Nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của
học sinh Trung học phổ thông qua hệ thống
bài tập hoá vô cơ 11 chương trình cơ bản
Trần Thị Hải Yến Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Hóa học)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Kim Long
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Nghiên cứu cơ sở lý luận về nhận thức, tư duy; về nâng cao khả năng
nhận thức và tư duy của học sinh trong quá trình dạy, học Hóa học; về bài tập hóa
học (BTHH) và quan hệ giữa BTHH với việc nâng cao khả năng nhận thức và tư
duy. Nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực; về đổi mới
phương pháp kiểm tra, đánh giá trong dạy học Hóa học. Điều tra thực trạng sử dụng
BTHH ở trường phổ thông hiện nay. Lựa chọn, xây dựng hệ thống bài tập Hóa vô cơ
lớp 11 chương trình cơ bản theo các mức độ nhận thức và tư duy. Sử dụng hệ thống
bài tập theo các mức độ nhận thức và tư duy vào dạy học các bài Hóa vô cơ lớp 11
trong chương trình Hóa học phổ thông. Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá chất
lượng, tính hiệu quả của hệ thống bài tập đã xây dựng nhằm nâng cao khả năng nhận
thức và tư duy hóa học của học sinh. Đối chứng kết quả giữa lớp sử dụng bài tập
giúp nâng cao khả năng nhận thức và tư duy với lớp sử dụng bài tập hóa học thông
thường, rút ra kết luận về khả năng ứng dụng những nội dung và cách thức đã nêu ra
vào quá trình dạy học Hóa học.
́
n ca
́
c BTHH thông qua sa
́
ch vơ
̉
, báo, internet. Vì thế người
giáo viên (GV) cần nghiên cư
́
u BTHH trên cơ sơ
̉
tư duy cu
̉
a HS, áp dụng hệ thống bài tập
trong dạy học hóa học một cách linh hoạt, khéo léo, hợp lý nhằm phát triển tối đa khả năng
nhận thức và tư duy của HS.
Trên cơ sở đó tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của học
sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập Hóa vô cơ 11 chương trình cơ bản” và áp
dụng vào quá trình dạy và học môn Hóa học ở trường THPT Phương Nam - Hà Nội.
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục đích
- Lựa chọn, xây dựng hệ thống bài tập Hóa vô cơ chương trình lớp 11
- Sử dụng hệ thống bài tập đó nhằm nâng cao khả năng nhận thức và tư duy cho học
sinh trung học phổ thông (THPT).
2.2. Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được đề ra như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về nhận thức, tư duy; về nâng cao khả năng nhận thức và
tư duy của HS trong quá trình dạy, học Hóa học; về BTHH và quan hệ giữa BTHH với việc
nâng cao khả năng nhận thức và tư duy.
Để chứng minh giả thuyết trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, quan sát, phỏng vấn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm và áp dụng phương pháp thống kê toán học
trong khoa học giáo dục để xử lý kết quả, đánh giá chất lượng, tính khả thi của đề tài
8. Đóng góp của đề tài
Lựa chọn, xây dựng và sử dụng hợp lý hệ thống bài tập Hóa vô cơ lớp 11 chương
trình cơ bản nhằm nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của học sinh trung học phổ thông.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn
được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập Hóa vô cơ lớp 11 theo các mức độ nhận thức và
tư duy
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận về nhận thức
1.1.1. Khái niệm nhận thức
Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản
ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng
động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.
Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp,
từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong, đó
là từ nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác và biểu tượng) đến nhận thức lý tính (tư duy và
tưởng tượng).
