Lựa chọn đầu tư công ở việt nam - Pdf 10

Lựa chọn đầu tư công ở Việt Nam
Public investment selection in Vietnam
NXB H. : ĐHKT, 2012 Số trang 85 tr. + Ngô Thùy Dung Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Hồng Điệp
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế về lựa chọn đầu tư công.
Phân tích thực trạng lựa chọn đầu tư công ở Việt Nam: thời kỳ trước Đổi mới (trước năm
1986); Giai đoạn Đổi mới (Từ 1986 đến nay); Những vấn đề đặt ra của việc lựa chọn đầu tư
công ở Việt Nam hiện nay. Đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm cải thiện lựa chọn đầu
tư công ở Việt Nam: xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của Nhà nước trong nề kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhìn nhận một cách đúng đắn vai trò của lựa chọn đầu tư
công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Đưa ra một vài khuyến nghị:
hoàn thiện về mặt pháp lý các văn bản liên quan lựa chọn đầu tư công; Cải cách cơ chế,
phương pháp, cách thức hiện lựa chọn đầu từ công; Cải cách tổ chức và bộ máy nhân sự lựa
chọn đầu tư công nhằm cải thiện lựa chọn đầu tư công ở Việt Nam

Keywords: Kinh tế chính trị; Đầu tư công; Việt Nam; Đầu tư

Content.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự không hiệu quả của một dự án, danh mục dự án đầu tư công,

Ở Việt Nam, nghiên cứu của TS. Bùi Đại Dũng “Hiệu quả của chi tiêu ngân sách dưới sự tác
động của vấn đề nhóm lợi ích ở một số nước trên thế giới” đưa ra tác động của các nhóm lợi ích
trong quá trình hoạch định và triển khai các chương trình chi tiêu công đến hiệu quả của nó. Nghiên
cứu của GS.TS Dương Thị Bình Minh “Quản lý chi tiêu công thực trạng và giải pháp” khái quát về
quản lý chi tiêu công trong đó có những vấn đề trong khâu lên kế hoạch trung và dài hạn cũng như
các biện pháp giải quyết. Ngoài ra, các báo cáo kinh tế thế giới và báo cáo kinh tế Việt Nam của
World Bank cũng chỉ ra những vấn đề trong khâu hoạch định và triển khai chương trình đầu tư công:
“Đánh giá chi tiêu công ở Việt nam 2000”; “Đánh giá tổng hợp chi tiêu công 2004”; “Việt Nam:
Quản lý và điều hành 2005”… Nhiều bài báo, công trình nghiên cứu trong nước về thực trạng và giải
pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công cũng đã chỉ ra các yếu tố quyết định như: xác lập cơ chế ràng
buộc ngân sách cứng, kiểm soát chi đầu ra, cải thiện cơ chế đấu thầu, nâng cao chất lượng kiểm toán
và kiểm định chương trình…
Tuy đã có những nghiên cứu về quá trình đưa ra chính sách đối với các phương án được lựa chọn,
song do đặc thù về quy trình và cơ chế đưa ra chính sách ở từng nước, nên việc nghiên cứu quá trình
lựa chọn đầu tư công và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đó ở Việt Nam là một vấn đề mới. Do
đó, luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu và trả lời các câu hỏi sau đây:
Một là, lựa chọn đầu tư công là gì? Các nhân tố của quá trình này? Các nhân tố ảnh hưởng đến
quá trình này?
Hai là, thực trạng lựa chọn đầu tư công ở Việt nam trước đổi mới và sau đổi mới?
Ba là, làm thế nào để lựa chọn đầu tư công hiệu quả?
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của lựa chọn đầu tư công và các nhân tố có liên quan đến
quá trình này.
- Làm rõ đặc điểm của lựa chọn đầu tư công ở Việt Nam.
- Đề xuất các khuyến nghị nâng cao hiệu quả của đầu tư công thông qua giải quyết các vấn đề của
lựa chọn đầu tư công.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các kế hoạch đầu tư công, trong đó, chú trọng đến lựa chọn
đầu tư công. Ngoài ra, đề tài đi vào nghiên cứu những dự án đầu tư cụ thể như những nghiên cứu
điển hình để minh họa.

nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước (hàng hóa công cộng, hàng hóa khuyến dụng, định hướng
đầu tư, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội).
1.1.1.2. Các tiêu chuẩn xác định hiệu quả của đầu tƣ công
Về mặt vi mô, đứng dưới góc độ nhà đầu tư:
Tiêu chuẩn tài chính là tiêu chuẩn quan trọng nhất. Một dự án, một phương án đầu tư, một mục
đầu tư phải có lợi ích ròng dương (NPV >0).
Về mặt vĩ mô, đứng dưới góc độ nhà quản lý:
Theo nguyên tắc, kết quả phát triển kinh tế là kết quả do nhiều yếu tố chứ không phải chỉ do đầu
tư hoặc chỉ do đầu tư công.
Nhóm chỉ tiêu cơ bản: Hiệu suất sử dụng vốn đầu tư công, được đo bằng một số chỉ tiêu chính
như: (1) Chỉ số ICOR; (2) Chỉ số giá trị gia tăng tăng thêm bình quân trên một đồng vốn đầu tư công;
(3) Tỷ lệ đóng góp của đầu tư công vào tăng trưởng kinh tế; (4) Tỷ lệ đóng góp của đầu tư công vào
thu ngân sách; (5) Tỷ lệ vốn đầu tư công trở thành tài sản; (6) Chỉ số tác dụng lan truyền của đầu tư
công; (7) Chỉ tiêu phản ánh số người được nuôi sống nhờ đầu tư công.
Nhóm chỉ tiêu bổ trợ: (1) Tỷ lệ thất thoát vốn của đầu tư công; (2) Thời gian thi công kéo dài của
đầu tư công.
1.1.2. Lựa chọn đầu tư công
Lựa chọn đầu tư công là một khái niệm phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển và đưa ra quyết
định của nhà nước đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công nhằm cung cấp
hàng hóa công tốt nhất cho xã hội.
Lựa chọn công có thể được hiểu là quá trình lập kế hoạch đầu tư công dưới tác động của các nhóm
nhân tố: cơ chế điều phối nền kinh tế, cơ chế ra quyết định, các nhóm lợi ích.
Lựa chọn công không chỉ đơn thuần là một quá trình nghiệp vụ mà là một tương tác giữa các chủ
thể trong nền kinh tế để đưa ra được một sản phẩm là kế hoạch đầu tư công.
Khi nghiên cứu đặc điểm lựa chọn đầu tư công, cần phải quan tâm đến các nhân tố sau:
(1) Các nhân tố thuộc quá trình lập kế hoạch đầu tư công:
- Chính sách quản lý lựa chọn đầu tư công thể hiện qua các văn bản quy phạm pháp luật, các văn
bản hướng dẫn thực hiện quá trình lập kế hoạch đầu tư công.
- Cơ chế lập kế hoạch đầu tư công bao gồm: cơ chế phân cấp đối với việc lập kế hoạch đầu tư
công (bottom up hoặc top down); cơ chế phân bổ ngân sách cho đầu tư công (bình quân hoặc ưu


Hình 1.2: Quy trình lập kế hoạch đầu tư công
1.1.2.2. Các nhân tố thể chế bên ngoài quy trình lập kế hoạch
 Cơ chế điều phối nền kinh tế
Cơ chế điều tiết có ảnh hưởng đến ứng xử của Nhà nước trong nền kinh tế, cụ thể là đối với quản
lý các hoạt động đầu tư công, thể hiện chức năng của Nhà nước.
Bảng 1.1: So sánh đặc điểm của hệ thống lựa chọn đầu tƣ công trong hai mô hình kinh tế
Đặc điểm của
lựa chọn đầu
tƣ công
Trong nền kinh tế thị trƣờng thuần
túy
Trong nền kinh tế kế hoạch chỉ huy
Nguyên tắc
Tuân theo nguyên tắc thị trường
Tuân theo kế hoạch của nhà nước dựa trên
nghiên cứu của nhà nước về nhu cầu xã
hội.
Tác động
Chỉ mang tính điều chỉnh các thất bại thị
trường
Tác động đến mọi lĩnh vực trong nền kinh
tế
Ngân sách

