Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
1
MỤC LỤC
Lời nói đầu 4
CHƯƠNG I. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CÔNG 5
1.1.Khái niệm và mục tiêu trong hoạt động đầu tư công 5
1.1.1.Khái niệm 5
1.1.2.Mục tiêu 5
1.2.Nguyên tắc trong hoạt động đầu tư công. 6
1.3.Nội dung của hoạt động đầu tư công 8
1.3.1.Đầu tư theo các chương trình mục tiêu quốc gia 8
1.3.2.Đầu tư theo các dự án công 10
1.3.3.Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư công 14
1.4.Cơ chế quản lý và giám sát hoạt động đầu tư công 16
1.4.1.Các cơ chế giám sát hoạt động đầu tư công 16
1.4.2.Quản lý hoạt động đầu tư công 17
1.5.Sự cần thiết khách quan và vai trò của tái cơ cấu đầu tư công trong việc tái cấu
trúc nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. 17
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CÔNG Ở VIỆT NAM 21
GIAI ĐOẠN 2000-2010 21
2.1.Thực trạng đầu tư công trong nền kinh tế Vi ệt Nam trước khi tiến hành tái cơ cấu
21
2.2.Thực trạng đầu tư công và cơ cấu đầu tư công 24
2.2.1.Đánh giá chung về đầu tư công hiện nay 24
2.2.2. Thực trạng cơ cấu nguồn vốn đầu tư công của Việt Nam 27
Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
2
Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
4
Lời nói đầu
Từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước đến nay, Việt Nam đã đạt được những
thành tựu to lớn và toàn diện trên các mặt kinh tế - xã hội và chính thức trở thành nước có
thu nhập trung bình trên thế giới. Tuy nhiên, việc kéo dài quá lâu mô hình tăng trưởng kinh
tế theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư công hiệu quả thấp,
góp phần khiến nền kinh tế luôn đối diện với những mất cân đối vĩ mô quan trọng như
chênh lệch tiết kiệm - đầu tư, thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách trong thời gian dài
v.v
Đây chính là những nguyên nhân cơ bản gây ra những bất ổn kinh tế vĩ mô như lạm
phát tăng cao, tỷ giá biến động mạnh và khó lường, nợ công và nợ nước ngoài đang dần
đến ngưỡng nguy hiểm, thị trường tài chính tiền tệ có những biến động mạnh về lãi suất,
niềm tin của thị trường vào điều hành kinh tế vĩ mô bị suy giảm v.v Vì vậy, tái cấu trúc
nền kinh tế đang là một yêu cầu bức thiết trong bối cảnh hậu khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu 2008-2010 và nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới nhằm kiến
tạo những nền tảng thể chế và chính sách phù hợp cho bước phát triển nhanh và bền vững
sắp tới. Một trong những nội dung trụ cột của quá trình tái cấu trúc nền kinh tế là tái cơ cấu
đầu tư công.
Đề án “Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020” được thực hiện, xuất phát
dựa trên các cơ sở lí thuyết của hoạt động đầu tư công, phân tích thực trạng trên một số
khía cạnh của hoạt động đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010 từ đó đưa ra một số
giải pháp tổng thể và một số kiến nghị cần làm ngay để có thể tiến hành tái cơ cấu đầu tư,
trọng tâm là đầu tư công một cách có hiệu quả, góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình tái cơ
cấu nền kinh tế.
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Từ Quang Phương đã giúp đỡ em hoàn thành đề
kinh tế, hạ tầng xã hội dưới hình thức sở hữu toàn dân được cải thiện và gia tăng.
Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
6
- Thực hiện một số mục tiêu xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc
gia, ngành, vùng và các địa phương, thông qua đó giả quyết được nhiều vấn đề về xã hội,
văn hóa, môi trường, phát triển bền vững.
Cụ thể như các chương trình mục tiêu Quốc gia : Chương trình 135,136; Chương
trình MTQG về nước sạch và vệ sinh môi trường,…; các chương trình đầu tư hạ tâng giao
thông, xây dựng, kiên cố hóa trường học, trạm y tế, bệnh viện, kênh mương nội đồng, trồng
rừng phủ xanh đồi núi trọc.