1.1.2. Mô hình của quá trình nhận thức
1.2.2.3. Suy lý
1.2.3. Những phẩm chất của tư duy
Tư duy có những phẩm chất cơ bản là: tính định hướng; bề rộng; độ sâu; tính linh
hoạt; tính mềm dẻo; tính độc lập; tính khái quát
1.2.4. Các thao tác của tư duy
Môn Hóa học là môn khoa học thực nghiệm nên nó có nhiều khả năng trong việc hình
thành và phát triển nhận thức, tư duy cho HS. Sự phát triển tư duy nói chung được đặc trưng
bởi sự tích luỹ các thao tác tư duy thành thạo vững chắc của con người. Trong đó ta cần đặc
biệt chú ý rèn luyện cho HS một số thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái
quát hoá
1.2.5. Tư duy hóa học – Đánh giá trình độ phát triển tư duy của học sinh
1.2.5.1. Tư duy hóa học
Tư duy hóa học được đặc trưng bởi phương pháp nhận thức hóa học nghiên cứu các
chất và các quy luật chi phối quá trình biến đổi này. Trong hóa học, các chất tương tác với
nhau đã xảy ra sự biến đổi nội tại của các chất để tạo thành các chất mới. Sự biến đổi này
tuân theo những nguyên lý, quy luật, những mối quan hệ định tính và định lượng của hóa
học. Việc sử dụng các thao tác tư duy, sự suy luận đều phải tuân theo các quy luật này.
Cơ sở của tư duy hóa học là sự liên hệ quá trình phản ứng với sự tương tác giữa các
tiểu phân của thế giới vi mô (phân tử, nguyên tử, ion, electron …), mối liên hệ giữa đặc điểm
cấu tạo với tính chất của các chất. Các quy luật biến đổi giữa các loại chất và mối quan hệ
giữa chúng.
1.2.5.2. Sự phát triển tư duy trong dạy học hóa học
Việc phát triển tư duy cho HS trước hết là giúp HS nắm vững kiến thức hoá học, biết
vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành, qua đó kiến thức của HS thu thập được
trở nên vững chắc và sinh động hơn.
Sự phát triển tư duy của HS được diễn ra trong quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức.
Khi tư duy phát triển sẽ tạo ra một kĩ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ, có phương
pháp chuẩn bị lâu dài cho HS hoạt động sáng tạo sau này. Hoạt động giảng dạy hoá học cần
phải tập luyện cho HS hoạt động tư duy sáng tạo qua các khâu của quá trình dạy học.
Trong học tập hoá học, việc giải các bài tập hoá học (bài tập định tính, bài tập định
vì trong bất kỳ bài tập nào của cách phân loại này cũng chứa đựng một vài yếu tố của một
hay nhiều cách phân loại khác.
1.3.2. Xu hướng phát triển của bài tập hóa học
Trên cơ sở của định hướng xây dựng chương trình hóa học Phổ thông thì xu hướng
phát triển chung của BTHH trong giai đoạn hiện nay là hướng đến rèn luyện khả năng vận
dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hóa học cho HS ở các mặt lý thuyết, thực hành và
ứng dụng. Những yêu cầu cơ bản đó là:
- Loại bỏ những bài tập nghèo nàn về kiến thức hóa học, nặng về thuật toán.
- Nội dung hóa học phải thiết thực. Chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các
ứng dụng của hóa học trong thực tiễn.
- Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm, thí nghiệm hóa học trong học tập. Nội
dung kiến thức phải gắn với thực hành, thí nghiệm hóa học.
- Cần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan.
- Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện vấn đề và giải
quyết vấn đề có liên quan đến hoá học, thực tiễn cuộc sống.
- Đa dạng hoá các loại hình bài tập như: Bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ đồ,
lắp dụng cụ thí nghiệm…
1.3.3. Quan hệ giữa bài tập hóa học với việc nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của
học sinh
HS chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi họ thực sự tư duy. Vì thế phát triển năng lực
tư duy có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của HS. Bằng cách tư duy, người học có
thể nắm bắt được kiến thức một cách dễ dàng hơn, vận dụng kiến thức vào thực tế linh hoạt
và mềm dẻo hơn.
