ĐỔI MỚI ĐẦU TƯ CÔNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020
TS. Vũ Nhữ Thăng
Viện Chiến lược và Chính sách tài chính
Bộ Tài chính
1. Thực trạng đầu tư công giai đoạn 2001-2010
Trong giai đoạn 2001-2010, mặc dù bối cảnh kinh tế trong nước và
quốc tế có nhiều biến động bất lợi, song Việt Nam vẫn đạt được một số thành
tựu quan trọng về phát triển kinh tế xã hội. Tốc độ tăng trưởng GDP bình
quân giai đoạn 2001-2010 là 7,2%, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của
nhiều nước trong khu vực. Có thể nói một trong những nhân tố quan trọng
góp phần đạt được tốc độ tăng trưởng này là Việt Nam đã khơi thông được
các nguồn lực tài chính trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển và thực hiện
các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đặt ra.
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn
1991-2010 so với GDP (giá hiện hành).
Giai đoạn Tốc độ tăng trưởng
GDP (%)
Tỷ lệ vốn đầu tư toàn
xã hội so với GDP (giá
hiện hành)
1991-1995 8,21 28,2
1996-2000 7,00 33,3
2001-2005 7,49 39,1
2006-2010* 6,90 42,7
Nguồn: TCTK. *Số năm 2010 là số ước thực hiện.
Tổng mức đầu tư toàn xã hội trong 10 năm qua liên tục tăng và duy trì
ở mức cao. Tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP đã tăng từ 35,4% năm
2001 lên dự kiến khoảng 41% năm 2010. Trong đó, bình quân giai đoạn
2001-2005 là 39,1%, giai đoạn 2006-2010 ước vào khoảng là 42,7%. Tính
tổng vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước, tương đương khoảng 4,2% GDP.
1
Bao gồm cả nguồn vốn trái phiếu Chính phủ
3
Nguồn vốn tín dụng nhà nước trong thời gian qua đã được tập trung hỗ
trợ cho các doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư, hỗ trợ tín dụng xuất
khẩu, xúc tiến đầu tư, phát triển các ngành then chốt như đóng tàu,
điện, nước nhằm góp phần nâng cao tiềm lực của doanh nghiệp, nâng
cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Tỷ trọng đầu tư của khu vực DNNN trong tổng vốn đầu tư nhà nước
tuy có giảm trong những năm gần đây, song vẫn là nguồn vốn quan
trọng. Bình quân giai đoạn 2001-2010, tổng vốn đầu tư của các tập
đoàn, doanh nghiệp và tổng công ty Nhà nước chiếm khoảng 25,4%
tổng vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước. Nhờ đó, khu vực DNNN đã phát
huy được vai trò đầu tàu trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế quan
trọng.
Hình 2: Cơ cấu vốn đầu tư nhà nước giai đoạn 2001-2010 (%).
Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK và Bộ Tài chính
Đánh giá về kết quả thực hiện đầu tư công giai đoạn 2011-2020, có thể
rút ra một số nhận định sau:
Thứ nhất, đầu tư từ khu vực nhà nước đã trở thành một động lực quan
trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh
tế thời gian qua, tạo ra các tác động lan tỏa lớn, nhất là các dự án phát triển
kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng Đầu tư Nhà nước đã phát huy vai
trò đặc biệt quan trọng trong những giai đoạn kinh tế khó khăn, đầu tư từ các
khu vực khác suy giảm (ví dụ như giai đoạn 2008-2009).
qua giai đoạn phát triển tương đồng như Việt Nam thì hệ số ICOR của Việt
Nam hiện nay vẫn ở ngưỡng cao (Bảng 2). Điều này một mặt cho thấy mô
hình tăng trưởng của Việt Nam đang chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, mặt khác
2
Năm 2010, các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương phân bổ vốn NSNN cho
tổng số 16.658 dự án, nhiều hơn năm 2009 khoảng 850 dự án; số vốn bình quân phân bổ
cho một dự án là gần 7 tỷ đồng; vốn bình quân phân bổ cho dự án nhóm A ở Trung ương
năm 2010 xấp xỉ 115 tỷ đồng, chỉ bằng 46% mức bố trí năm 2007.
