Thu hút FDI cho phát triển bền vững các ngành dịch vụ việt nam - Pdf 10

Thu hút FDI cho phát triển bền vững các ngành
dịch vụ Việt Nam

Phạm Thanh Tuyền

Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Kinh Tế Thế Giới và Quan Hệ KT Quốc Tế; Mã số: 60 31 07
Người hướng dẫn: PGS.TS. Hà Văn Hội
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Khái quát lý luận và thực tiễn về vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) cho phát triển bền vững khu vực dịch vụ, từ đó hình thành khung nội dung
nghiên cứu cho đề tài. Nghiên cứu tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
khu vực dịch vụ, chỉ ra những mặt thành công và hạn chế trong hoạt động thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào khu vực dịch vụ. Đề xuất một số biện pháp nhằm
tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để đáp ứng nhu cầu vốn và phát
triển bền vững khu vực dịch vụ Việt Nam.

Keywords: Kinh tế quốc tế; Vốn FDI; Đầu tư trực tiếp nước ngoài; Ngành dịch vụ; Việt
Nam Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Từ thực tiễn, trong những năm qua đã chứng minh sự đóng góp tích cực của khu vực FDI
cho các mục tiêu kinh tế, xã hội đề tài đã tiến hành nghiên cứu thực trạng FDI ở Việt Nam, tìm ra
nguyên nhân vấn đề, tổng hợp kinh nghiệm thu hút FDI của các nước đi trước và từ đó đề xuất
những biện pháp nhằm thu hút FDI một cách có hiệu quả.
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ. Hơn một

3) Bài nghiên cứu “FDI và phát triển bền vững” của GS.TS. Nguyễn Mại.
4) Bài viết “Một số giải pháp thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoài đến năm
2020” của Th.S Nguyễn Đăng Bình – Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Bộ Kế hoạch và Đầu tư được
in trên tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội.
5) Đề tài “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành du lịch Việt Nam” Luận
văn Thạc sỹ Kinh tế của Nguyễn Thanh Thủy.
Tóm lại: do yêu cầu và mục đích khác nhau nên mặc dù đã có tương đối nhiều đề tài
nghiên cứu, đánh giá về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung và đầu tư nước ngoài trong
một số ngành nói riêng, một số bài viết đã đi sâu vào nghiên cứu về thu hút FDI và phát bền
vững nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên nghiên cứu thu hút FDI trên khía cạnh phát triển bền
vững cho lĩnh vực dịch vụ, thì chưa có công trình nào đề cập đến.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI cho phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam
nói chung và phát triển bền vững khu vực dịch vụ nói riêng trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Khái quát lý luận và thực tiễn về vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cho
phát triển bền vững khu vực dịch vụ.
- Nghiên cứu và đánh tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực dịch vụ,
theo quan điểm phát triển bền vững.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường thu hút FDInhằm phát triển bền vững khu vực
dịch vụ Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cho phát
triển bền vững khu vực dịch vụ của Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
Về nội dung
FDI được giới hạn xem xét trong một số ngành dịch vụ cụ thể như:ngành Du lịch; ngành Y
tế; ngành Giáo dục…

hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Nếu xét một cách riêng rẽ thì các nội dung và tiêu chí xác định sự phát triển các trụ cột
của phát triển bền vững bao gồm: Phát triển bền vững về kinh tế, Phát triển bền vững về xã
hội,Phát triển bền vững về môi trường
1.1.1.2 Lý thuyết về phát triển bền vững
Xét một cách riêng rẽ các trụ cột của PTBV thì vấn đề không có gì phức tạp. Tuy nhiên,
tính phức tạp ở đây được thể hiện ở chỗ các trụ cột của PTBV có mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau.
Sự phát triển của trụ cột này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến trụ cột kia và như vậy sẽ phá vỡ tính hài
hoà giữa chúng. Điều đó được thể hiện qua Mô hình phát triển bền vững của Jacobs và Sadler
(1990).
Theo mô hình này, phát triển bền vững là kết quả của các tương tác qua lại và phụ thuộc
lẫn nhau của ba hệ thống chủ yếu của thế giới: Hệ thống tự nhiên (bao gồm các hệ sinh thái tự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trường của trái đất); Hệ thống kinh tế (hệ
sản xuất và phân phối sản phẩm); Hệ thống xã hội (quan hệ của con người trong xã hội).
1.1.2. Khái niệm và nội hàm của phát triển bền vững các ngành dịch vụ
Dựa trên lý thuyết về phát triển bền vững, theo đó, dịch vụ bền vững là sự duy trì nhịp độ
tăng trưởng dịch vụ cao và ổn định, chất lượng tăng trưởng dịch vụ ngày càng được nâng cao,
góp phần tăng trưởng và ổn định kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường.
Theo định nghĩa này, dịch vụ bền vững là sự kết hợp hài hòa hai nội dung.
Nội dung thứ nhất là duy trì nhịp độ tăng trưởng dịch vụ cao và ổn định, đảm bảo chất
lượng tăng trưởng được nâng cao.
Nội dung thứ hai là đảm bảo yêu cầu về sự hài hòa giữa các mặt của PTBV: kinh tế, xã
hội, môi trường, đó là ổn định kinh tế, ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của các
tầng lớp dân cư và cải thiện môi trường sinh thái.
1.1.3. Quan hệ giữa FDI và phát triển bền vững khu vực dịch vụ
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bổ sung một nguồn vốn hết sức quan trọng cho các
ngành dịch vụ, nó thúc đẩy tăng trưởng ngành dịch vụ, tạo việc làm cho nhiều lao động đang thất
nghiệp, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhưng FDI vào khu vực dịch vụ cũng gây ra thiệt hại lớn như: đầu tư không đồng bộ, chỉ
tập trung ở một số ngành dịch vụ, ở một số khu vực kinh tế phát triển đã làm cho cơ cấu khu vực

kinh tế dịch vụ. Đó là:
- Rà soát và điều chỉnh có nguyên tắc các văn bản liên quan đến phát triển các ngành
dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ quan trọng, định hướng phát triển toàn bộ nền kinh tế cũng như của
bản thân ngành dịch vụ.
- Mở cửa có lộ trình, thận trọng đối với các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ có độ nhạy
cảm cao với nền kinh tế.
- Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ trong nước, trên cơ sở tăng cường quản lý của
Nhà nước, gia tăng sức mạnh (nội lực) thực sự của ngành dịch vụ khi thực hiện mở cửa, hội
nhập thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
1.3.1.2. Thu hút FDI trong lĩnh vực dịch vụ của Ấn Độ
Ấn Độ đã không chọn lao động giản đơn hay tài nguyên làm lợi thế so sánh của mình mà
sử dụng tri thức là chất “xúc tác”, chọn dịch vụ làm thế mạnh để phát triển kinh tế. Bên cạnh đó,
quốc gia này còn tập trung vào việc đào tạo một lực lượng lao động kỹ thuật lớn với tay nghề cao
đáp ứng tốt yêu cầu về trình độ cũng như ngoại ngữ của các nước đầu tư vào Ấn Độ.
Chính phủ Ấn Độ đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi thu hút phát triển các ngành năng
lượng sạch, ngành công nghiệp xanh, ít cacbon. Bên cạnh đó, quốc gia này vẫn kiên quyết từ
chối đối với những dự án FDI gây hại tới môi trường. Ngoài ra, nước này còn ngưng cấp giấy
phép hoạt động đối với các dự án không đảm bảo tiêu chuẩn xử lý chất thải, tác động xấu tới môi
trường.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm rút ra qua việc phân tích quá trình thu hút FDI trong lĩnh vực
dịch vụ của một số quốc gia trên Thế giới
- Mỗi quốc gia phải có định hướng thu hút FDI đối với lĩnh vực dịch vụ theo hướng phát
triển bền vững.
- Mỗi quốc gia cần xây dựng, đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho
kinh tế dịch vụ phát triển.
- Cần đào tạo, thu hút đội ngũ lao động tay nghề cao, có trình độ chuyên môn, thông thạo
ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu do các nhà đầu tư nước ngoài đề ra.
- Chính phủ các nước phải nghiêm ngặt, chủ động trong công tác chọn lựa đối tác đầu tư,
từ chối cấp phép cũng như thu hồi giấy phép đối với những dự án FDI vào khu vực dịch vụ
không bảo đảm tiêu chuẩn.