Trong học tập hóa học, một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển tư duy cho
HS là hoạt động giải bài tập. Thông qua hoạt động này năng lực tư duy được phát triển, HS sẽ
có những phẩm chất tư duy mới, thể hiện ở: năng lực phát hiện vấn đề mới; tìm ra hướng
mới; tạo ra kết quả học tập mới.
Người GV cần ý thức được mục đích của việc giải bài tập hóa học, không phải chỉ là
tìm ra đáp số đúng mà còn là phương tiện khá hiệu quả để rèn luyện tư duy hóa học cho HS.
BTHH phong phú và đa dạng, để giải được BTHH cần vận dụng nhiều kiến thức cơ bản, sử
- Sử dụng câu hỏi và BTHH là nguồn để HS tích cực thu nhận kiến thức.
- Nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học giúp cho HS phát triển tư duy sáng
tạo và năng lực giải quyết vấn đề.
- Sử dụng SGK hóa học như là nguồn tư liệu để HS tự đọc, tự nghiên cứu, tích cực
nhận thức, thu thập và xử lý thông tin có hiệu quả.
- Tự học kết hợp với hợp tác theo nhóm nhỏ.
- Chú ý ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học
1.5. Đổi mới phƣơng pháp kiểm tra, đánh giá trong dạy học hóa học
1.5.1. Định hướng về nội dung và hình thức đánh giá
- Coi trọng kiểm tra, đánh giá chất lượng nắm vững hệ thống khái niệm cơ bản hóa
học, không nặng về học thuộc lòng.
- Chú ý đánh giá năng lực vận dụng tổng hợp kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, coi đó là sự thể hiện phát triển tiềm lực trí tuệ của HS.
- Tăng cường kiểm tra thí nghiệm hóa học và năng lực tự học của HS.
1.5.2. Định hướng đổi mới về kiểm tra, đánh giá trong dạy học hóa học
1.5.2.1. Mục đích của đánh giá
Mục đích của đánh giá là kiểm tra việc thực hiện mục tiêu giáo dục của bậc học, cấp
học, môn học.
1.5.2.2. Nội dung đánh giá
- Bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng cụ thể của mỗi chủ đề, mỗi chương.
- Đánh giá mức độ biết, hiểu, vận dụng kiến thức, kỹ năng hóa học theo hướng tăng
cường vận dụng, gắn với thực tiễn học tập và cuộc sống.
- Kết hợp các hình thức kiểm tra tự luận và trắc nghiệm khách quan để đảm bảo tính
khách quan của đánh giá.
- Tăng cường kiểm tra nội dung về thực hành, thí nghiệm hóa học.
- Tăng cường đánh giá kỹ năng khai thác hình ảnh, xử lý số liệu và phân tích biểu
bảng, thu thập thông tin từ các tài liệu học tập hóa học.
- Tăng cường việc đánh giá năng lực tư duy sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề và
một số vấn đề của thực tiễn cuộc sống có liên quan đến hóa học.
- Khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu đánh giá kết quả học
yêu cầu kiểm tra, thi cử vẫn là mục đích sử dụng cao nhất. Tiếp theo là bài tập giúp HS vận
dụng và mở rộng kiến thức. Riêng bài tập nhằm mục đích giúp HS tự tìm tòi kiến thức và rèn
kỹ năng tự học thì ít được sử dụng. Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc nâng cao khả năng nhận
thức và tư duy cho HS.
- Phương pháp dạy học: còn nặng nề các phương pháp truyền thống, chưa sử dụng
nhiều các phương pháp, phương tiện dạy học tích cực.
