Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến hành vi không thích nghi của trẻ vị thành niên có rối loạn hành vi - Pdf 10

Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến
hành vi không thích nghi của trẻ vị thành niên
có rối loạn hành vi

Phạm Thị Bích Phượng

Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên
Người hướng dẫn: PGS.TS. Bahr Weiss, Ths. Trần Thành Nam
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về trẻ em vị thành niên và rối loạn
hành vi ở trẻ em vị thành niên. Xác định các kiểu phong cách làm cha mẹ và
nghiên cứu mối tương quan giữa phong cách làm cha mẹ với hành vi không thích
nghi của trẻ có rối loạn hành vi. Từ đó đưa ra một số dự báo cũng như những
hướng phòng ngừa hiệu quả đối với trẻ em vị thành niên.
Keywords: Rối loạn hành vi; Tâm lý học trẻ em; Trẻ vị thành niên; Cha mẹ; Giáo
dục con cái
Content
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Rối loạn hành vi là một rối loạn khá phổ biến ở trẻ em trên thế giới và gây ảnh
hưởng không nhỏ đến đời sống và sự phát triển của trẻ cũng như sự phát triển của xã hội
1.2. Rối loạn hành vi là một rối loạn ngày càng thu hút được sự quan tâm chú ý của xã
hội vì sự phát triển phức tạp không ngừng của nó
1.3. Phong cách làm cha mẹ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không
thích nghi của trẻ có rối loạn hành vi
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định những phong cách làm cha mẹ nào thì ảnh hưởng đến hành vi không
thích nghi ở trẻ có rối loạn hành vi.
Xác định những yếu tố có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa phong cách làm
cha mẹ và hành vi không thích nghi của trẻ.

thành niên.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu:
- Những hành vi không thích nghi của trẻ VTN được chẩn đoán sàng lọc qua
thang đo CBCL trong hệ thống Asebach và sẽ được đối chiếu với những tiêu chuẩn chuẩn
đoán của DSM IV trong rối loạn hành vi của trẻ vị thành niên.
- Phong cách làm cha mẹ sẽ được xác định dựa trên tiêu chuẩn của hai thang đo
PAQ và CRPBI
6.2. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
- Với nhóm khảo sát chính: Trẻ em vị thành niên ở độ tuổi từ 12 đến dưới 16
tuổi được chuẩn đoán có hành vi không thích nghi và đang tham gia học tập tại trường
giáo dưỡng số IV Đồng Nai.
- Với nhóm đối chứng: Học sinh trường THCS Hiệp Phước được chuẩn đoán
không có rối loạn hành vi.
6.3. Về địa bàn nghiên cứu
Tại trường Giáo dưỡng số IV Đồng Nai và trường THCS Hiệp Phước Đồng Nai.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp thống kê toán học
8. Đóng góp mới của luận văn
8.1. Đóng góp về mặt lý luận
Những kết quả thu được về mặt lý luận đã làm rõ hơn:
- Xác định các loại phong cách làm cha mẹ theo quan điểm phương Tây và của
người Việt Nam có con trong độ tuổi vị thành niên.
- Xác định mối liên hệ giữa phong cách làm cha mẹ có con ở lứa tuổi vị thành
niên và những hành vi không thích nghi của trẻ có rối loạn hành vi trên đối tượng người