2.2.2. Thực trạng thu hút FDI trong một số ngành dịch vụ điển hình
2.2.2.1. Tình hình thu hút FDI vào ngành Du lịch
Từ năm 2000 đến nay, gần 9 tỷ USD vốn FDI đã giải ngân vào ngành du lịch Việt Nam.
Lượng vốn FDI này đã góp phần bù đắp cho sự thiếu hụt về vốn để phát triển ngành du lịch. Có
thể nói, FDI đóng một vai trò quan trọng, góp phần cải thiện đáng kể những mặt yếu kém của
ngành trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển.
Hệ thống cơ sở lưu trú của Việt Nam không chỉ phong phú về số lượng mà chất lượng
cũng ngày càng được nâng cao. Hiện cả nước có 850 khách sạn được xếp hạng sao (chiếm 45%
tổng khách sạn toàn ngành), trong đó có khoảng 110 khách sạn được xếp hạng từ 3 đến 5 sao.
Trong số này có 13 khách sạn 5 sao, 19 khách sạn 4 sao và 78 khách sạn 3 sao, hầy hết các khách
sạn 4 sao, 5 sao đều thuộc về các doanh nghiệp có vốn FDI.
2.2.2.2. Tình hình thu hút FDI vào ngành Y tế
Giai đoạn 2005 – 2011 vốn đăng ký vào ngành y tế đạt hơn 400 triệu USD, gần bằng tổng
vốn đăng ký của cả giai đoạn trước đó (1989 – 2005). Điều này cho thấy vốn FDI đầu tư vào
ngành y tế của Việt Nam không bị bỏ ngoài, mà cũng có đóng góp nhất định vào sự tăng trưởng
vượt bậc về vốn FDI của cả nước. Bên cạnh đó, vốn thực hiện trong ngành này luôn đạt mức cao
(trên 60%) không chỉ xuất phát từ đặc thù của ngành là vốn đi kèm với công nghệ, máy móc, mà
còn thể hiện hiệu quả hoạt động thu hút FDI vào y tế.
Các dự án quy mô lớn ngày càng nhiều hơn, đặc biệt là các dự án xây dựng, kinh doanh
bệnh viện, dịch vụ y tế chất lượng cao.
2.2.2.3. Tình hình thu hút FDI vào ngành Giáo dục
Năm 2006, Việt Nam đã gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO), giáo dục Việt Nam
bước đầu mở cửa hội nhập, số dự án FDI vào giáo dục tăng lên. Năm 2007 là 13 dự án và năm 2008 là 15
dự án với tổng vốn đầu tư lần lượt là 11,6 triệu USD và 90,4 triệu USD.
Kể từ ngày 1/1/2009, Việt Nam bắt đầu thực hiện cam kết GATS mở cửa khu vực giáo dục đại
học tư thục. Tuy nhiên số dự án trong năm 2009 chỉ dừng ở con số 8 dự án và tổng vốn đầu tư giảm
xuống còn 28,9 triệu USD và năm 2011 là 14 dự án với tổng vốn đầu tư là 7,76 triệu USD.
Nhìn chung, so với các ngành khác, vốn FDI vào lĩnh vực giáo dục vẫn là một con số nhỏ, quy
mô đầu tư của mỗi dự án này còn nhỏ, kéo theo tổng vốn đầu tư và tỷ trọng vốn đầu tư vào lĩnh vực này
thấp. Lý do chính khiến tỷ trọng vốn FDI vào giáo dục thấp hơn so với các ngành khác là do thị trường