- Ảnh hƣởng của các nhân tố khác trong lựa chọn đầu tƣ công đến hiệu quả đầu tƣ công
Ngoài các yếu tố kể trên, đầu tư công còn chịu ảnh hưởng gián tiếp từ các nhân tố tác động đến
quy trình lập kế hoạch đầu tư công. Có thể kể đến tác động từ cơ chế điều phối nền kinh tế, cơ chế
biểu quyết để ra quyết định đầu tư, nhóm lợi ích.
1.2. Kinh nghiệm về lựa chọn đầu tƣ công của một số nƣớc và bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam
1.2.1. Kinh nghiệm của một số nước về lựa chọn đầu tư công
- Khung khổ Quản lý tài khóa và Kế hoạch tài khóa trung hạn của Hàn Quốc
- Quản lý dựa trên kết quả có sự lồng ghép của Malaysia
1.2.2. Bài học rút ra cho Việt Nam
Tuy nhiên do bối cảnh từng nước khác nhau, việc áp dụng cũng hạn chế trong một số điểm nhất
định.
Thứ nhất, cần đảm bảo có được cơ sở dữ liệu mang tính hệ thống, chính xác phục vụ phân tích dự
báo trung hạn.
Thứ hai, cần có sự tham gia rộng rãi.
Thứ ba, kỷ luật tài khóa cần phải được tôn trọng để đảm bảo việc tuân thủ các trần chi tiêu cũng như
kế hoạch ngân sách đã được Quốc hội phê duyệt.
Thứ tư, thực hiện Kế hoạch tài khóa trung hạn với quy trình phân bổ trần ngân sách đồng nghĩa với
tăng cường phân cấp cho các Bộ, ngành, địa phương.
Thứ năm, việc phối hợp giữa hai Bộ chủ chốt là Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính cần được
nghiên cứu kỹ, đặt ra cơ chế phối hợp phù hợp nhằm đạt hiệu quả công việc cao nhất.
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG LỰA CHỌN ĐẦU TƢ CÔNG Ở VIỆT NAM
2.1. Lựa chọn đầu tƣ công thời kỳ trƣớc đổi mới (trƣớc năm 1986)
2.1.1. Bối cảnh lịch sử
2.1.2. Đặc điểm của lựa chọn công thời kỳ trước đổi mới
Mục tiêu chính là phát triển khu vực kinh tế quốc doanh nhằm mục đích làm cho khu vực kinh tế
này có khả năng sản xuất và cung cấp mọi hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho đời sống người dân.
Cơ chế điều phối quan liêu, bao cấp chi phối nền kinh tế vì vậy trong các khu vực thuộc sở hữu
công cộng thì ràng buộc ngân sách mềm. Chính cơ chế điều phối này đã dẫn đến việc khu vực Nhà

6,90
6,45
6,81
8,24
Năm
2007
2008
2009
2010
2011
ICOR
8,16
9,08
12,37
10,20
9,15
Nguồn: Kết quả tự tính toán theo số liệu của Tổng cục Thống kê.
2.3. Lựa chọn đầu tƣ công giai đoạn Đổi mới (từ 1986 đến nay)
2.3.1. Bối cảnh mới
Việt Nam không thể duy trì cơ chế kế hoạch hoá và phải chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị
trường. Việc này đồng nghĩa với việc chấm dứt sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào nền kinh tế
mà quay trở lại với ba chức năng của một Nhà nước trong nền kinh tế thị trường: đảm bảo tính hiệu
quả của hoạt động kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội và giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
2.3.2. Phương thức lựa chọn đầu tư công mới
Trong nền kinh tế thị trường, thay vì sử dụng công cụ kế hoạch hóa tập trung, Chính phủ sử dụng
công cụ kế hoạch hóa định hướng phát triển để can thiệp vào thị trường. Khác với lựa chọn đầu tư
công theo phương pháp kế hoạch hóa tập trung, lựa chọn đầu tƣ công theo phƣơng pháp kế hoạch
hóa định hƣớng phát triển không can thiệp quá sâu vào các hoạt động kinh tế, không mang tính
mệnh lệnh, mà nó là một công cụ giúp Chính phủ điều hành nền kinh tế thông qua quá trình điều tiết,
dẫn dắt thị trường và định hướng phát triển nền kinh tế.