1.1.2. Nghiên cứu ở Châu Á và Việt Nam
Liu (2003) [61] nghiên cứu về hành vi của cha mẹ trên 2000 trẻ sống tại các vùng
nông thôn của Trung Quốc cũng chỉ ra rằng hai khía cạnh của hành vi cha mẹ gồm cha
mẹ sử dụng nhiều hình phạt nghiêm khắc, mắng mỏ, chỉ trích khi con cái có hành vi
không mong muốn tỉ lệ thuận với các rối loạn hướng nội và hướng ngoại ở các em theo
báo cáo của cha mẹ.
Về phương diện tình cảm, vì cha mẹ Châu Á không thường thể hiện trực tiếp tình
yêu của mình với con cái qua các hành vi ôm hôn, hay khen ngợi nên Liu cho rằng lời
khen và sự quan tâm của cha mẹ có ảnh hưởng tích cực lên hành vi của trẻ Châu Á nhiều
hơn so với ảnh hưởng của cùng hành vi đó trên trẻ Châu Âu.
1.2. Định nghĩa và phân loại phong cách làm cha mẹ
1.2.1. Định nghĩa phong cách làm cha mẹ
Từ những phân tích về phong cách làm cha mẹ, trong phạm vi nghiên cứu luận văn
này, chúng tôi đồng ý với khái niệm sau đây: “Phong cách làm cha mẹ là mô hình những
khuôn mẫu khác nhau mà cha mẹ sử dụng để quản lý và xã hội hóa đứa trẻ”.
1.2.2. Phân loại phong cách làm cha mẹ
+Phong cách dân chủ: Theo Diana Baumrind (1989), phong cách cha mẹ dân chủ
thì có nhiều ấm áp (vd: diễn tả nhiều cảm xúc tích cực tới đứa trẻ), đưa ra những luật lệ
phù hợp với lứa tuổi của trẻ và sẵn sàng thảo luận những luật lệ đưa ra mặc dù cha mẹ sẽ
là người quyết định cho thảo luận đó. Cha mẹ dân chủ thì nhiều sự nồng nhiệt với trẻ, đưa
ra những yêu cầu và mong muốn hợp lý với trẻ, những yêu cầu cha mẹ đưa ra thì phù hợp
với giai đoạn phát triển của trẻ, những luật lệ và những mong đợi đưa ra thì rõ ràng.
+ Phong cách độc đoán: Ngược lại với phong cách cha mẹ dân chủ, cha mẹ độc
đoán thì lại cố gắng kiểm soát, kể cả kiểm soát hành vi và cảm xúc của trẻ; cha mẹ ít thể
hiện sự nồng ấm với trẻ, khi trẻ làm gì sai hoặc thất bại thì cha mẹ sẽ trừng phạt trẻ thậm
chí là dùng những hình phạt về thể chất (đánh đập trẻ). Cha mẹ độc đoán không giải thích
lý do đằng sau những luật lệ họ đưa ra. Họ thường dùng cách dạy con bằng việc đưa ra
chỉ dẫn và không mời gọi trẻ tham gia vào việc cùng đưa ra những quyết định
+ Phong cách dễ dãi – nuông chiều: Tương tự như phong cách làm cha mẹ dân
chủ, phong cách làm cha mẹ dễ dãi- nuông chiều được mô tả bởi sự nồng ấm cao của cha

Theo DSM – IV (Hội tâm thần học Hoa Kỳ, 1994) các rối loạn hành vi ở trẻ em và
VTN được tập hợp thành bốn nhóm: [29]
Xâm hại người khác hay súc vật, bao gồm:
Phá hoại tài sản (hành vi xâm hại gây tổn thất tài sản)
Lừa đảo hay trộm cắp
Vi phạm nghiêm trọng các luật lệ
1.3.4. Những nguyên nhân ảnh hưởng đến rối loạn hành vi
Nghiên cứu về nguyên nhân rối loạn hành vi phần lớn tập trung vào những yếu tố
nguy cơ xuất hiện tạo thành rối loạn hành vi. Bao gồm
1.3.4.1. Những yếu tố thuộc về cá nhân trẻ
1.3.4.2. Những yếu tố thuộc về gia đình
1.3.4.3. Những yếu tố về trường học
1.3.5. Huấn luyện hành vi cha mẹ, một phương thức hiệu quả để can thiệp rối loạn
hành vi
1.4. Trẻ vị thành niên và những vấn đề hành vi ở trẻ vị thành niên
1.4.1. Khái niệm trẻ vị thành niên
Trong khuôn khổ nghiên cứu luận văn “ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ
đến hành vi không thích nghi của trẻ vị thành niên có rối loạn hành vi” chúng tôi giới hạn
lại độ tuổi của khách thể nghiên cứu trong phạm vi từ 13 tuổi đến hết 16 tuổi.
1.4.2. Những biểu hiện rối loạn hành vi ở VTN
1.4.3. Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ và RLHV ở trẻ VTN
1.5. Tiểu kết về mối quan hệ giữa phong cách làm cha mẹ và RLHV ở trẻ
CHƢƠNG 2. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm của khách thể nghiên cứu
2.1.1. Mục đích lựa chọn và phân loại khách thể
2.1.2. Đặc điểm của nhóm trẻ đang sinh hoạt tại trường giáo dưỡng
2.1.3. Đặc điểm của nhóm trẻ học tại trường THCS Hiệp Phước
2.2. Tổ chức thu thập số liệu
2.2.1. Lựa chọn khách thể nghiên cứu