- Điều tiết nền kinh tế thông qua việc tác động đến thành tố chi tiêu Chính phủ trong
tổng cầu của nền kinh tế:
AD = C + I + G + NX
Cụ thể, gia tăng đầu tư công thông qua tăng chi NSNN, mở rộng tín dụng đầu tư phát
triển của Nhà nước và tín dụng đối với các đối tượng chính sách được thụ hưởng, trong bối
cảnh hiệu quả đầu tư xã hội và đầu tư công chưa cao có thể dẫn đến các hệ lụy như gia tăng
tổng phương tiện thanh toán, mất cân đối cung- cầu ngoại tệ, gia tăng nhập siêu, lạm phát
và lấn át đầu tư tư nhân.
1.2.Nguyên tắc trong hoạt động đầu tư công.
1.2.1.Thực hiện theo chương tình, dự án đầu tư công phải phù hợp với chiến lược,
quy hoạch phát triển, phù hợp với kế hoạch đầu tư đã được phê duyệt
Hoạt động đầu tư công có mục tiêu tạo lập năng lực sản xuất và năng lưc jphucj vụ
của nền kinh tế và xã hội dựa trên nguồn lực của nhà nước. Vì vậy, hoạt động đầu tư công
phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội, kế hoạch đầu tư của quốc gia vùng,
ngành, địa phương đã được phê duyệt.
Bên cạnh đó, nguồn vốn đầu tư công còn mang ý nghĩa dẫn dắt, định hướng, là vốn
ban đầu để kích thích thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào các lĩnh vực kinh
tế- xã hội mà Nhà nước mong muốn.
Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
8
trợ từ ngân sách trung ương cần phải được quyết định của các cơ quan quản lý nhà nước
về đầu tư của Trung ương, tuân theo các quy định của pháp luật về Ngân sách nhà nước,
quản lý và sử dụng tài sản công.
1.2.5.Phân định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan đến các
hoạt động đầu tư công
Thực hiện nguyên tắc này một cách bắt buộc, sự tham gia của các bên cần phải được
làm rõ, bao gồm quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia nhằm gia
tăng trách nhiệm giải trình, đảm bảo sự giám sát từ nhiều phía và của toàn xã hội đối với
kết quả và hiệu quả đầu tư công.
1.2.6.Đa dạng hóa các hình tức đầu tư công ( BOT,BTO, BT, PPP,…)
Vì nguồn lực từ ngân sách nhà nước là có hạn nên Nhà nước cần có các hệ thống
chính sách, văn bản luật khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trực tiếp
đầu tư hoặc góp vốn cùng nhà nước tham gia đầu tư vào các dự án công theo một tỉ lệ phù
hợp; khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn nhận quyền kinh doanh, khai thác thu lợi nhuận
từ các dự án đó trong điều kiện phù hợp.
1.3.Nội dung của hoạt động đầu tư công
1.3.1.Đầu tư theo các chương trình mục tiêu quốc gia
Khái niệm, yêu cầu với chương trình mục tiêu
Chương trình mục tiêu là tập hợp của các dự án đầu tư nhằm thực hiện một hoặc một
số mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội cụ thể của đất nước hoặt một vùng lãnh thổ trong thời
gian nhất định.
Chương tình mục tiêu có thể được phân chia thành nhiều cấp độ bao gồm chương
trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu cấp tỉnh.
Yêu cầu đối với các chương trình mục tiêu phải đảm bảo:
Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
lại.
1.3.2.Đầu tư theo các dự án công
1.3.2.a.Khái niệm, yêu cầu của công tác lập dự án đầu tư công
Dự án đầu tư công là những dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn nhà nước bao gồm Ngân
sách nhà nước, Trái phiếu Chính phủ, Công trái quốc gia và một số nguồn khác của Nhà
nước chi đầu tư phát triển và chi sự nghiệp có tính chất đầu tư vào các dự án không nhằm
mục đích kinh doanh, không có khả năng hoàn vốn trực tiếp, thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội bao gồm:
a) Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, kỹ thuật, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh
do Nhà nước đầu tư ( trừ các khoản đầu tư cho quốc phòng, an ninh, thuộc chi tiêu đặc biệt,
ngoài cân đối kế hoạch hoặc viện trợ nước ngoài).
b) Dự án đầu tư không có điều kiện xã hội hóa thuộc các lĩnh vực kinh tế xã hội, y tế,
giáo dục- đào tạo, khoa học công nghệ.
c) Dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội; kể
cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp.
d) Dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức
xã hội- nghề nghiệp được hỗ trợ vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.