- Về các kiểu bài lên lớp có sử dụng bài tập: chủ yếu là vào giờ ôn tập, kiểm tra còn
giờ học lý thuyết mới hay thực hành thì ít sử dụng
- Về cách tổ chức lớp khi làm bài tập: hầu như GV làm bài mẫu hoặc gọi HS biết làm
lên bảng rồi cho HS làm bài áp dụng chứ ít khi cho HS độc lập suy nghĩ hay thảo luận và lên
thuyết trình
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
CHƢƠNG 2
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA VÔ CƠ
LỚP 11 THEO CÁC MỨC ĐỘ NHẬN THỨC VÀ TƢ DUY
2.1. Một số nguyên tắc khi xây dựng và sử dụng bài tập
Để định hướng cho việc xây dựng hệ thống bài tập, tôi đã nghiên cứu và đề xuất 7
nguyên tắc sau đây:
*/ Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học
Bài tập là một phương tiện để tổ chức các hoạt động của HS nhằm khắc sâu, vận dụng
và phát triển hệ thống kiến thức đã học, hình thành và rèn luyện các kĩ năng cơ bản.
*/ Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học
*/ Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính kế thừa, liên thông, đa dạng
Hệ thống bài tập hóa học phải quét hết những thông tin cơ bản của chương trình hóa
học. GV cần quy hoạch toàn bộ hệ thống những bài tập sẽ ra cho HS sao cho chúng kế thừa
nhau, bổ sung cho nhau, cái trước chuẩn bị cho cái sau, cái sau phát triển cái trước, tất cả tạo
nên một hệ thống toàn vẹn.
*/ Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính vừa sức, cho học sinh tự học
*/ Hệ thống bài tập phải góp phần giúp học sinh củng cố kiến thức
Bảng 2.1: Nội dung phần hóa học vô cơ lớp 11 chƣơng trình cơ bản
Chƣơng
Bài
Tên bài
Bài 7
Nitơ
Bài 8
Amoniac và muối amoni
Bài 9
Axit nitric và muối nitrat
Bài 10
Photpho
Chương 2: Nitơ-photpho
Bài 11
Axit photphoric và muối photphat
Bài 12
Phân bón hóa học
Bài 13
Luyện tập: Tính chất của nitơ, photpho và các
hợp chất của chúng
Bài 14
Bài thực hành 2: Tính chất của một số hợp
hợp nhiều đối tượng HS và có sự nhấn mạnh những nội dung trọng tâm, trọng điểm. Ngoài ra
các dạng bài tập thực nghiệm hay bài tập gắn với thực tiễn cũng được chú ý xây dựng để
không những trọng tâm rèn các kỹ năng làm bài tập lý thuyết mà còn phục vụ mục tiêu vận
dụng kiến thức vào thực tế và rèn kỹ năng thực hành cho HS.
2.4.1. Các bài tập dạng biết
Các bài tập ở mức độ biết chỉ yêu cầu về năng lực nhận thức của HS là nhớ lại những
kiến thức đã học một cách máy móc và nhắc lại. Tư duy của HS ở mức độ biết là tư duy cụ
thể và kỹ năng tương ứng chỉ là bắt chước theo mẫu. Các động từ tương ứng trong những câu
hỏi và bài tập ở mức độ biết thường là: nêu, xác định, mô tả, liệt kê, gọi tên, nhớ lại, chỉ ra,
giới thiệu.
Hệ thống các câu hỏi và bài tập dạng biết bao gồm 78 câu trắc nghiệm khách quan và
33 câu tự luận được trình bày chi tiết trong phụ lục 3.
2.4.2. Các bài tập dạng hiểu
Các bài tập ở mức độ hiểu yêu cầu HS có năng lực nhận thức là: tái hiện kiến thức,
diễn giải kiến thức, mô tả kiến thức. Ở mức độ này HS phải có tư duy logic, tương ứng với kỹ
năng phát huy sáng kiến (làm đúng theo mẫu hoặc chỉ dẫn, có phát huy sáng kiến, hợp lý hóa
thao tác, không còn bắt chước máy móc). Trong những câu hỏi và bài tập ở mức độ hiểu
thường sử dụng các động từ: tóm tắt, lấy ví dụ, so sánh, chuyển đổi, diễn giải, phân biệt, suy
luận, phân tích, chứng tỏ, hình dung, trình bày lại, giải thích, dự đoán…
Xin mời xem cụ thể hệ thống các câu hỏi và bài tập ở mức độ hiểu bao gồm 98 câu
trắc nghiệm khách quan và 74 câu tự luận được trình bày trong phụ lục 4 của luận văn.