2 = Không đúng phần nhiều.
3 = Đúng phần nhiều.
4 = Hoàn toàn đúng.
Tác giả của thang đo này là Dr. John R. Buri, thuộc khoa tâm lý của trường Đại
học St. Thomas. Cấu trúc của thang đo gồm 3 tiểu thang đo phong cách làm cha mẹ đó là:
- Phong cách cha mẹ dễ dãi, nuông chiều
- Phong cách làm cha mẹ độc đoán
- Phong cách làm cha mẹ dân chủ
Độ tin cậy và độ hiệu lực của thang đo:
Thang CRPBI (Child’s Report of Parental Behavior) tạm dịch là báo cáo hành vi
của cha mẹ dành cho con cái gồm 30 câu được Earl S. Schaefer thuộc Viện sức khỏe tâm
thần quốc gia nghiên cứu và phát triển. Cấu trúc của thang đo gồm 3 tiểu thang đo để đo
3 phạm trù
- Quan tâm một cách thống nhất – Thiếu quan tâm:
- Ủng hộ sự độc lập – Kiểm soát về tâm lý, cảm xúc:
- Chấp nhận và Bỏ mặc:
Độ tin cậy và độ hiệu lực của thang đo:
Quá trình Việt hóa và sử dụng các thang đó CBCL, PAQ và CRPBI ở Việt Nam:
2.4. Chiến lƣợc phân tích
Trong đề tài này, số liệu khảo sát thực tiễn được tôi xử lý theo từng cặp cha mẹ -
con cái. Để xử lý số liệu điều tra, tôi đã sử dụng phương pháp thống kê toán học, số liệu
thu được sau khảo sát thực tiễn được xử lý bằng chương trình SPSS phiên bản 13.
Bước 1, chúng tôi sử dụng các phép thống kê mô tả để có được một bức tranh về
tần suất, tỉ lệ phần trăm các đặc điểm của mẫu nghiên cứu mà chúng tôi cho rằng ít nhiều
có ảnh hưởng tới phong cách làm cha mẹ cũng như các vấn đề rối loạn hành vi ở trẻ bao
gồm: (a) tình trạng kinh tế gia đình; (b) trình độ học vấn của cha mẹ; (c) số lượng thành
viên trong gia đình; (d) nghề nghiệp.
Bước 2, sử dụng phép kiểm định bằng giá trị hệ số tương quan (Pearson) cho các
biến liên tục và phân phối chuẩn để có kết luận về mối tương quan giữa các phong cách
làm cha mẹ (dễ dãi - nuông chiều; độc đoán – nghiêm khắc và dân chủ); hành vi làm cha

chiều hay độc đoán, nghiêm khắc có mối tương quan thuận với tỉ lệ hành vi sai phạm và
hành vi xâm khích của trẻ VTN trong khi đó phong cách làm cha mẹ dân chủ có mối
quan hệ nghịch với tỉ lệ rối loạn hành vi ở trẻ. Ở cấp độ đặc điểm hành vi làm cha mẹ, giả
thuyết của chúng tôi là sự nồng ấm và nhất quán trong hành vi của cha mẹ càng cao thì tỉ
lệ hành vi sai phạm và hành vi xâm khích càng thấp và ngược lại cha mẹ kiểm soát tâm lý
SyySxx
Sxy
yyxx
yyxx
r





22
)()(
))((
càng nhiều thì tỉ lệ hành vi xâm khích và hành vi sai phạm càng tăng. Phép phân tích
tương quan đã được dùng để kiểm định mối quan hệ giữa các biến, kết quả kiểm định
được thể hiện như sau:
Kết quả trong bảng 3.9 cho thấy sự đồng thuận với kết luận của các công trình
nghiên cứu đi trước về phong cách làm cha mẹ dễ dãi nuông chiều và phong cách làm cha
mẹ độc đoán nghiêm khắc đều làm tăng các biểu hiện rối loạn hành vi ở trẻ. Kết quả của
nghiên cứu này cũng thống nhất với các nghiên cứu đi trước về tỉ lệ tương quan cao giữa
nhóm hành vi sai phạm và hành vi xâm khích ở VTN (với hệ số tương quan lần lượt là
0,809 dựa trên số liệu tự báo cáo của trẻ và 0,715 căn cứ trên đánh giá của cha mẹ)
Với phong cách làm cha mẹ dân chủ, kết quả của nghiên cứu này có phần hơi khác
với mong đợi. Theo kết quả của các nghiên cứu đi trước (phần lớn được tiến hành ở
phương Tây) phong cách làm cha mẹ dân chủ đặc trưng bởi sự ấm áp và thời gian dành