Yêu cầu đối với dự án đầu tư công:
a) Phải phù hợp với kế hoạch đầu tư công và danh mục dự án chuẩn bị đầu tư được
cấp thẩm quyền phê duyệt.
b) Dự án đầu tư công phải có các giải pháp kinh tế- kỹ thuật khả thi.
c) Phải đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội và phát triển bền vững.
Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
11
1.3.2.b. Trình tự thủ tục quyết định và thực hiện dự án đầu tư công
Bước 1. Định hướng đầu tư, xây dựng dự án, và sàng lọc bước đầu
- Định hướng chiến lược đầu tư: Đây là xuất phát điểm của quy trình lập và quản lý
chi phí quá thấp và lợi ích quá cao - là hiện tượng phổ biến ở các nước đang phát triển.
Chính vì vậy, luôn có nhu cầu kiểm tra tính chân thực và khách quan của hoạt động thẩm
định dự án, đặc biệt là đối với những dự án lớn, hơn nữa lại do chính cơ quan thực hiện tự
thẩm định. Trong trường hợp có nguy cơ xung đột lợi ích nghiêm trọng thì thậm chí nên
sử dụng tư vấn độc lập ngay từ khâu thẩm định dự án.
Bước 4. Lựa chọn và lập ngân sách dự án
Bất kỳ dự án đầu tư công nào đều là một bộ phận của kế hoạch đầu tư công tổng thể,
vì vậy việc lựa chọn và lập ngân sách dự án phải được cân nhắc phù hợp với chu kỳ ngân
sách (hàng năm, trung hạn, và dài hạn) để đảm bảo dự án phù hợp với ưu tiên và khả thi về
mặt tài khóa trong từng chu kỳ ngân sách. Để đảm bảo tính công bằng và tăng cường hiệu
lực giám sát sau này, các tiêu thức lựa chọn dự án phải được công khai.
Đầu tư công hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào việc lựa chọn dự án tốt mà còn phụ
thuộc vào chất lượng của hoạt động quản lý và bảo trì tài sản. Ngân sách chi thường xuyên
vì vậy phải được điều chỉnh thích hợp để phản ánh những khoản chi mới phát sinh này.
Bước 5. Triển khai dự án
Sự thành công (hay thất bại) trong triển khai dự án phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong
đó chắc chắn bao gồm (i) lựa chọn đúng dự án tốt; (ii) lập ngân sách chính xác; (iii) chuẩn
bị các điều kiện cần về năng lực quản lý tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự, thu hồi đất;
(iv) kế hoạch mua sắm máy móc, vật tư; (v) theo dõi và quản lý chi phí; (vi) quản lý các
rủi ro phát sinh làm ảnh hưởng tới tiến độ và chi phí của dự án.
Bản thân từng nhiệm vụ này đều rất phức tạp, vì vậy phải có những hướng dẫn cần
thiết cho việc triển khai dự án. Về các mặt tổ chức, việc bố trí nhân sự, xây dựng bộ máy
Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
13
quản lý, dự kiến tiến độ v.v. tất cả phải được chuẩn bị kỹ càng và thực tế. Quy trình đấu
thầu công khai, công bằng, và hiệu quả cũng cần được xây dựng và công bố. Cũng cần
lường trước những cơ chế để ngăn chặn (hoặc ít nhất là giảm thiểu) nguy cơ tăng chi phí
trong tương lai.
1.3.3.a.Chủ đầu tư
Chủ đầu tư trong dự án đầu tư công chính là nhà nước. Tuy nhiên để đảm bảo hoạt
động đầu tư được thực hiện theo đúng quy trình thủ tục trên cơ sở xác định đứng trách
nhiệm của người trực tiếp quản lý và sử dụng vốn, Nhà nước sẽ tiến hành chỉ định chủ đầu
tư của dự án. Chủ đầu tư của dự án đầu tư công sẽ do người có thầm quyền ra quyết định
đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư.
Quyền hạn của chủ đầu tư trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư:
- Tổ chức lập, trình duyệt dự án, sử dụng các nguồn vốn hợp pháp cho dự án; yêu cầu
kiến nghị các cơ quan nhà nước liên quan có thẩm quyền cung cấp các thông tin cho các tổ
chức tư vấn liên qua đến dự án.
- Tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, tuyển chọn tư vấn dự
án, lựa chọn nhà thầu, thực hiện các giao dịch, đàm phán ký kết với các bên.