5
thể hiện hiệu quả đầu tư trên một số còn hạn chế. Trong giai đoạn 2001-2010,
tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP (giá hiện hành) đã tăng đáng kể so
với giai đoạn trước đó. Nếu như bình quân giai đoạn 1991-1995, tỷ lệ này là
28,2% thì sang giai đoạn 1996-2010 tăng lên 33,2%, và sau đó giai đoạn
2001-2005 là 39,1% và giai đoạn 2006-2010 ước vào khoảng 41%. Việc tăng
trưởng quá dựa vào vốn sẽ đặt nền kinh tế nước ta trong thời gian tới trước
một số thách thức nhất định. Bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới hiện vẫn
còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường có khả năng ảnh hưởng đến việc huy
động nguồn vốn để duy trì tổng mức đầu tư toàn xã hội như giai đoạn 10 năm
qua. Khi đó, việc duy trì mức đầu tư cao cho tăng trưởng GDP cao chắc chắn
sẽ gặp khó khăn.
Bên cạnh đó, đầu tư phát triển con người, đầu tư cho một số lĩnh vực
như y tế, giáo dục - đào tạo trong 10 năm qua tuy đã được quan tâm hơn so
với trước song chưa tạo được sự chuyển biến tương xứng về chất lượng cung
cấp dịch vụ. Chi đầu tư cho nghiên cứu khoa học có tăng nhưng hiệu quả ứng
dụng các kết quả nghiên cứu chưa tương xứng.
Bảng 2: ICOR của một số nước trong khu vực
Quốc gia Giai đoạn Tăng trưởng
GDP (%)
chí cụ thể trong việc xác định “tính ưu tiên” trong các dự án đầu tư. Nhiều dự
án được thực hiện song lại chưa tuân thủ theo các mục tiêu cần thực hiện
trong phát triển kinh tế xã hội chung.
Việc phân bổ vốn đầu tư từ NSNN còn dàn trải, số vốn bình quân phân
bổ cho các dự án hàng năm thấp
3
. Việc phân bổ vốn dàn trải dẫn tới tình trạng
nhiều dự án bị kéo dài tiến độ, chậm đưa vào sử dụng, làm gia tăng chi phí
đầu tư. Hơn nữa, cơ cấu đầu tư theo vùng miền còn chưa hợp lý. Nhiều địa
phương có xu hương muốn hướng đến một cơ cấu đầu tư tương tự nhau, hơn
là hình thành một cơ cấu đầu tư nhằm phát huy lợi thế so sánh của từng địa
phương. Chất lượng xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ở nhiều ngành
trong một số khâu còn yếu, dẫn tới hiệu quả đầu tư một số công trình, dự án
chưa cao.
Hiệu quả của việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực trong các DNNN
cũng chậm được cải thiện. Khu vực DNNN đang được ưu tiên sử dụng rất
nhiều nguồn lực như vốn, tài nguyên và vị thế kinh doanh. Một số lĩnh vực
kinh doanh DNNN đang chiếm vị thế độc quyền. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt
động của DNNN lại không tương xứng với những nguồn lực được ưu tiên đó.
Tình trạng thất thoát và lãng phí đầu tư trong các doanh nghiệp, tổng công ty
và tập đoàn kinh tế nhà nước chưa có giải pháp xử lý hữu hiệu. Nhiều doanh
3
Năm 2010, các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương phân bổ vốn NSNN cho tổng
số 16.658 dự án, nhiều hơn năm 2009 khoảng 850 dự án; số vốn bình quân phân bổ cho
một dự án là gần 7 tỷ đồng; vốn bình quân phân bổ cho dự án nhóm A ở Trung ương năm
2010 xấp xỉ 115 tỷ đồng, chỉ bằng 46% mức bố trí năm 2007.
7
nghiệp sử dụng vốn đầu tư vào các ngành, nghề, lĩnh vực không thuộc lĩnh
trong đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
8
- Từng bước điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng giảm dần tỷ trọng
đầu tư nhà nước, chỉ tập trung vốn đầu tư nhà nước phát triển cơ sở hạ tầng
kinh tế thiết yếu, không có khả năng thu hồi vốn hoặc mức độ thu hồi vốn
thấp, rủi ro cao, dịch vụ công quan trọng, một số ngành sản xuất then chốt,
đóng vai trò chủ đạo và những lĩnh vực mà tư nhân không thể hoặc chưa thể
thực hiện được.