tiếp (thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi xâm khích) nhưng có thể có những các
phản ứng gián tiếp (đằng sau lưng bố mẹ/ khi bố mẹ không có mặt) qua những hành vi sai
phạm, hành vi phá luật.
3.2.1. Mối tương quan giữa phong cách làm cha mẹ và rối loạn hành vi hướng ngoại
của trẻ VTN ở trường Giáo dưỡng số IV
Kết quả từ những nghiên cứu đi trước cho rằng, phong cách cha mẹ dân chủ là một
trong những loại phong cách tối ưu và là phong cách được đánh giá là tốt nhất cho sự
phát triển của trẻ. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu không tương đồng với những kết quả đi
trước, không chỉ riêng với phong cách dân chủ mà cả phong cách độc đoán của các bậc
cha mẹ ở trường Giáo dưỡng đều không có ý nghĩa về mặt thống kê.
Tuy nhiên, với phong cách dễ dãi nuông chiều theo kết quả thống kê cho thấy có
tương quan với hành vi sai phạm (r = 0,236)
Ở cấp độ hành vi làm cha mẹ, chúng tôi cũng tiến hành phân tích tìm mối liên hệ
giữa hành vi làm cha mẹ với rối loạn hành vi ở trẻ VTN.
Tương tự như khía cạch phong cách làm cha mẹ, theo kết quả thống kê về cấp độ
hành vi làm cha mẹ thì hành vi nồng ấm và hành vi kiểm soát tâm lý của cha mẹ đều ảnh
hưởng đến hành vi sai phạm ở trẻ VTN. Cụ thể là hành vi nồng ấm tương quan nghịch
với hành vi sai phạm ở trẻ VTN (r = -0,267).
Nhìn chung, dựa trên số liệu thống kê về mối tương quan giữa hai cấp độ phong
cách làm cha mẹ và hành vi làm cha mẹ với rối loạn hành vi ở trẻ VTN thì đều có chung
một kết luận: Phong cách nghiêm khắc độc đoán và phong cách dễ dãi nuông chiều cũng
như hành vi kiểm soát tâm lý và nồng ấm thì có tương quan với rối loạn hành vi hướng
ngoại ở trẻ VTN trong trường Giáo dưỡng. Thông qua kết quả thu được, chúng tôi cũng
nhận ra rằng phong cách dân chủ dường như không có ý nghĩa về mặt thống kê. Điều này
có sự khác biệt với những nghiên cứu đi trước khi dự báo phong cách này có ảnh hưởng
tích cực đến hành vi của trẻ VTN.
3.2.2. Mối tương quan giữa phong cách làm cha mẹ và rối loạn hành vi hướng ngoại
của trẻ VTN ở trường THCS Hiệp Phước
Tương tự như kết quả thu được về mối tương quan giữa phong cách làm cha mẹ và
hành rối loạn hành vi ở trẻ VTN ở trường Giáo dưỡng. Kết quả thu được ở nhóm trường

