Dạy học các tác phẩm thơ nguyễn khuyến, tú xương ở trung học phổ thông theo hướng tiếp cận thi pháp - Pdf 10

Dạy học các tác phẩm thơ Nguyễn Khuyến,
Tú Xương ở trung học phổ thông theo hướng
tiếp cận thi pháp Phạm Thị Thu Hiền Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Khánh Thành
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Giải quyết một số vấn đề lý luận về thi pháp học, thi pháp thơ trung đại,
thi pháp thơ Nguyễn Khuyến và thi pháp thơ Tú Xương. Tìm hiểu thực trạng dạy
học tác phẩm thơ trung đại. Đề xuất phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận thi
pháp. Thiết kế thể nghiệm giáo án bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ
của Tú Xương theo hướng tiếp cận thi pháp.

Keywords. Phương pháp dạy học; Ngữ văn; Thi pháp; Thơ Content
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học có vị trí quan trọng đặc thù trong việc bồi đắp tâm hồn, hình thành nhân cách
học sinh. Văn học trang bị những cảm xúc nhân văn, giúp con người hướng tới Chân - Thiện
- Mỹ. Nhờ có văn học mà đời sống tinh thần của con người ngày càng giàu có, phong phú,
tinh tế hơn. Tâm hồn trở nên bớt chai sạn, thờ ơ, bàng quan trước những số phận, cảnh đời

Xuất phát từ thực trạng dạy học thơ trung đại hiện nay, luận văn xin đề xuất phương
pháp: Dạy học các tác phẩm thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương ở trung học phổ thông theo
hướng tiếp cận thi pháp nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn, nâng cao
hiệu quả giảng dạy qua đó bồi dưỡng năng lực nhận thức và tình yêu đối với văn học của học
sinh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, chúng tôi xác định đề tài có những nhiệm vụ
nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Giải quyết một số vấn đề lý luận về thi pháp học, thi pháp thơ trung đại, thi pháp thơ
Nguyễn Khuyến và thi pháp thơ Tú Xương.
- Tìm hiểu thực trạng dạy học tác phẩm thơ trung đại
- Đề xuất phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận thi pháp.
- Thiết kế thể nghiệm giáo án dạy bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ của Tú
Xương theo hướng tiếp cận thi pháp.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thi pháp văn học trung đại, thi pháp Nguyễn Khuyến và
thi pháp Tú Xương.
+ Định hướng đổi mới dạy bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ của Tú Xương
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Nghiên cứu lí luận về dạy học tác phẩm văn chương theo hướng tiếp cận thi pháp.
+ Vận dụng vào dạy Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ của Tú Xương.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, thống kê, phân tích
- Phương pháp khảo sát, thực nghiệm
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày
trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng dạy học thơ trung đại trong nhà trường trung học phổ thông hiện nay