2.4.3. Các bài tập dạng vận dụng
Năng lực nhận thức mà các câu hỏi và bài tập ở mức độ vận dụng yêu cầu HS cần
phải có là khả năng vận dụng kiến thức để xử lý tình huống khoa học cụ thể hay tình huống
mới, tình huống trong đời sống thực tiễn. Ở đây tư duy của HS đã nâng lên một trình độ cao
hơn đó là tư duy hệ thống (suy luận tương tương tự, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa). Kỹ
năng tương tương ứng mà HS cần đáp ứng là kỹ năng đổi mới (không bị lệ thuộc vào mẫu, có
sự đổi mới, hoàn thành kỹ năng nhịp nhàng không phải hướng dẫn). Các động từ thường gặp
trong những câu hỏi và bài tập ở mức độ vận dụng là: minh họa, tính toán, diễn dịch, áp dụng,
sửa đổi, đưa vào thực tế, chứng minh, phân biệt, xây dựng …
2.5.2. Sử dụng hệ thống bài tập theo các mức độ nhận thức và tư duy trong việc vận dụng,
củng cố kiến thức, kỹ năng
Việc sử dụng bài tập trong bài luyện tập - vận dụng kiến thức là một vấn đề quan
trọng giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức mà HS đã được học. Khi soạn bài luyện tập GV có
thể sử dụng nhiều dạng bài tập khác nhau nhưng cần chú ý mức độ phù hợp với trình độ lĩnh
hội của HS, phù hợp với nội dung, vị trí và nhiệm vụ của từng chương cũng như chứa đựng
những kiến thức cơ bản, trọng tâm mà HS cần nắm vững. Thông thường GV nên đưa ra các
bài tập có nội dung tổng hợp kiến thức, kỹ năng ví dụ các bài tập dạng so sánh, tư duy logic,
tìm mối liên hệ như:
- Nhận biết chất
- Hoàn thành dãy chuyển hóa. Thiết lập dãy chuyển hóa
- Điều chế các chất
- Tinh chế, tách các chất ra khỏi hỗn hợp
- Các dạng bài tập tính toán …
2.5.3. Sử dụng hệ thống bài tập theo các mức độ nhận thức và tư duy trong việc kiểm tra,
đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh
Kết quả kiểm tra đánh giá phản ánh kết quả dạy và học của GV và HS. Vì thế để kiểm
tra đánh giá được công bằng, khách quan, chính xác thì nội dung và phương pháp kiểm tra
đánh giá phải đa dạng và được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau như kiểm tra miệng,
kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết, trắc nghiệm … hoặc phối hợp các hình thức kiểm tra với
nhau. Việc kiểm tra, đánh giá có thể áp dụng trong mọi khâu của quá trình dạy học.
Ở đây tôi đã xây dựng được 1 đề kiểm tra 45 phút (đề số 3) sau chương II: Nitơ -
Photpho và 3 đề kiểm tra 15 phút gồm:
- Đề số 1: sau khi học bài nitơ
- Đề số 2: sau khi học bài axit nitric và muối nitrat
- Đề số 4: sau khi học bài luyện tập tính chất của cacbon, silic và các hợp chất của
chúng
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2
CHƢƠNG 3
11A1 – 46 HS
11C1 – 45 HS
Nguyễn Minh Phương
2
11C2 – 42 HS
11C3 – 41 HS
Trần Thị Hải Yến
* Trao đổi với GV tham gia thực nghiệm:
- Thống nhất nội dung kiến thức trong mỗi bài dạy và bài kiểm tra ở lớp TN và ĐC là
như nhau.