tin dựa trên báo cáo của trẻ về phong cách và hành vi làm cha mẹ và báo cáo của cha mẹ
về rối loạn hành vi của trẻ.
3.2.3. Bàn luận và so sánh giữa phong cách làm cha mẹ và rối loạn hành vi của trẻ
VTN ở hai trường Giáo dưỡng số IV và trường THCS Hiệp Phước
Để xác định liệu có sự khác nhau trong mối tương quan giữa phong cách làm cha
mẹ; hành vi làm cha mẹ với tỉ lệ rối loạn hành vi ở trẻ không, chúng tôi tiến hành phép
phân tích hồi quy đơn biến với biến Nhóm (giá trị 1 = nhóm trẻ tại trường giáo dưỡng và
2 = nhóm trẻ tại trường Hiệp Phước). Bất cứ khi nào sự tương tác giữa biến Nhóm và
kiểu hành vi làm cha mẹ hoặc phong cách làm cha mẹ có ý nghĩa thống kê nghĩa là có thể
kết luận mối quan hệ giữa một phong cách làm cha mẹ hoặc hành vi làm cha mẹ cụ thể
nào đó và rối loạn hành vi có sự khác biệt giữa hai nhóm ở mức ý nghĩa thống kê.
Căn cứ trên phép kiểm định này, kết quả cho thấy chỉ có sự khác biệt giữa 2 nhóm
trẻ VTN trong mối quan hệ giữa phong cách làm cha mẹ độc đoán và hành vi xâm khích
(F = 6,44 P<0,05) là có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, mối quan hệ giữa kiếm soát tâm lý và
hành vi sai phạm (F = 10,857, P < 0,001) cũng có ý nghĩa thống kê cao.
Số liệu cho thấy chỉ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa phong cách và hành
vi làm cha mẹ và những vấn đề hành vi ở 2 nhóm trẻ ở phong cách làm cha mẹ độc đoán
và hành vi kiểm soát tâm lý của cha mẹ. Không có sự khác biệt có ý nghĩa đối với các
phong cách làm cha mẹ dân chủ và nuông chiều cũng như hành vi làm cha mẹ nồng ấm
và nhất quán với hành vi không thích nghi ở hai nhóm trẻ.
Tại sao lại có sự khác biệt trong mối quan hệ giữa phong cách, hành vi làm cha mẹ
và rối loạn hành vi của con cái ở nhóm trẻ VTN trường Giáo Dưỡng và trường Hiệp
Phước. Lý do có thể là đây là nhóm trẻ đặc thù, trung bình các em có thời gian sinh hoạt
ở trong trại từ ba tháng trở lên nên không có nhiều sự tương tác với gia đình. Hơn nữa,
qua phỏng vấn, nói chuyện cùng các em, chúng tôi thấy rằng đây là những em có mức độ
rối loạn hành vi khá nghiêm trọng và ngay cả trước khi được đưa vào trường Giáo dưỡng,
các em cũng ít khi dành thời gian ở nhà cũng như giao tiếp với bố mẹ, có lẽ chính vì vậy
bố mẹ các em dù có áp dụng những phong cách, hành vi làm cha mẹ thế nào đi chăng nữa
thì cũng không ảnh hưởng đến hành vi của các em. Đối với nhóm trẻ trong trường Giáo
dưỡng, nhóm bạn bè, băng nhóm mới là yếu tố ảnh hưởng chính đến hành vi của các em

trình độ học vấn có ý nghĩa hết sức quan trọng và có ảnh hưởng đến hành vi của trẻ VTN.
Kết quả nghiên cứu cũng đã thống kê và chỉ ra rằng, trình độ học vấn của cả cha lẫn mẹ
đều ảnh hưởng đến hành vi làm cha mẹ và từ đó ảnh hưởng đến những vấn đề hành vi ở
trẻ. Riêng yếu tố nghề nghiệp, chỉ có nghề nghiệp của mẹ là có liên quan đến hành vi làm
cha mẹ nhất quán và hành vi kiểm soát tâm lý và nó cũng ảnh hưởng đến những vấn đề
hành vi của trẻ.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận
Nghiên cứu lý luận cho thấy rối loạn hành vi là một trong những rối loạn đáng quan
tâm và có ảnh hưởng rất lớn đến bản thân trẻ VTN, gia đình cũng như xã hội. Rối loạn
hành vi ở trẻ VTN với những biểu hiện hành vi không thích nghi ngày càng đa dạng và
phức tạp.
Rất nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu những nguyên nhân ảnh hưởng đến rối loạn hành
vi ở trẻ VTN. Chưa có một kết luận chính xác là do nguyên nhân cụ thể nào nhưng những
nhà nghiên cứu đã thống nhất và cho rằng có ba yếu tố chính dẫn đến rối loạn hành vi:
yếu tố cá nhân trẻ, yếu tố xã hội và yếu tố gia đình. Trong yếu tố gia đình, cha mẹ và
hành vi của cha mẹ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát
triển hành vi thích nghi ở VTN.
Tổng hợp từ những nghiên cứu đi trước được tiến hành ở các nước Phương Tây cho
thấy phong cách làm cha mẹ độc đoán và phong cách dễ dãi nuông chiều là những loại
phong cách ảnh hưởng tiêu cực, góp phần hình thành rối loạn hành vi nơi trẻ cụ thể là rối
loạn hành vi hướng ngoại ở trẻ VTN. Riêng phong cách dân chủ được đánh giá là phong
cách tối ưu, giúp trẻ phát triển và hoàn thiện bản thân tốt nhất. Tuy nhiên, chưa có nhiều
nghiên cứu về phong cách làm cha mẹ được tiến hành tại Viêt Nam nên những gợi ý về
ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ lên hành vi của VTN Việt Nam vẫn chưa được
kiểm chứng.
Kết quả nghiên cứu thực tiễn của nghiên cứu này bước đầu cho thấy rằng, hai phong
cách độc đoán và dễ dãi nuông chiều đều có tương quan với rối loạn hành vi hướng ngoại
ở trẻ VTN Việt Nam. Tuy nhiên, với phong cách dân chủ không tìm thấy ý nghĩa về mặt