(độ dài các sự kiện được tính bằng câu), tần xuất (số lần lặp lại). Các thủ pháp thời gian như:
trì hoãn, gián cách, đảo tuyến, chêm xen, hoán vị, đồng hiện, bỏ lửng, che giấu, đón trước
1.1.2.4. Thi pháp kết cấu văn bản
Kết cấu tác phẩm thực chất là tác giả mở lối cho người đọc đi vào dòng sự kiện, dòng
đời. Bố trí điểm nhìn cho công chúng sao cho dễ thấy được chiều rộng và chiều sâu của câu
chuyện nhằm thấy được ý nghĩa nhân sinh cần thiết cho con ngưởi.
Hình thức kết cấu văn học rất đa dạng và cũng phụ thuộc vào thể loại (riêng đối với thơ
luật thì còn phải theo kết cấu định sẵn ví dụ thơ Đường luật, lục bát, song thất lục bát. v.v…
Sự tích cực chủ động sáng tạo của nhà văn làm phong phú nhiều kiểu kết cấu thú vị.
1.1.2.5. Thi pháp chi tiết nghệ thuật
Chi tiết là những bộ phận nhỏ, tự nó đứng riêng thì không có ý nghĩa, nhưng khi kết
lại nó biểu hiện một ý nghĩa của tác phẩm. Chi tiết chính là điểm nhìn, thể hiện quan niệm
nghệ thuật và tâm hồn tác giả đối với đối tượng đó. Các chi tiết nghệ thuật bao gồm các loại
màu sắc, âm thanh, đồ vật, đường nét, chất liệu…tạo thành các thế giới nghệ thuật khác nhau
về chất.
1.1.2.6. Thi pháp lời văn nghệ thuật
Lời văn nghệ thuật là thứ ngôn ngữ đặc biệt, được chưng cất từ hiện thực ngôn ngữ của
toàn dân. Các phương diện của lời văn nghệ thuật là ngữ âm, từ vựng, cú pháp, biện pháp tu
từ.
1.2. Thi pháp văn học trung đại
1.2.1. Tính ước lệ
Ước lệ là một quy ước của cộng đồng người. Trong nghệ thuật đó là quy ước chung của
nghệ sĩ và độc giả. Đó là huynh hướng lí tưởng hoá để tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng
khác với đời sống thực tại. Cái có thật đi vào nghệ thuật được cách điệu hoá cao độ. Trong sự
cách điệu hoá đó, thiên nhiên chính là chuẩn mực, là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá vẻ
đẹp. Vì vậy, các nhà văn đều lấy thiên nhiên để so sánh với con người để tôn vinh vẻ đẹp.
1.2.2. Tính quy phạm
Khi sáng tác, các tác giả cũng vay mượn đề tài, cốt truyện, môtip, có khi cải biên cốt
truyện để tạo nên một tác phẩm mới. Đây là sự tuân theo những kiểu mẫu, khuôn mẫu sẵn có
đó thành công thức.

sau khi về Yên Đổ, nhà thơ đã có một quan niệm nghệ thuật về con người ẩn dật.
1.3.1.2. Không gian nghê
̣
thuật
Không gian nghệ thuật trong thơ ông trước hết là không gian vũ trụ. Ngoài ra còn là
không gian làng quê bình đạm, yên ắng nhưng vẫn phập phồng sự sống và đa chiều tràn đầy
màu sắc ánh sáng.
1.3.1.3. Thời gian nghê
̣
thuật
Trong thơ Nguyễn Khuyến vẫn tồn tại một thời gian vũ trụ và thời gian đời thường.
1.3.1.4. Nguyễn Khuyến – Sự phức điệu trào phúng với trữ tình.
Có khi vui đùa, châm biếm nhẹ nhàng, bỡn cợt hóm hỉnh, có khi nhà thơ đả kích trực
diện những lối sống rởm đời, những kẻ làm tay sai cho giặc. Khi khác là tiếng nói cảm thán
thương thân và xót xa trước cả một thời đại. Chính sự đan xen sắc thái trữ tình và trào phúng
một cách uyển chuyển, sinh động trong sáng tác của Nguyễn Khuyến theo nhiều cung bậc
trên sẽ dẫn tới sự phức điệu. Nhưng trước cảnh nhiễu nhương của xã hội, dòng thơ trữ tình
Nguyễn Khuyến không thể cuồn cuộn nổi lên những con sóng giận dữ đã làm cho thơ trào
phúng của Nguyễn Khuyến chưa thật sắc nhọn, đích đáng như lối thơ trào phúng của Tú
Xương, Hồ Xuân Hương.
1.3.2. Một số vấn đề về thi pháp Tú Xương
1.3.2.1. Quan niệm về con người trong thơ Tú Xương
* Con người làm trò
Con người làm trò là con người không xuất hiện một cách bình thường, tự nhiên như
nó vốn có mà xuất hiện trong tư thế đang “diễn trò”, đang hài hước hóa chính mình.
* Con người hữu danh vô tài
Con người hữu danh vô tài là con người đỗ đạt, có chức tước, địa vị trong bộ máy cai
trị phong kiến nhưng kém về tài năng và học vấn.
* Con người trượt chuẩn
Con người trượt chuẩn theo Tú Xương, trước hết là con người trượt ra khỏi vị trí, danh

tiếng cười sắc sảo, dữ dội, cay độc và đáo.
* Chất giọng dân gian
Chất giọng dân gian trong thơ Tú Xương được tạo nên từ các yếu tố sau đây: sự tiếp
thu hệ thống hình tượng nghệ thuật và hệ thống thành ngữ, tục ngữ và cách ví von so sánh.

CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG DẠY HỌC THƠ TRUNG ĐẠI TRONG NHÀ TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY VÀ ĐỊNH HƢỚNG ĐỔI MỚI TỪ HƢỚNG
TIẾP CẬN THI PHÁP.
2.1. Thực trạng dạy học thơ trung đại trong nhà trƣờng trung học phổ thông hiện nay
2.1.1. Thực trạng học thơ trung đại nói chung trong nhà trường trung học phổ thông hiện
nay
Như chúng ta đã biết, để khám phá, tìm hiểu cái hay, cái đẹp của một một bài thơ trung
đại thì không chỉ đòi hỏi ở người giáo viên cần phải có sự hiểu biết sâu sắc những kiến thức
về thi pháp thời đại, thi pháp tác giả, thể loại văn học,… mà còn đòi hỏi người học sinh cũng
phải có những kiến thức nhất định về những vấn đề trên. Đây là một đòi hỏi chỉ có thể thực
hiện ở những học sinh yêu thích, say mê tìm hiểu tác phẩm văn học. Trong bối cảnh hiện nay,
còn được mấy học sinh yêu thích bộ môn này trong một lớp! Vì vậy mà giáo viên chỉ đơn
giản là truyền thụ kiến thức một chiều thiên về nội dung. Việc tìm hiểu tác phẩm quá chú
trọng nội dung tư tưởng tác phẩm trong dạy học văn trong một thời gian dài đã gây hậu quả
nghiêm trọng. Chất nghệ thuật, chất văn đã bị thủ tiêu, giờ văn như một giờ giảng đạo đức,
một giờ bàn luận về những vấn đề lịch sử, chính trị, xã hội … người học trở lên chán học,
người dạy thì quen với cách dạy như vậy, ít chịu tìm tòi, khám phá, sáng tạo mà coi đó là
những lối mòn trong đời dạy học. Chất lượng giờ dạy vì thế mà ngày càng đi xuống, môn
Văn ngày càng mất đi vị thế quan trọng của mình trong việc trang bị kiến thức khoa học,
nghệ thuật, và quan trọng hơn là thiên chức giáo dục nhân cách đạo đức cho học sinh.
2.1.2. Thực trạng dạy học “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến và “Thương vợ” của Tú

thi pháp tác giả
2.2.2.1. Dạy bài Thu điếu theo đặc điểm thi pháp thơ Nguyễn Khuyến
Thi pháp thơ Nguyễn Khuyến là những nét nghệ thuật sáng tạo đặc sắc mang dấu
ấn Nguyễn Khuyến vượt ra ngoài những quy phạm của văn học trung đại. Trong bài thơ Thu
điếu nét đắc trưng thi pháp thơ Nguyễn Khuyến là được thể hiện ở những bình diện sau:
+ Thi đề: Nguyễn Khuyến phá vỡ tính ước lệ ngay từ thi đề. Nếu như thơ ca cổ nói đến mùa
thu thì thường đó là hình ảnh của một bức tranh thu có tính chất khái quát, phổ quát với âm
hưởng buồn sầu rất chung chung thì ở đây, qua thi phẩm, nhà thơ đã đưa chúng ta về với
không - thời gian của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ, rất cụ thể và sinh động, không lẫn với bất
kì bức tranh thu nào.
+ Thi hứng: Các nhà thơ xưa thường tìm cảm hứng trong cảnh vật Trung Hoa, như sông Xích
Bích, hồ Động Đình, bến Tầm Dương, sông Tiêu Tương, bến Phong Kiều, Nhưng trong các
thi phẩm Nguyễn Khuyến những cảnh quen thuộc thường ngày của nông thôn Việt Nam đã
đem đến nguồn thi hứng trong thơ ông.
+ Thi liệu: trong bài Thu điếu vẫn là trời nước, gió, trúc – những thi liệu quen thuộc nhưng ở
đây lại là những hình ảnh trời thu xanh ngắt, ngõ trúc quanh co, ao thu bé tẻo teo, hiện lên
với đặc điểm chung là rất sinh động, cụ thể, rất riêng của vùng đồng chiêm trũng nơi quê
hương tác giả.
+ Ngôn ngữ nghệ thuật: sử dụng dày đặc những từ thuần Việt trong sáng, dể hiểu, giàu sức
gợi: xanh ngắt, lạnh lẽo, trong veo, bé tẻo teo, gợn tí, vèo, lơ lửng, vắng teo, bèo. Ở đây các
từ được khai thác để diễn đạt các cảm giác khác nhau về mùa thu. Vần eo ở bài Thu điếu là
một sáng tạo của Nguyễn Khuyến tạo cảm giác thu nhỏ, xa vắng. Hẳn trong thơ ca cổ về mùa
thu không có được điều tuyệt diệu này. Ngoài ra, các từ láy được sử dụng trong bài thơ góp
phần tạo nên ấn tượng nhẹ nhàng, chậm chạp, yên tĩnh, vắng vẻ của cảnh thu: lạnh lẽo, tẻo
teo, lơ lửng. Cảnh thu được nhìn từ quan điểm của một nhà nho ẩn dật đã được diễn tả bằng
yếu tố tạo hình, tạo ấn tượng của từ ngữ rất thành công.
+ Không gian nghệ thuật: mở ra với bầu trời xanh ngắt, tầng mây lơ lửng. Dưới mặt đất có
ao nước lạnh lẽo, những làn sóng xanh biếc gợn nhẹ, những đám béo, và dưới lớp bèo là
những con cá chứng tỏ sự hiện diện của nó bằng việc đớp động dưới chân bèo, chiếc thuyền
câu mà trên đó, chắc hẳn người câu đang ngồi. Trên bờ là một cái ngõ nhỏ có hàng trúc

