợ giải quyết phát sinh.
3.2.2.3. Nhóm giải pháp về tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động
XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan.
Một là, các doanh nghiệp XKLĐ sang Đài Loan có vai trò hết sức quan trọng, là cầu
nối giữa nguồn cung lao động trong nƣớc với mức cầu tiếp nhận lao động của Đài Loan.
Hai là, xây dựng và phát triển một số doanh nghiệp XKLĐ chuyên doanh làm nòng cốt
Đề tài “Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan” đã góp phần làm rõ
thêm lý luận và tổng kết thực tiễn trên những mặt sau:
1. Cùng với lĩnh vực hoạt động XKLĐ Việt Nam sang nƣớc ngoài, hoạt động XKLĐ
sang Đài Loan đã và đang tham gia mạnh mẽ đối với thị trƣờng lao động quốc tế.
2. Hệ thống hoá cả về mặt lý luận và thực tiễn những vấn đề liên quan đến hoạt động
XKLĐ Việt Nam sang nƣớc ngoài, xác định nội dung và phân tích nhân tố ảnh hƣởng đến
XKLĐ, những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả KT – XH của hoạt động XKLĐ. Đánh giá thực trạng
hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan, thấy đƣợc hiệu quả KT-XH, thành công, hạn chế,
những bất cập và nguyên nhân rút ra, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động
XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan trong thời gian tới.
3. Luận văn đã nghiên cứu kinh nghiệm XKLĐ của một số nƣớc cung ứng lao động
sang Đài Loan, từ đó rút ra những bài học, kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam. Nghiên cứu
bối cảnh mới ở trong nƣớc và quốc tế để thấy đƣợc thời cơ và thách thức của hoạt động XKLĐ
sang Đài Loan. Nghiên cứu những định hƣớng phát triển KT - XH trong nƣớc liên quan đến
XKLĐ sang Đài Loan.
4. Nhằm đẩy mạnh hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan trong thời gian tới đạt
hiệu quả, luận văn đã đề xuất 07 nhóm giải pháp cơ bản. Trong mỗi nhóm giải pháp, luận văn
tiếp tục đề xuất những giải pháp cụ thể theo từng đối tƣợng, từng lĩnh vực nhằm đẩy mạnh hoạt
động XKLĐ sang Đài Loan.
Mặc dù tác giả đã cố gắng thu thập số liệu, phân tích, đánh giá, trao đổi với các nhà
khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp XKLĐ, đồng nghiệp, ngƣời lao động nhằm đánh giá
đúng thực trạng và đề xuất các giải pháp sát thực, có tính khả thi cao. Tuy nhiên, do khả năng
của tác giả có hạn, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết. Do vậy, tác giả
rất mong nhận đƣợc sự góp ý của Hội đồng chấm luận văn, các thầy (cô) giáo. References
1. Đặng Nguyên Anh (4/2011), “Tái cấu trúc dân số nguồn nhân lực đáp ứng mục tiêu phát
triển bền vững ở Việt Nam”, Tạp chí cộng sản (số 822).
107.
15. Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2004), “Giáo trình quản trị nhân lực”, Nxb Lao
động xã hội.
16. Tống Văn Đƣờng (2005), “Giáo trình dân số và phát triển”, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc
dân, tr.78.
17. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”, Nxb
chính trị quốc gia, tr.70.
18. Lê Hồng Huyên (2011), Quản lý Nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở
nước ngoài, Luận án tiến sĩ Kinh tế chính trị, Trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà
Nội.
19. Lƣu Văn Hƣng (2011), Xuất khẩu lao động Việt Nam thời đổi mới và hội nhập, Nxb Từ
điển bách khoa.
20. Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam (2011), Bản tin lao động việc làm ngoài nƣớc, (số
1).
21. Dƣơng Tuyết Nhung (2008), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu tại các doanh
nghiệp xuất khẩu ở Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Trƣờng Đại học Kinh tế -
Đại học Quốc gia Hà Nội.
22. Quốc hội (2006), Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số
72/2006/QH10 ngày 29/11/2006 của Quốc hội khoá XI, Kỳ họp thứ 10.
23. Trần Thị Thanh Trà (2006), Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đông Bắc
Á, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế đối ngoại, Khoa Kinh tế - Trƣờng Đại học Quốc gia Hà Nội.
24. Trần Xuân Thọ (2009), Xuất khẩu lao động sang thị trường EU, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế
đối ngoại, Trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.
25. Nguyễn Bình Giang (2011), “di chuyển lao động quốc tế”, tài liệu tham khảo, Viện Kinh
tế & Chính trị thế giới - Viện KH - XH Việt Nam.
26. Khu Thị Tuyết Mai, Vũ Anh Dũng (2009), “Giáo trình Kinh tế quốc tế”, Trường Đại
học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội, tr.195-199
27. Trần Bình Trọng (2008), “Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế”, Bộ môn Kinh tế
chính trị, Trƣờng đại học Kinh tế quốc dân, tr. 255.
28. Minh Tâm (2011), “Thực trạng lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài đã trở về Việt Nam”,