trong việc ngăn chặn và cải tạo những vấn đề hành vi của VTN Việt Nam.

References
Tài liệu tiếng Việt:
1. Ngô Thị Ngọc Anh, Hoàng Thị Tây Ninh (2004), "Phòng ngừa hành vi sai lệch ở vị
thành niên nhìn từ góc độ giáo dục gia đình". Khoa học về phụ nữ, tr.35-40.
2. Bựi Thin C (1995), "Giỏo dc hc sinh h, hc sinh phm phỏp trờn a bn dõn
c", K yu hi tho khoa hc: "Thnh tu nghiờn cu ging dy, tõm lý hc v giỏo
dc hc 1990 - 1995 ", H Ni, tr.14-15.
3. Vn Th Kim cỳc (2001), Th tỡm hiu mt s cỏch thc giỏo dc con cỏi mt
nhúm b m H Ni, Bài đóng góp cho Hội thảo Viện tâm lý học
4. V Dng (2008). T in tõm lý hc. Nxb T in bỏch khoa, H Ni, tr. 615.
5. Nguyn ỡnh Gm (2002), "Nguyờn nhõn tõm lý xó hi ca ti phm v thnh niờn",
Tõm lý hc, tr.16-18.
6. Lu Song H (2005), Hnh vi lch chun ca hc sinh trung hc c s v mi
tng quan gia nú vi kiu quan h cha m - con cỏi, Lun ỏn tin s Tõm lý
hc,Vin tõm lý hc ,H Ni.
7. Lu Song H (1999), "Mt s biu hin ca ri nhiu hnh vi - hin tng ỏng lo ngi
hc sinh ph thụng hin nay, Tõm lý hc, tr.39-41 v 56.
8. Lờ Vn Ho (2001), "Quan h cha m - con cỏi l thanh niờn: bt ng v ng x,
Tõm lý hc, tr.28-35. .
9. Lờ Nh Hoa (2001), Vn hoỏ gia ỡnh vi vic hỡnh thnh v phỏt trin nhõn l cỏch
tr em, Nxb Vn hoỏ - thụng tin, H ni
10. Nguyn Th Hoa (1999), "Hnh vi cú vn ca tr v thnh niờn: nhng nh hng
ca cha m", Tõm lý hc, tr.35-38.
11. Nguyn Th Hoa (2004), nh hng ca nhúm bn khụng chớnh thc tiờu cc trờn
hnh vi vi phm phỏp lut ca tr v thnh niờn, Lun ỏn tin s tõm lý hc, Vin
khoa hc giỏo dc, H Ni.
12. ng Xuõn Hoi (1992), "Tr em h, lang thang, phm phỏp nhng i tng b thit
thũi v bt hnh", K yu hi tho Quc gia, H Ni, tr.49-50.