trong “Giọt lệ thu”. Hoặc lắng nghe hồn mình ngơ ngác, đơn côi giữa mùa thu như Lưu
Trọng Lư trong Tiếng thu. Hoặc duyên dáng mơ màng như Xuân Diệu trong bài Đây mùa thu
tới.
Tóm lại, Thu điếu là sự thể hiện một trong những nét đặc sắc của nghệ thuật phương
Đông: lấy động tả tĩnh. Để gợi cái yên ắng của cảnh vật, cái tĩnh lặng của tâm trạng, tác giả
đã đưa vào bức tranh một nét động duy nhất “cá đâu đớp động đưới chân bèo”. Dù vẫn theo
một số nguyên tắc tả cảnh của thi pháp thơ cổ điển nhưng nhà thơ đã vượt lên những hình
thức ước lệ khi nói về mùa thu như “sen tàn, cúc nở”, “lá ngô đồng rụng”. Nguyễn Khuyến
đã đưa vào thơ những hình ảnh rất thực của cảnh vật quê hương. Vì thế cảnh thu trong thơ
Nguyễn Khuyến tuy đơn sơ nhưng vô cùng gợi cảm tạo nên những rung động sâu sắc trong
lòng người đọc. Nhìn lại các bài thơ mùa thu ngày xưa. Thu hứng của Đỗ Phủ là một trong thi
phẩm tài tử nhất đời Đường, bút pháp miêu tả kỳ diệu, chuyên dùng những hình tượng trong
thiên nhiên làm bối cảnh trợ lực để tự tình những nỗi uất hận bình sinh của tác giả. Còn ngày
nay vào thế kỷ XIX ở nước ta, các bài thơ Thu vịnh, Thu ẩm nhất là bài Thu điếu của Nguyễn
Khuyến là những bài thơ Nôm tuyệt tác trứ danh được người đời truyền tụng cho đến ngày
nay. Tuy xây dựng theo những quy luật gò bó, chặt chẽ của thơ Đường luật mà bao nhiêu tình
ý, cảnh trí Việt Nam đã được giao thoa một cách dung dị, uyển chuyển chưa từng thấy.
2.2.2.2. Dạy bài Thương vợ theo đặc điểm thi pháp thơ Tú Xương
Những nét nghệ thuật sáng tạo đặc sắc mang dấu ấn thi pháp thơ Tú Xương vượt ra
ngoài những quy phạm của văn học trung đại trong bài thơ Thương vợ được thể hiện ở những
bình diện sau:
+ Đề tài: người vợ. Trong thơ trung đại Việt Nam, các nhà thơ ít khi viết về người vợ. Và có
viết về họ chỉ khi họ đã qua đời. Chỉ có một số nhà thơ như Cao Bá Quát, Bùi Hữu Nghĩa,
Phạm Văn Nghị là có viết về vợ mình ngay lúc đang sống. Nhưng viết nhiều nhất và hay
nhất, mà lại là về một người vợ đang còn hiện hữu trên đời thì có lẽ Trần Tế Xương là tác giả
tiêu biểu hơn cả.
+ Bút pháp, giọng điệu: Thương vợ tiêu biểu cho sự hòa hợp giữa hai phẩm chất nghệ thuật
nổi bật trong sáng tác của ông: trào phúng và trữ tình, trong đó trữ tình là chính, là cơ bản.
Qua bài thơ này cho chúng ta thấy, bên cạnh một Tú Xương trào phúng sắc sảo, ngang ngạnh,
tinh quái, khác đời là một Tú Xương khác rất mực đằm thắm, biết tự hạ mình để làm đẹp