- Tổ chức theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện dự án, thành lập ban quản
lý dự án; kiến nghị các chính sách đề xuất với cơ quan nhà nước để đảm bảo dự án đúng
tiến độ, chất lượng và kinh phí đầu tư được duyệt.
Trong hoạt động của dự án đầu tư công, chủ đầu tư có các nghĩa vụ sau:
-Chịu trách nhiệm về cơ sở pháp lý và độ tin cậy của các thông tin, tài liệu cung cấp
cho tư vấn lập dự án đầu tư công.
-Tổ chức thực hiện dự án đảm bảo tiến độ, chất lượng, quản lý và sử dụng hợp lý
nguồn vốn đầu tư; kiểm tra báo cáo thường xuyên tình hình thực hiện dự án; thực hiện
thanh quyết toán, tất toán tài khoản theo quy định của cơ quan thanh toán.
Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
15
-Chịu trách nhiệm toàn diện trong dự án khi phát sinh hậu quả do triển khai không
đúng theo quyết định đầu tư, gây thất thoát, lãng phí; thu hồi và hoàn trả vốn đầu tư đối
với các dự án đầu tư công có yêu cầu thu hồi vốn theo quy định của pháp luật.
1.3.3.b.Đơn vị nhân ủy thác đầu tư
Ủy thác đầu tư được hiểu là việc người có thẩm quyền quyết định đầu tư goa cho tổ
Tổ chức tư vấn quản lý dự án là các tổ chức, cá nhân được chủ đầu tư thuê để làm
nhiệm vụ quản lý thực hiện dự án trong quá trình thực hiện dự án đầu tư.
Tổ chức tư vấn đầu tư thực hiện các dịch vụ tư vấn một phần hoặc toàn bộ các hoạt
động đầu tư gồm : lập, thẩm định, giám sát, đánh giá, quản lý dự án đầu tư và các dịch vụ
tư vấn khác.
1.4.Cơ chế quản lý và giám sát hoạt động đầu tư công
1.4.1.Các cơ chế giám sát hoạt động đầu tư công
Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp, các cơ quan quản lý nhà nước các cấp thực
hiện nhiệm vụ giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định của pháp luật. Người có thẩm quyền
ra quyết định đầu tư, chủ đầu tư phải tiến hành tổ chức giám sát, đánh giá kết quả hoạt
động đầu tư trong phạm vi quyền hạn ra quyết định của mình.
Các Bộ, ngành, Ủy ban Nhân dân các cấp, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm
cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan giám sát, đánh giá đầu tư, khuyến
khích sự giám sát từ cộng đồng, nhân dân. Để phục vụ cho hoạt động giám sát đầu tư công,
toàn bộ các thông tin liên quan đến dự án cần được cập nhật, chính xác và phan tích kịp
thời để đề xuất, quy định rõ chế độ cung cấp thông tin, báo cáo của chủ đầu tư.
Công tác đánh giá giai đoạn thực hiện các chương trình mục tiêu được tiến hành định
kỳ và đột xuất ( khi cần thiết). Đánh giá định kỳ được tiến hành theo 2 giai đoạn chủ yếu
sau:
Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
17
Giai đoạn 1, đánh giá giữa kỳ được tiến hành vào giữa thời gian thực hiện chương
trình mục tiêu, nhằm xem xét quá trình thực hiện từ khi bắt đầu và đề xuất các điều chỉnh
cần thiết.
Giai đoạn 2, đánh giá kết thúc được tiến hành ngay sau khi kết thúc việc thực hiện
chương trình mục tiêu, nhằm xem xét các kết quả đạt được và tổng kết toàn bộ quá trình
thực hiện, làm cơ sở để báo cáo khi kết thúc chương trình.