- Hình thức đầu tư chưa phong phú, khả năng góp vốn của Việt Nam còn hạn chế.
- Trình độ công nghệ còn yếu kém và lạc hậu.
Trường hợp ngành y tế
Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ so với trước, nhưng vốn FDI đầu tư vào ngành y tế Việt
Nam nhìn chung còn ít cả về số lượng dự án và vốn đầu tư, tính đến tháng 7/2011, mới chỉ có 5
dự án được thu hút với số vốn đăng ký 1.019.196.437 USD và số vớn thực hiện 221.909.016
USD. Điều này cho thấy, quy mô thu hút được như vậy là còn rất nhỏ so với nhu cầu và tiềm
năng thu hút của ngành, chủ yếu là do tính chất phúc lợi xã hội của ngành nên Việt Nam thực
hiện bảo hộ ngành này tương đối chặt và lâu và mới chỉ bắt đầu mở rộng cửa đón các nhà đầu tư
nước ngoài mấy năm trở lại đây.
2.3.2. Xét trên góc độ bền vững về xã hội
2.3.2.1. Những biểu hiện tích cực
Trường hợp ngành du lịch
Với thu nhập hơn 1,5 tỉ USD/năm, du lịch Việt Nam đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
của đất nước, tạo ra việc làm cho hơn 250.000 lao động trực tiếp và trên 450.000 lao động gián
tiếp, chiếm khoảng 6% lao động trong cả nước. Mặt khác, thông qua việc tham gia vào các hoạt
động du lịch, các cộng đồng dân cư mà đặc biệt là người nghèo sẽ có nhiều cơ hội hơn để tăng
thu nhập và cải thiện cuộc sống, đồng thời góp phần quan trọng vào công tác bảo tồn và gìn giữ
các giá trị văn hóa truyền thống. .
Trường hợp ngành y tế
Tác động xã hội lớn nhất mà các dự án FDI trong ngành y tế mang lại đó là nâng cao chất
lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và giải quyết một phần nhu cầu khám chữa bệnh của người
dân.
Ngoài ra, đội ngũ y bác sỹ làm việc cho các bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài cũng
được nâng cao trình độ thông qua các khoá đào tạo thêm ở nước ngoài; Nhờ đó, đội ngũ nhân lực
y tế của Việt Nam không ngừng phát triển về chất lượng và cả số lượng.
Trường hợp ngành giáo dục
- Các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực Việt Nam, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ và tin học của người Việt Nam.
- Các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo môi trường cạnh tranh

2.3.3. Xét trên góc độ bền vững về môi trƣờng
2.3.2.1. Những biểu hiện tích cực
Trường hợp ngành du lịch
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Du lịch góp phần tích cực tu sửa phát triển cảnh
quan đô thị, cảnh quan tại các điểm du lịch như tu sửa nhà cửa thành những cơ sở du lịch mới,
cải thiện môi trường cho cả du khách và cư dân địa phương bằng cách gia tăng phương tiện vệ
sinh công cộng, đường sá thông tin, năng lượng, nhà cửa, xửa lý rác và nước thải được cải thiện,
dịch vụ môi trường được cung cấp. Hạn chế các lan truyền ô nhiễm cục bộ trong khu dân cư do
các giải pháp hạ tầng, kỹ thuật đồng bộ được áp dụng.
2.3.2.2. Những biểu hiện thiếu bền vững về môi trường
Trường hợp ngành du lịch
Một số doanh nghiệp FDI chưa thực sự chú ý tới những biện pháp phòng ngừa ô nhiễm.
Mặt khác, quy mô và số lượng các khu du lịch tại Việt Nam ngày càng gia tăng, nhu cầu tăng
trưởng kinh tế đòi hỏi nhanh chóng mở rộng các khu du lịch, chuyển đổi mục đích sử dụng đất
và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và tạo sức ép lớn lên môi
trường. Trong khi đó, trình độ công nghệ và sản xuất trong nước vẫn còn khá lạc hậu. Đây là
thách thức lớn đối với hoạt động quản lý bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên nhằm giữ gìn
và bảo tồn bền vững các di sản thiên nhiên và văn hoá của đất nước.
Trường hợp ngành y tế
Một vấn đề đáng lưu tâm khác đó là tình trạng rác thải y tế không được xử lý triệt để tại
các bệnh viện, các cơ sở sản xuất dược phẩm, thiết bị y tế có vốn đầu tư nước ngoài gây ô nhiễm
môi trường, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và sản xuất của người dân xung quanh.

CHƢƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT DÒNG VỐN FDI GẮN VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
CÁC NGÀNH DỊCH VỤ VIỆT NAM

3.1. Triển vọng thu hút FDI vào khu vực dịch vụ Việt Nam trƣớc xu thế phát triển các
ngành dịch vụ trên Thế giới
3.1.1. Xu hƣớng FDI vào ngành dịch vụ