nhớ lấy câu này, Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua”. Vậy mà bà Tú phải qua sông trên con đò
như thế. Ông Tú đổi từ “đầy” thành “đông”, kết hợp với mấy từ tượng hình, tượng thanh, tạo
nên câu thơ có hình, có giọng: eo sèo mặt nước, vừa quá tải, vừa hỗn độn, chòng chành rất
đáng sợ. Chỉ đảo nhẹ một cấu trúc câu tạo sự cân đối theo thể luật đường, chỉ thay một vài
chữ trong kho tàng tiếng nói dân gian, “nhà thơ đất Vị Hoàng đã sáng tạo được một hình
tượng thẩm mỹ tuyệt vời chân thực, giản dị, tự nhiên thấm đẫm chất dân tộc, rất gần gũi, sống
mãi trong không gian và thời gian. Khi nhìn ngắm, chúng ta thấy rung rinh, ẩn hiện biết bao
hình hài, đường nét chung của vạn triệu bà mẹ, người chị Việt Nam ngày ấy cũng như bây
giờ. Những bà mẹ, người chị gian nan, vất vả hơn nhiều những “con cò, con vạc” thủa xưa.
Hai câu thực phảng phất lời ăn tiếng nói của nhân gian với những thành ngữ được sử
dụng rất tự nhiên “một duyên, hai nợ”, “năm nắng, mười mưa”. Ở đây là “một duyên, hai
nợ”, “năm nắng mười mưa” chứ không phải như trong thành ngữ “một nắng hai sương”. Vậy
điều gì giúp bà vượt qua “một duyên, hai nợ” , “năm, mười” mưa nắng, mưa nắng của cuộc
đời, mưa nắng của cái tính ngang ngược, đành hanh mà không ít lần ông Tú gây ra. Đó chính
là cái tình, cái nghĩa vợ chồng. Điều kỳ diệu là người mẹ, người vợ đó không hề ý thức rằng
đó là sự hy sinh. Như bao người phụ nữ Việt Nam khác, bà làm mọi việc một cách tự nhiên,
âm thầm, không hề đòi hỏi, oán trách.
- Chất liệu dân gian còn được thể hiện qua khẩu ngữ đời thường: vẫn là cách nói dân gian,
nghĩ sao nói vậy, không còn nuột nà, ý nhị mà ông dùng tiếng chửi – chửi mát qua hai câu
cuối. Tú Xương nhập thân vào bà Tú để chửi, để rủa chính thói đời bạc bẽo, trách cứ sự vô
tích sự của mình. Thói đời là những nếp cư xử , hành động xấu chung mà người đời hay mắc
phải. Thói đời mà Tú Xương muốn nói đến ở đây là tư tưởng trọng nam khinh nữ, là thói vô
tâm của các ông chồng với vợ. Thói xấu ấy cũng đã thấm vào người ông Tú, khiến ông ăn ở
bạc với vợ, sống thiếu trách nhiệm, đổ mọi gánh nặng lên đôi vai người vợ. Như vậy, ông Tú
không chỉ chửi chung thói đời mà còn chửi chính bản thân mình. Đây là lời chửi mang đặc
trưng riêng của Tú Xương. Nhà thơ dùng lời ăn tiếng nói của dân gian “cha mẹ” – một cách
chửi có gọng điệu chanh chua, nanh nọc, gay gắt, quyết liệt, lôi cả gốc rễ tông giống của vấn
đề ra mà chửi. Tú Xương đã vượt qua cái hạn chế của tầng lớp và thời đại mình để đi thẳng,
nhìn thẳng vào vấn đề. Vì vậy, lời chửi ấy không chỉ để chửi mình mà còn để chửi đời. Chính
cái xã hội thực dân nửa phong kiến ấy đã đẻ ra thói đời bạc bẽo, những kẻ hợm hĩnh sống