2.4.2.1. Về mặt tổng thể quy trình lập kế hoạch đầu tƣ công:
Sau Đổi mới, quy trình lập kế hoạch đầu tư công đã có những cải tiến để phù hợp hơn với nền
kinh tế thị trường. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên quy trình lập kế hoạch đầu tư công ở Việt Nam
chưa thực sự được gọi là quy trình “từ dưới lên”. Nó chưa phát huy được ưu thế tận dụng nguồn lực
xã hội, thậm chí thể hiện khuyết điểm dàn trải và quản lý kém.
2.4.2.2. Về từng bƣớc cụ thể trong quy trình lập kế hoạch:
 Phương pháp xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chiến lược
Một là, thiếu thứ tự ưu tiên chiến lược trong mỗi giai đoạn kế hoạch trung hạn do có quá nhiều
mục tiêu, quá nhiều quy hoạch, chiến lược “con” vì thế nguồn lực vốn đã hạn hẹp lại bị sử dụng phân
tán.
Hai là, tuy lý thuyết là cần căn cứ vào khả năng huy động vốn để xác định mục tiêu, nhưng thực
chất bước này hầu như không được thực hiện. Thiếu liên kết giữa chiến lược, kế hoạch có tính dài
hạn và ngân sách (đang được lập ngắn hạn – hàng năm) dẫn đến hiệu lực thực thi kế hoạch rất yếu.
Ba là, trong việc xem xét đánh giá thực trạng đầu tư công, những dự án còn tồn lại, cần đầu tư
thêm, bộ phận này chưa thực sự xem xét trên phương diện hiệu quả kinh tế để đánh giá các dự án đó
có nên tiếp tục nhận thêm đầu tư hay nên chấm dứt.
 Cơ chế phân bổ nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Thứ nhất, chưa thể xoá bỏ tư duy theo kiểu kế hoạch hoá tập trung, nhiều người vẫn chỉ quan tâm
đến các yếu tố hình thức bên ngoài của dự án hơn là hiệu quả thực sự, rồi từ đó xác định một các chủ
quan về chương trình.
Thứ hai, đội ngũ những công nhân viên chức Nhà nước thường có suy nghĩ phụ thuộc vào Nhà
nước. Nếu Nhà nước có nhiều dự án để thực hiện, họ sẽ có nhiều việc để làm, cơ hộ để kiếm nhiều
tiền hơn và thậm chí có cả những cơ hội để tham nhũng.
Tóm lại, việc phân cấp đầu tư là hợp lý và cần thiết tuy đã thực hiện nhưng chưa coi trọng công
tác nâng cao năng lực quản lý của các địa phương, dẫn đến tình trạng buông lỏng kiểm tra, giám sát
nên hiệu quả các dự án và công trình đầu tư còn thấp, tình trạng xây dựng dàn trải và thời gian xây
dựng kéo dài còn phổ biến.
 Cơ chế lựa chọn chủ thể thực hiện đầu tư công
Lập kế hoạch và thẩm định dự án không theo một quy trình chuẩn mực cụ thể nào, mà hầu hết là
những phân tích mang tích chủ quan tuỳ theo từng dự án. Vì vậy không có cơ sở để so sánh các dự án