phạm tội", Kỷ yếu hội thảo quốc gia, Hà nội, tr.5-7.
28. Porot (1993), "Trẻ em và các mối quan hệ trong gia đình", Người dịch: Đạm Thƣ
Bàn về tâm lý gia đình, Nxb Kim Đồng, Hà Nội.
29. Nguyễn Văn Siêm (2007). Tâm bệnh học trẻ em và vị thành niên. Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, tr. 206 – 210.
30. Hoàng Cẩm Tú, Quách Thúy Minh, Nguyễn Hồng Thúy “Các biểu hiện liên quan
đến sức khỏe tâm thần ở trẻ em và vị thành niên ở hai phường dân cư thuộc Hà Nội”.
Khoa tâm thần Viện Nhi TW, Hà Nội.
Tài liệu tiếng Anh:
31. American Academy of Child and Adolescent Psychiatry (1997), “Practice
parameters for the assessment and treatment of children and adolescents with conduct
disorder”, Journal of American Academy of Child and Adolescent Psychiatry, tr.122–
139.
32. American Psychiatric Assossoation (1968), DSM-II –Diagnostic and Statical
Manual of Mental Disorder (2nd edition), Washington, DC: APA.
33. American Psychiatric Assossoation (1994), DSM – IV - Diagnostic and Statical
Manual of Mental Disorder (4th edition), Washington, DC: APA
34. Baumrind (1991), The influence of parenting style on adolescent competence and
substance use, Journal of Early Adolescence, tr. 56-95.
35. Baumrind (1967). Parental disciplinary patterns and social competence in children.
Youth and Society, tr. 239-276.
36. Chao, R. K. (2001), Extending research on the consequences of parenting style for
Chinese Americans and European Americans, Child Development, tr. 1832–1843.
37. Chen, X., Liu, M., & Li, D. (2000). Parental warmth, control, and indulgence and
their relations to adjustment in Chinese children: A longitudinal study. Journal of
Family Psychology, tr. 401-419.
38. Coplan, R.J., Reichel, M., & Rowan, K. (2009). Exploring the associations
between maternal personality, child temperament, and parenting: A focus on
emotions. Personality and Individual Differences, tr. 241-246.
39. Dodge, A. K; Malone, S.P; Greenberg, T.M (2008), Testing an Idealized

50. Lundahl và cộng sự (2006). Lundahl, B., Risser, H., & Lovejoy, C. (2006). A
meta-analysis of parent training: Moderators and follow-up effects. Clinical
Psychology Review,p. 86-104.
51. Maccoby, E. E. & Martin, J. A. (1983). Socialization in the context of the family:
Parent-child interaction. In P. H. Mussen (Ed.) Handbook of Child Psychology:
Socialization, Personality, and Social Development (Vol. 4, pp. 1-101), New York.
52. MacDonald, V. M. and Achenbach, T. M. (1999), “Attention problems as 6-year
predictors of signs of disturbance in a national sample”, Journal of American
Academy of Child and Adolescent Psychiatry,tr. 1254–1261.
53. Mandeep, S., Novrattan, S., Amrita. Y. (2011). Parental styles and depression
among adolescents. Journal of the Indian Academy of Applied Psychology, tr. 60-
68.
54. Miller-Johnson, S., Coie, J. D., Maumary-Gremaud, A., Bierman, K. and The
Conduct Problems Prevention Research Group (2002), “Peer rejection and
aggression and early starter models of conduct disorder”, Journal of Abnormal
Child Psychology, tr. 217–230.
55. Moscatelli S.;& Rubini M. (2009) .Parenting styles in adolescence: The role of
warmth, strictness and psychological granting influence collective self-esteem and
expectations for the future. In Pacey, H. K. and Tahlia, M. D. (Ed.) Handbook of
parenting styles, stresses, and strategies. Nova Science Publishers, Inc. New York.

56. Moffitt, T. E., Caspi, A., Dickson, N., Silva P. and Stanton, W. (1996)
“Childhood-onset versus adolescent antisocial conduct problems in males: natural
history from ages 3 to 18 years”, Development and Psychopathology, tr. 399–424.
57. Pratt, M. W., Green, D., MacVicar, J. & Bountrogianni, M. (1992). The
mathematical parent: Parental scaffolding, parent style, and learning outcomes in
long-division mathematics homework. Journal of Applied Developmental
Psychology, 13, tr.17–34
58. Rutter,M.(1996), “Connections between child and adult psychopathy”, European
Child and Adolescent Psychiatry , tr. 4–7.

with early-onset conduct problems: Intervention outcomes for parent, child, and
teacher training. Journal of Clinical Child and Adolescent Psychology, tr.105–124

68. WHO ( 1994) World Health Organization & International
69. Williams, L.R., Degnan, K. A., Perez-Edgar, K.E., Henderson, H. A., Rubin,
K. H., Pine, D.S., Steinberg, L., Fox, N. A.( 2009). Impact of behavioral inhibition
and parenting style on internalizing and externalizing problems from early
childhood through adolescence. Journal of Abnormal Child Psychology 37, tr.1063-
1075.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status