Nguyễn Khuyến trong Thu điếu cần được đọc với giọng chậm, nhẹ nhàng, trầm tĩnh. Nhịp
ngắt chủ yếu là 2/2/3 (hoặc 4/3). Chú ý nhấn giọng vào những từ, cụm từ như: trong veo, bé
tẻo teo, hơi gợn tí, khẽ đưa vèo, lơ lửng, quanh co, tựa gối buông cần. Với Tú Xương, giọng
điệu trong Thương vợ giọng đọc xót xa, thương cảm khi viết về thân phận và cuộc sống lam
lũ, vất vả của bà Tú. Hai câu luận đọc với giọng ngậm ngùi, nhấn vào các chữ âu đành phận
như một tiếng thở dài. Hai câu kết đọc với giọng mạnh hơn, bật lên ngữ điệu của tiếng chửi,
vừa mỉa mai, tự trào, vừa cay đắng, thấm thía bi kịch. Yêu cầu khi đọc trước hết là phải đọc
to rõ ràng và khó nhất phải thể hiện đúng giọng điệu.
Hoạt động đọc quyết định một phần không nhỏ tới kết quả giờ dạy, chính vì thế hướng
dẫn học sinh đọc thành công một văn bản văn học cũng là một thành công của giáo viên.
2.2.3.2. Kết hợp một cách hợp lý các phương pháp xã hội học, phương pháp so sánh văn học
và ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng đồ dùng dạy hoc nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy
Dù một giờ dạy học tác phẩm văn chương theo quan điểm, khuynh hướng nào chúng ta
không nên tuyệt đối hóa hay lạm dụng một phương pháp dạy học mà cần có sự kết hợp một
cách hợp lý, nhuần nhuyễn nhiều phương pháp khác nhau. Với đề tài: Dạy học các tác phẩm
thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương ở trung học phổ thông theo hướng tiếp cận thi pháp, ngoài
việc sử dụng phương pháp hình thức là phương pháp chủ đạo, cần phối hợp với các phương
pháp xã hội học, phương pháp so sánh văn học và kết hợp với việc ứng dụng công nghệ thông
tin, sử dụng đồ dùng dạy học một cách đúng mực.

CHƢƠNG 3
THỰC NGHIỆM DẠY “THU ĐIẾU” (NGUYỄN KHUYẾN) VÀ “THƢƠNG VỢ” (TÚ
XƢƠNG) TỪ HƢỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP
3.1. Mục đích thực nghiệm
Việc dạy thực nghiệm bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ của Tú Xương
theo hướng tiếp cận thi pháp nhằm những mục đích sau:
- Kiểm chứng, xác nhận tính đúng đắn và tính khả thi của việc dạy học hai bài thơ này theo
hướng tiếp cận thi pháp.
- Kiểm chứng, xác nhận tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đã đề xuất
- Tiếp thu ý kiến phản hồi từ phía giáo viên và học sinh trong quá trình thực nghiệm để điều

“Thƣơng vợ” của Tú Xƣơng.
3.3.1. Bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến
3.3.2. Bài “Thương vợ” của Tú Xương
3.4. Tổ chức thực nghiệm
3.4.1. Chọn lớp thực nghiệm
3.4.2. Dạy thực nghiệm
3.5. Kết quả thực nghiệm
3.5.1. Tiến hành khảo sát và tổng hợp kết quả với đối tượng khảo sát là giáo viên
3.5.2. Tiến hành khảo sát và tổng hợp kết quả với đối tượng khảo sát là học sinh
3.5.3. Đánh giá kết quả