quyết định minh bạch hóa và dân chủ hóa. Vai trò của Nhà nước thể hiện rõ ràng trong việc điều hòa
các nhóm lợi ích này để cùng hướng tới lợi ích chung.
Phân tích Chương trình “Một triệu tấn đường” để làm rõ tác động tiêu cực của các nhóm lợi ích
chi phối đầu tư công đến hiệu quả đầu tư công
Có thể lấy thêm ví dụ về Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA. Vụ Zuellig Pharma
Vietnam (ZPV) lại cho thấy sức mạnh của các nhóm lợi ích tư bản nước ngoài và quyền khuynh đảo
của họ với thị trường thuốc Việt Nam.
Về các nhóm lợi ích tại địa phương, các địa phương luôn cạnh tranh nhau và gây ảnh hưởng đến
các cơ quan trung ương nhằm thu hút vốn đầu tư công vào tỉnh mình, thậm chí đòi các quyền ưu đãi
riêng nhằm thu hút vốn đầu tư cho tỉnh.
Tuy xác định được cơ chế ảnh hưởng không tốt của các nhóm lợi ích và cơ chế ra quyết định lên
hiệu quả đầu tư công, nhưng cần xem xét trên nhiều góc độ. Hơn nữa, có thể nhận thấy sự minh bạch
công khai trong quy trình lập kế hoạch đầu tư công cũng có ảnh hưởng tích cực đến việc cải thiện các
tiêu cực trong các nhân tố thể chế. Khi các tiêu chuẩn phân bố kế hoạch đầu tư công được thiết lập rõ
ràng, quy chuẩn, các tác động mang tính chủ quan bên ngoài sẽ giảm bớt.
CHƢƠNG 3
CÁC KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH CẢI THIỆN LỰA CHỌN ĐẦU TƢ CÔNG Ở VIỆT NAM
3.1. Bối cảnh quốc tế và trong nƣớc ảnh hƣởng đến lựa chọn đầu tƣ công
Bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới hiện vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường có khả năng
ảnh hưởng đến việc huy động nguồn vốn để duy trì tổng mức đầu tư toàn xã hội như giai đoạn 10
năm qua.
3.2. Những định hƣớng cải thiện lựa chọn đầu tƣ công
3.2.1. Xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa
Việc xác định rõ vai trò của Nhà nước giúp thống nhất được quan niệm cách hiểu về đầu tư công,
cũng như phạm vi và mục tiêu của đầu tư công. Từ đó, xác định phạm vi, yêu cầu và nhiệm vụ lựa
chọn đầu tư công.
3.2.2. Nhìn nhận một cách đúng đắn vai trò của lựa chọn đầu tư công trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong thời kỳ mới, cần tiếp tục khẳng định chuyển từ kế hoạch mệnh lệnh sang kế hoạch định

thiện hiệu quả ngay từ đầu tức là từ khâu hoạch định chiến lược.
Cuối cùng, áp dụng quy trình ngân sách MTEF (Medium-Term Expenditure Framework - Khuôn
khổ chi tiêu ngân sách trung hạn) phù hợp với đặc điểm tình hình Việt Nam nhằm khống chế lạm chi,
bội chi, chi sai chứ các thứ tự ưu tiên.
 Hai là, đổi mới cơ chế phân bổ nguồn vốn
Cải cách phân bổ ngân sách đầu tư vào các dự án công gắn với các ưu tiên chiến lược sẽ theo
hướng dựa nhiều hơn vào việc đánh giá hiệu quả. Cải cách này sẽ giúp đầu tư tập trung, rút ngắn thời
gian đầu tư, tránh hiện tượng dàn trải. Thực hiện chế độ công khai và minh bạch trong quy trình phân
bổ vốn. Sự công khai minh bạch, áp dụng theo đúng tiêu chí đã đề ra để phân bổ vốn không chỉ giúp
nâng cao hiệu quả đầu tư công, mà còn làm hạn chế ảnh hưởng của các nhóm lợi ích đối với việc xin
- cho trong đầu tư công.
 Ba là, từng bƣớc nâng cao hiệu quả công tác giám sát và đánh giá
Thứ nhất, thiết lập một hệ thống tiêu chuẩn thẩm định (hệ thống tiêu chuẩn đánh giá) thực sự trên
phương diện hiệu quả kinh tế – xã hội là cần thiết.
Thứ hai, tăng cường khâu giám sát đầu tư, đấu thầu nhằm hạn chế tối đa hiện tượng thất thoát,
lãng phí.
3.2.3. Cải cách tổ chức và bộ máy nhân sự lựa chọn đầu tư công
- Thiết lập bộ máy lựa chọn đầu tư công thống nhất và hiệu quả
- Củng cố cơ cấu tổ chức và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ lựa chọn đầu tư công
Theo kinh nghiệm quốc tế, kết hợp thực tế tại Việt Nam, có thể kết luận 03 giải pháp quan
trọng nhất cần thực hiện trong giai đoạn hiện nay là:
- Hoàn thiện khung pháp lý cho lựa chọn đầu tư công nói riêng và đầu tư công nói chung. Hệ
thống lại các văn bản đầu tư hợp lý, tránh chồng chéo, trùng lắp. Tương ứng với đó, xác định lại vai
trò của các cơ quan, bộ máy tham gia trong hệ thống lựa chọn đầu tư công.
- Xác định một hệ thống chỉ tiêu đánh giá đầu tư công quy chuẩn, làm tăng tính minh bạch trong
quy trình lựa chọn đầu tư công.
- Áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn và lập kế hoạch dựa trên kết quả đầu ra. Hai phương pháp
này giúp cho kế hoạch không vượt quá xa so với ngân sách, tránh sự lạm chi bằng phương thức vay
nợ, cũng như kiểm soát hiệu quả đầu tư công ngay từ khâu lập kế hoạch.