- Phân định rõ nội dung, phạm vi đầu tư giữa trung ương và địa phương
thông qua việc đẩy mạnh phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng cho các địa
phương. Nguyên tắc chung là những việc mà địa phương không thực hiện
được hoặc thực hiện không hiệu quả thì mới để trung ương thực hiện nhằm
tạo ra sự chủ động cho địa phương. Nghiên cứu hình thành cơ chế mở cho tất
cả các địa phương trong thu hút các nguồn lực cho phát triển phù hợp với quy
hoạch, năng lực và tài lực của từng địa phương.
- Phát huy vai trò định hướng của đầu tư nhà nước để thu hút nguồn
vốn đầu tư của xã hội. Coi nguồn đầu tư nhà nước là “vốn mồi” đề thu hút các
nguồn lực xã hội, đầu tư của khu vực tư nhân đầu tư vào nâng cấp kết cấu hạ
tầng kinh tế, đặc biệt là hệ thống giao thông. Tạo điều kiện bình đẳng trong
đấu thầu xây dựng và thực hiện các công trình, dự án đầu tư bằng vốn ngân
sách trên cơ sở hiệu quả cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Ưu tiên tập trung sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước cho xây dựng,
nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; tập trung nâng cấp phát triển hạ tầng
giao thông tại vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các trục giao thông huyết
mạch liên kết các vùng kinh tế trọng điểm, phát triển trục giao thông Bắc –
Nam
4
.
(3) Nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực đầu tư Nhà nước
(4) Đổi mới cơ chế tín dụng đầu tư nhà nước
Đầu tư bằng tín dụng nhà nước phải gắn liền với nâng cao hiệu quả sử
dụng và đảm bảo khả năng trả nợ. Đổi mới phương thức phát triển tín dụng
nhà nước theo nguyên tắc thương mại (tín dụng nhà nước chỉ khắc phục
những bất cập do thiếu hoặc không đảm bảo các điều kiện về tài sản cầm cố,
thế chấp, hoặc do qui mô vay vốn quá lớn, thời hạn dài…) nhằm nâng cao kỷ
cương, kỷ luật tài chính và đảm bảo tính bền vững.
(5) Thu hút có hiệu quả, đa dạng hoá các nguồn lực trong xã hội để
đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
- Đổi mới và hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích mọi thành
phần kinh tế đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nghiên cứu mở rộng việc áp
dụng hình thức bán hoặc chuyển nhượng quyền quản lý, khai thác có thời hạn
một số công trình cơ sở hạ tầng để huy động nguồn vốn của xã hội cho đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng.
- Triển khai có hiệu quả Quyết định soó 71/2010/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ về quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công ty.
10
- Tạo hành lang pháp lý đẩy mạnh mô hình quỹ đầu tư phát triển địa
phương để góp phần huy động và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội địa phương.
- Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách “xã hội hóa” đầu tư trong một số
lĩnh vực như y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao để một mặt tăng thêm nguồn
vốn đầu tư, mặt khác cũng tăng tính cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm dịch
vụ, xóa bỏ dần thế độc quyền qua đó người dân có cơ hội được tiếp cận với
một chất lượng của dịch vụ ngày càng cao.
(6) Đổi mới phương thức quản lý đầu tư công, tăng cường công khai
minh bạch trong hoạt động đầu tư công; nâng cao hiệu quả công tác giám
sát, kiểm toán hoạt động đầu tư công
- Thực hiện đổi mới phương thức quản lý đầu tư công, trong đó cần đặc
học ‘Định hướng phát triển tài chính giai đoạn 2011-2020”.
David Dapice và các cộng sự, 2008, “Choosing Success: The Lessons
of East and Southeast Asia and Vietnam’s Future - A Policy Framework for
Vietnam’s Socioeconomic Development, 2011-2020”. Harvard Vietnam
Program.