1.4.2.Quản lý hoạt động đầu tư công
tương đối cao nhưng đang có xu hướng giảm dần
1
. Ngược lại, lạm phát luôn ở mức cao
hơn nhiều so với mức lạm phát bình quân của các nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới;
mấy tháng gần đây lạm phát đang có xu hướng giảm, nhưng vẫn ở mức cao
21
. Các cân đối
vĩ mô (gồm thâm hụt cán cân vãng lại, thâm hụt tài khóa, chênh lệch tiết kiệm trong nước
và đầu tư xã hội, dữ trự ngoại tệ quốc gia v.v ) chưa vững chắc đã nhiều năm; sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, thách thức; số doanh nghiệp phải giải
thể, tạm ngừng sản xuất hoặc thu hẹp quy mô sản xuất tăng lên đáng kể; nợ xấu của các tổ
chức tín dụng gia tăng, một số tổ chức tín dụng đã gặp khó khăn về thanh khoản, tốc độ
giảm nghèo có phần giảm sút, thấp hơn mục tiêu kế hoạch và tốc độ trung bình về giảm
nghèo của các năm trước đây v.v
Thực tế nói trên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nguyên nhân dài hạn
và ngắn hạn, nhưng chủ yếu là do các vấn đề thuộc về cơ cấu và mô hình tăng trưởng.
Những đặc điểm yếu kém của cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng hiện hành bao gồm:
- Tăng trưởng theo chiều rộng: động lực tăng trưởng tốc độ cao phụ thuộc vào gia
tăng vốn đầu tư và gia tăng số lượng lao động. Tỷ lệ đầu tư toàn xã hội quá lớn (trong nhiều
năm là 40% - 42% GDP). Năm 2008, tổng đầu tư trên GDP của Việt Nam cao thứ 2 thế 1
Tốc độ tăng GDP bình quân năm cho giai đoạn 2000-2005 là 7,5%, cho 2006-2010 là 7%; nếu chỉ tính cho giai đoạn năm 2008-
2010 chỉ khoảng 6%; năm 2011, ước tính tăng trưởng GDP chỉ khoảng từ 5,89%, v.v Tăng trưởng GDP của nước ta không còn
ở mức cao nhất trong khu vực, năm 2010 về tăng trưởng GDP, nước ta đứng thứ 5 trong khu vực, đứng thứ 26 trên thế giới, năm
2011 đứng thứ 4 trong khu vực và đứng thứ 28 trên thế giới; trong các năm gần đây, tăng trưởng GDP của nước ta luôn thấp hơn
mức bình quân của các nước đang phát triển.
21
Lạm phát trung bình giai đoạn 2000-2005 là 5,1%/năm, và trung bình cho giai đoạn
và 135% năm 2010.
Hệ quả là bất ổn vĩ mô lặp đi lặp lại với tần suất ngày càng dày, mức độ ngày càng
nghiêm trọng. Tín dụng nhiều, tiết kiệm giảm, đầu tư cao, nhưng hiệu quả thấp, dẫn đến:
lạm phát cao (vì nhiều tiền nhưng ít hàng); lãi suất cao và đồng tiền chịu sức ép giảm giá
(do lạm phát cao); thâm hụt ngân sách lớn (vì chi tiêu quá nhiều); thâm hụt thương mại lớn 2
CIA World Fact Book, List of countries by gross fixed investment as percentage of GDP, 2009.
23
Vũ Tuấn Anh (2010), Tình hình
đầu tư công trong 10 năm qua và giải pháp tái cơ cấu.
Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
20
(vì cầu trong nước quá cao nhưng năng lực sản xuất kém); bong bóng tài sản (vì quá nhiều
tiền nhưng lợi nhuận của hoạt động sản xuất thấp).
Từ những phân tích ở trên, có thể rút ra hai kết luận sau:
Một là, các yếu tố của mô hình trưởng theo chiều rộng (trước hết là gia tăng quy mô
vốn đầu tư và lao động) của Việt Nam đã đến mức tới hạn; động lực tăng trưởng phụ thuộc
vào gia tăng vốn đầu tư, gia tăng số lượng lao động v.v đã yếu và đang giảm dần.
Trong khi dư địa và động lực tăng trưởng theo chiều rộng của nền kinh tế đang giảm
và yếu dần, thì các động lực của tăng trưởng theo chiều sâu (gồm năng suất và hiệu quả sử
dụng nguồn lực) chưa được cải thiện để bù đắp những thiếu hụt của tăng trưởng theo chiều
rộng. Hệ quả là, tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế đang giảm, và bản thân nền kinh tế
nước ta hiện nay tự nó không còn có khả năng duy trì mức tăng trưởng cao như những năm
trước đây.
Hai là, cùng với duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng theo chiều rộng không còn phù
hợp, thì chủ trương, chính sách và cách thức quản lý, điều hành nền kinh tế ở các cấp, các
Tỷ lệ % vốn đầu tư toàn
xã hội so với GDP
(giá hiện hành)
1991-1995
8,21
28,2
1996-2000
7,00
33,3
2001-2005
7,49
39,1
2006-2010*
6,90
42,7
Nguồn: TCTK. *Số năm 2010 là số ước thực hiện.