định hướng cho giai đoạn 2006 – 2010”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, (5).
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2001), “Chương trình đầu tư công 2001 – 2005”, Chiến lược kế
hoạch – Chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến 2010, Tr. 296 – 368, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), Báo cáo đánh giá, dự báo tình hình, định hướng và các giải
pháp điều hành kinh tế vĩ mô chủ yếu trong năm 2012 và tái cơ cấu đầu tư công, Tài liệu phục vụ
cuộc họp Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia tháng 11 năm 2011.
7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010), Báo cáo "Rà soát khung pháp lý hiện hành về quản lý nhà
nước đối với các hoạt động đầu tư công".
8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2002), “Phân tích, đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư công cộng”,
Tạp chí Kinh tế và dự báo, (6)
9. Nguyễn Thị Cành (2006), Tài chính công, Nxb Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh.
10. Bùi Đại Dũng (2005), “Hiệu quả chi tiêu ngân sách và chức năng chính phủ ở một số nước
trên thế giới”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, (1).
11. Kornai, J. (2001), Con đường dẫn đến nền kinh tế thị trường, Hội tin học Việt Nam.
12. Joseph, E. S. (1995), Kinh tế học công cộng, Nxb Khoa học và kỹ thuật.
13. Lê Chi Mai (2006), Dịch vụ hành chính công, Nxb Lý luận Chính trị.
14. Ngân hàng thế giới (2006), Báo cáo phát triển Việt Nam 2005 - Quản lý và điều hành, Nxb
Tài chính.
15. Ngân hàng thế giới (2001), “Hiểu và cải cách quản lý chi tiêu công, Tài liệu hướng dẫn cho
DFID”, Xuất bản lần 1.
16. Ngân hàng thế giới (2005), Việt Nam quản lý chi tiêu công để tăng trưởng và giảm nghèo –
Đánh giá tổng hợp chi tiêu công đấu thầu mua sắm công và trách nhiệm tài chính 2004, Tập 1,2,
Nxb Tài chính.
17. Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Hương Giang, Vũ Thu Trang (2012), Kinh nghiệm đổi mới tài
khóa và kế hoạch tài khóa trung hạn ở Hàn Quốc, Kỷ yếu hội thảo Đổi mới công tác kế hoạch và đầu
tư công.
18. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Luật Ngân sách Nhà nước.
19. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Đầu tư.
20. Tạp chí Kinh tế và dự báo (2012), Kỷ yếu Hội thảo “Đổi mới công tác kế hoạch và đầu tư

Liturature, no.41, 12/2003.
39. World Bank (2010)“World Development Indicators”.
40. World bank(2010)“Capital maters – Vietnam Development Report, 2009”


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status