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1.Kết luận
Dựa trên những lí thuyết tiếp cận tác phẩm văn chương của các xu hướng dạy học hiện
đại, với đề tài: Dạy học các tác phẩm thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương ở trung học phổ thông
theo hướng tiếp cận thi pháp, luận văn đi sâu vào hướng dạy học tác phẩm văn chương bám
sát thi pháp tác giả, thi pháp văn học trung đại. Đây là hướng dạy học đi sâu vào văn bản để
tìm những nét đặc sắc nghệ thuật của văn bản, dựa trên những đặc trưng thi pháp thơ trung
đại, thi pháp tác giả, từ hình thức nghệ thuật đó suy ra nội dung và tư tưởng của tác phẩm.
Cách dạy này góp phần làm thay đổi lối mòn trong cách dạy học văn truyền thống là luôn coi
trọng phần nội dung của một tác phẩm văn học, có xu hướng biến tác phẩm văn học thành
một giờ giảng đạo đức hay giờ bàn luận về những vấn đề lịch sử, văn hóa, xã hội mà coi nhẹ
hình thức nghệ thuật của tác phẩm, hoặc nếu có chú ý tìm hiểu thì cũng chưa thành một hệ
thống và không có cơ sở lý thuyết về những đặc trưng nghệ thuật đó. Hơn nữa với hướng dạy
học tác phẩm văn chương theo hướng tiếp cận thi pháp, ngoài lợi ích là dạy học hiệu quả một
tác phẩm cụ thể còn góp phần trang bị cho học sinh những tri thức về lý thuyết, hình thành
năng lực cảm thụ văn chương, từ đó bồi dưỡng tình yêu đối với môn học này.
Để dạy học thành công bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ của Tú
Xương, luận văn đưa ra một số phương pháp dạy học mang tính kết hợp như: phương pháp
hình thức, phương pháp đọc sáng tạo, kết hợp một cách hợp lí với phương pháp xã hội học và

bản Giáo dục Hà Nội .
4. Ngô Viết Dinh (Chọn và chủ biên) (2001), Đến với thơ Nguyễn Khuyến. NXB
Thanh niên.
5. Hà Minh Đức (chủ biên)( 2001), Lí luận văn học. NXB Giáo dục, Hà Nội.
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)( 2009), Từ điển
thuật ngữ Văn học. Nhà xuất bản Giáo dục. Hà Nội.
7. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc- hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường.
Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
8. Nguyễn Văn Huyền (tuyển chọn) (1986), Tú Xương tác phẩm và giai thoại. Nhà
xuất bản Hội văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh.
9. Phan Trọng Luận (2009), Thiết kế bài học Ngữ văn 11.Tập 1, Nhà Giáo dục.Hà Nội
10. Phan Trọng Luận (2007), Văn học nhà trường, nhận diện, tiếp cận , đổi mới. Nhà
xuất bản Đại học sư phạm, Hà Nội.
11. Phƣơng Lựu ( chủ biên )(2009), Lí luận văn học ( Tập 3)- Tiến trình văn học. Nhà
xuất bản Đại học sư phạm.
12. Hồ Giang Long (2006), Thi pháp thơ Tú Xương. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội.
13. Nguyễn Lộc (2001), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX. Nhà
xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
14. Nguyễn Thị Lƣợm (2010), Luận văn thạc sỹ. Đại học sư phạm Hà Nội.
15. Trần Đình Sử (2001), Một số vấn đề Thi pháp học hiện đại ( Tài liệu BDTX chu kì
1992-1996 cho giáo viên cấp 2 phổ thông )- Nhà xuấ bản Hà Nội.
16. Trần Đình Sử (2005), Thi pháp văn học Trung đại Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Hà Nội.
17. Vũ Văn Sỹ (2001), Trần Tế Xương về tác gia và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục,
Hà Nội.
18. Vũ Thanh (2001) Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục,
Hà Nội.
19. Tuấn Thành, Anh Vũ (2005), Thơ Trần Tế Xương, tác phẩm và những lời bình. Nhà
xuất bản Văn học.
20. Trần Khánh Thành (2012), 125 bài văn hay. Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status