3.3.1.3. Thúc đẩy, khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội trong bảo vệ môi trường đầu tư.
3.3.1.4. Thu phí hoặc thuế các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường.
Để hạn chế ô nhiễm môi trường, chính phủ cần đưa ra các biện pháp lồng ghép chi phí
môi trường vào tài khoản quốc gia dưới hình thức là thuế và phí môi trường hay phí tài nguyên,
các công cụ kinh tế này hoạt động theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và nhằm
hai mục đích chủ yếu đó là tăng nguồn thu ngân sách cho chính phủ và khuyến khích người gây
ô nhiễm giảm bớt lượng chất thải ra môi trường.
3.3.1.5. Quy định giới hạn ô nhiễm.
Nhà nước có thể sử dụng phương pháp ban hành các mức hạn ngạch ô nhiễm, quy định
lượng khí thải được thải ra môi trường đối với các doanh nghiệp. Công cụ được sử dụng là giấy
phép xả thải. Giấy phép này do nhà nước phát hành, số lượng phụ thuộc vào phạm vi tổng hạn
mức phát thải cho phép.
3.3.1.6. Giải pháp trong quy trình đầu tư FDI.
Trong công tác lựa chọn đối tác thì sẽ phải tập trung vào chất lượng FDI theo hướng chọn
lọc hơn với trọng tâm là thu hút các dự án cơ sở hạ tầng, dự án sử dụng công nghệ cao, công
nghệ sạch và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh, dự án có khả năng tham gia vào
chuỗi giá trị toàn cầu. Cần phải ưu tiên chọn những đối tác doanh nghiệp FDI từ những nước
phát triển có tiêu chuẩn môi trường cao, nơi có qui định chặt chẽ về công tác bảo vệ môi trường.
3.3.1.7. Giải pháp về xúc tiến đầu tư.
Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan xúc tiến đầu tư trong nước với bộ phận xúc tiến đầu
tư của Việt Nam tại nước ngoài và đưa công tác xúc tiến đi vào chuyên nghiệp, hiệu quả hơn.
Cần đưa ra các hướng dẫn giúp các địa phương hoàn chỉnh danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với
mối quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài và nhu cầu phát triển địa phương, đề nghị các địa
phương nên chọn các dự án có tính khả thi cao nhất, cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà đầu
tư.
3.3.2. Một số giải pháp thu hút FDI hƣớng tới phát triển bền vững trong một số ngành dịch
vụ điển hình
3.3.2.1. Giải pháp đối với ngành du lịch
a) Coi trọng công tác quy hoạch phát triển các dịch vụ du lịch – xây dựng kế hoạch thu
hút vốn đầu tư (FDI) và tổ chức quản lí giám sát.

phương. Tuy nhiên, theo điều 50 Nghị định 108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một
số điều của Luật Đầu tư, y tế mà cụ thể là lĩnh vực kinh doanh bệnh viện, phòng khám là lĩnh
vực đầu tư có điều kiện nên trong quá trình thẩm tra, cấp giấy phép địa phương phải lấy ý kiến
của Bộ Y tế. Bộ Y tế cần trả lời trong thời gian hạn định của pháp luật và trả lời trực tiếp vào
những vấn đề thuộc trách nhiệm, phạm vi quản lý của mình.
ii) Về công tác quản lý sau cấp giấy phép.
Các địa phương muốn thực hiện tốt chức năng quản lý của mình cần xây dựng cơ chế
phối hợp giữa các cơ sở ban ngành có liên quan (Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Y tế, Sở Tài nguyên
Môi trường, Sở Lao động thương binh và Xã hội, Sở tài chính…), trong đó phải quy định rõ
trách nhiệm của từng đơn vị để làm tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc theo dõi,
quản lý, giám sát tình hình hoạt động của các cơ sở y tế FDI.
iii) Về quản lý chất lượng và giá cả dược phẩm và dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Để bình ổn thị trường ngành y tế, đảm bảo lợi ích cho người dân, nhà nước cần ban hành
các cơ chế quản lý chất lượng và giá cả dược phẩm cũng như dịch vụ y tế. Các cơ chế này có thể
được thực thi thông qua hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật, thanh tra, kiểm tra, giám sát.
3.3.2.2. Giải pháp đối với ngành giáo dục
a) Cải thiện môi trường đầu tư để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào
lĩnh vực giáo dục.
b) Về công tác hướng dẫn thủ tục, kêu gọi đầu tư vào các dự án giáo dục đào tạo.
c) Có biện pháp “che chắn” để bảo vệ và tăng tính cạnh tranh của giáo dục nước nhà.
d) Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động FDI trong giáo dục.
e) Thúc đẩy phát triển xã hội hóa giáo dục. KẾT LUẬN
Luận văn đã phân tích và làm sáng tỏ những khái niệm: về phát triển bền vững, phát triển
bền vững lĩnh vực dịch vụ. Luận văn cũng tìm hiểu quan hệ giữa FDI và phát triển bền vững lĩnh
vực dịch vụ và chỉ ra sự cần thiết phải thu hút FDI cho phát triển bền vững lĩnh vực dịch vụ. Bên
cạnh đó, Luận văn cũng tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm thu hút đầu tư FDI để phát triển lĩnh
vực dịch vụ của một số quốc gia có hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ phát triển, trên cơ sở đó rút