Tổng mức đầu tư toàn xã hội trong 10 năm qua liên tục tăng và duy trì ở mức cao. Tỷ
trọng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP đã tăng từ 35,4% năm 2001 lên dự kiến khoảng
41% năm 2010. Trong đó, bình quân giai đoạn 2001-2005 là 39,1%, giai đoạn 2006-2010
Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
22
ước vào khoảng là 42,7%. Tính chung cả giai đoạn 2001-2010, tổng đầu tư xã hội bình
quân đạt xấp xỉ 41% GDP, cao hơn so với mục tiêu đề ra và cao hơn so với mức 30,7%
GDP giai đoạn 1991-2000 (Bảng 1).
Hình 2.1. Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2001-2010
Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK và Bộ Tài chính.
Trong cơ cấu đầu tư toàn xã hội, đầu tư của khu vực công có một vị trí khá quan
của nền kinh tế.
- Tỷ trọng đầu tư của khu vực DNNN trong tổng vốn đầu tư nhà nước tuy có giảm
trong những năm gần đây, song vẫn là nguồn vốn quan trọng. Bình quân giai đoạn 2001-
2010, tổng vốn đầu tư của các tập đoàn, doanh nghiệp và tổng công ty Nhà nước chiếm
khoảng 25,4% tổng vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước. Nhờ đó, khu vực DNNN đã phát huy
được vai trò đầu tàu trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế quan trọng.
Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK và Bộ Tài chính
Hình
2.2
.
Cơ cấu vốn đầu tư Nhà nước giai đoạn 2001- 2010
thể, trong tổng mức đầu tư phát triển từ NSNN, đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng chiếm
một tỷ trọng khá lớn. Bình quân giai đoạn 2001-2010, chi cho đầu tư xây dựng cơ bản
chiếm trên 90% tổng chi đầu tư phát triển từ NSNN. Nguồn lực NSNN đã được tập trung
cho việc phát triển các dự án hạ tầng thiết yếu trong nền kinh tế, các dự án không có khả
năng hoàn vốn trực tiếp.
Thứ ba, đã hình thành được bộ khung pháp luật tương đối đồng bộ để điều chỉnh các
hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư nhà nước nói riêng. Hệ thống pháp luật liên quan đến
đầu tư đến nay cơ bản đã bao quát được hầu hết hoạt động đầu tư từ khu vực nhà nước.
b) Hạn chế
Tuy đạt được các kết quả tích cực nói trên, song thực tiễn đầu tư công thời gian qua
cũng đã chỉ ra một số vấn đề tồn tại, vướng mắc cần được tiếp tục tháo gỡ trong thời gian
tới. Những tồn tại chủ yếu là:
Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
25
Thứ nhất, đầu tư từ NSNN còn dàn trải
4
; hiệu quả đầu tư một số công trình hạ tầng
chưa cao. Hệ số ICOR có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây. Nếu như hệ số
ICOR của giai đoạn 1996-2000 tính theo giá hiện hành là 4,7 thì sang giai đoạn 2001-2005
hệ số này trung bình là 5,1 và giai đoạn 2006-2010 tăng lên 6,1.
Điều này một mặt cho thấy mô hình tăng trưởng của Việt Nam đang chủ yếu dựa vào
vốn đầu tư, mặt khác thể hiện hiệu quả đầu tư trên một số còn hạn chế. Trong giai đoạn
2001-2010, tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP (giá hiện hành) đã tăng đáng kể so với
giai đoạn trước đó. Nếu như bình quân giai đoạn 1991-1995, tỷ lệ này là 28,2% thì sang
giai đoạn 1996-2010 tăng lên 33,2%, và sau đó giai đoạn 2001-2005 là 39,1% và giai đoạn
2006-2010 ước vào khoảng 41%.
Bên cạnh đó, đầu tư phát triển con người, đầu tư cho một số lĩnh vực như y tế, giáo
dục - đào tạo trong 10 năm qua tuy đã được quan tâm hơn so với trước song chưa tạo được
Trung Quốc
2001-2006
9,7
38,8
4,0
Nguồn: Trích dẫn từ David Dapice và các cộng sự (2008).