8. Phạm Thị Khanh (2012), Phát triển kinh tế dịch vụ Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc
tế, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội.
9. Nguyễn Thanh Minh (2010), “Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ vận tải biển Việt
Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, (10),
Tr. 59 – 67.
10. Nguyễn Mại (2012), „Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển bền vững ở Việt Nam”,
Chính sách thương mại nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011 – 2012, Tr. 39 –
48.
11. MUTRAP (2009), Chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ tới năm 2020 (CSSSD và
tầm nhìn tới năm 2025”, Hà Nội.
12. Phùng Xuân Nhạ (2009), “Nhìn lại vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh
phát triển mới của Việt Nam”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, (2), Tr. 70 – 78.
13. Nguyễn Nhâm (2010), “Học thuyết nào cho sự phát triển cân bằng và bền vững nền kinh tế
thế giới”, Nghiên cứu kinh tế, (387), Tr. 3 – 8.
14. Nguyễn Văn Nam (2012), “Phát triển bền vững ở nước ta”, Chính sách thương mại nhằm
phát triển bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011 – 2012, Tr. 76 – 85.
15. Chu Phương Quỳnh (2010), “Mô hình quản lý cảng biển: Kinh nghiệm Singapore và Hồng
Kông”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, (12), Tr. 41 – 49.
16. Nguyễn Hồng Sơn, Lê Văn Chiến, Nguyễn Mạnh Hùng (2009), “Phát triển ngành dịch vụ ở
các nền kinh tế chuyển đổi và hội nhập”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, (4),
Tr. 28 – 37.
17. Nguyễn Hồng Sơn, Lê Văn Chiến, Nguyễn Mạnh Hùng (2009), “Phát triển ngành dịch vụ ở
Mỹ: Những thay đổi của nền kinh tế và điều chỉnh chính sách”, Những vấn đề Kinh tế và
Chính trị Thế giới, (8), Tr. 24 – 34.
18. Nguyễn Hồng Sơn (2010), “Tái cấu trúc khu vực dịch vụ Việt Nam thời hậu khủng hoảng
tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu”, Nghiên cứu kinh tế, (388), Tr. 47 – 56.
19. Nguyễn Hồng Sơn, Lê Văn Chiến,, Nguyễn Mạnh Hùng (2009), “Phát triển nền kinh tế do
dịch vụ dẫn dắt ở Singapore: Những điều chỉnh chiến lược, các điều kiện thúc đẩy và giải
pháp cơ bản”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, (5), Tr. 35 – 43.
20. Đinh Văn Sơn (2010), “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới sự phát triển thị

34. Wolfben, Seymour (2010) America’s Service Economy, VRI Vocational Research
Institute. Monograph. Vol.1 (4).
35. Manafnezhad, Parisa (2006), Foreign Direct Investment and Steady Shift to Services
(Trade Offs and Challenges).
36. UNDP (2011), Viet nam Human Development Report: Economic growth driving Viet
ná’s human development progress, more emphasis needed on health and education, Ha
Noi.
Website:
37. http://www.baomoi.com/An-Do-Mien-dat-hua-cua-doanh-nghiep-My/45/5153584.epi
38. http://canbotre.danang.vn/home/showthread.php?t=2755.
39. http://cafef.vn/2011
40. www.khoadaotao.vn
41. http://tin.soha.vn/bao/nam2011
42. http://vnexpress.net/gl/kinhdoanh/quoc-te/2010
43. http://vnexpress.net/gl/suc-khoe/2011/10/che-hang-noi-dan-do-ra-nuoc-ngoai-chua-benh/
44. http://www.mpshcmc.com/hoatdong/hanhngheytaibvtu/66-b-y-t-u-t-bnh-vin-t-nhan-s-
tng-cao.html
45. http://vccinews.vn
46. www.Vietnamtourism.gov


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status