- Cung cấp hệ thống bài tập, các giáo án thực nghiệm đã thiết kế, phiếu học tập, các
bài kiểm tra,…. cho GV.
- Phương pháp dạy học:
+ Thực hiện một bài dạy theo hai phương pháp khác nhau: ở lớp TN sẽ được học theo
giáo án đã thiết kế (sử dụng các phương pháp dạy học tích cực), còn lớp ĐC thì học theo giáo
án thông thường (dùng những phương pháp truyền thống như thuyết trình, đàm thoại theo
hướng giải thích,…).
+ Lớp TN sử dụng hệ thống bài tập mới xây dựng theo các mức độ nhận thức và tư
duy, còn ở lớp ĐC sử dụng hệ thống bài tập trong SGK, sách bài tập theo các phương pháp
truyền thống.
3.3.2. Nội dung thực nghiệm
Bƣớc 1: Tiến hành giảng dạy
Bƣớc 2: Kiểm tra, đánh giá kết quả
- Tiến hành kiểm tra các cặp lớp TN và ĐC với cùng một đề kiểm tra
- Chấm các bài kiểm tra, sắp xếp kết quả theo thứ tự từ 1 đến 10 điểm và phân loại
theo nhóm: nhóm yếu kém (điểm 0, 1, 2, 3, 4); nhóm trung bình (điểm 5, 6); nhóm khá (điểm
7, 8); nhóm giỏi (điểm 9, 10)
Bảng 3.2: Các bài dạy thực nghiệm và đề kiểm tra
Bƣớc 4: Phân tích kết quả thực nghiệm
3.3.3. Kết quả thực nghiệm
3.3.3.1. Thực hiện nhiệm vụ thứ nhất
Để TN nhằm đánh giá mức độ khó của các dạng bài tập theo các mức độ nhận thức và
tư duy của HS, chúng tôi đã lựa chọn và sử dụng 12 câu hỏi và bài tập trắc nghiệm khách
quan ở cả 3 mức độ. Sau đó chúng tôi xây dựng đề kiểm tra 15 phút bài Nitơ (đề kiểm tra số
1) và tiến hành TN ở 2 lớp là 11A1 (lớp TN1) và 11C1 (lớp ĐC1)
* Kết quả thu được như sau:
Bảng 3.3: Số học sinh và tỉ lệ % học sinh trả lời đúng câu hỏi đề số 1
Lớp
Dạng 1
Dạng 2
Dạng 3
Dạng 4
Số HS
Tỉ lệ %
Số HS
Tỉ lệ %
Số HS
Tỉ lệ %
Số HS
Tỉ lệ %
TN1
46
100
44
95,65
33
71,74
- Với mức ý nghĩa α = 0,01 ta có các đại lượng kiểm định t > t
α, k
qua từng bài kiểm
tra, cho thấy có thể khẳng định sự khác nhau giữa x
TN
và x
ĐC
là có ý nghĩa.
Như vậy ta có thể khẳng định tính hiệu quả và tính khả thi cao của hệ thống bài tập
theo các mức độ nhận thức và tư duy cũng như các cách thức sử dụng bài tập đã nêu ở
chương 2.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài, sau một thời gian thực hiện luận văn, tôi đã có
được những kết quả sau:
- Điều tra được thực trạng sử dụng bài tập hóa học ở trường phổ thông hiện nay.
- Lựa chọn được cơ sở phân loại bài tập theo các mức độ nhận thức và tư duy phù hợp
với thực tế HS THPT ở Việt Nam hiện nay.
- Tổng quan về chương trình hóa học vô cơ lớp 11 ban cơ bản, các nguyên tắc khi xây
dựng hệ thống bài tập (7 nguyên tắc), quy trình xây dựng hệ thống bài tập (5 bước).
- Thiết kế bộ công cụ góp phần nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của HS THPT
gồm:
+ Tuyển chọn và xây dựng được hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 11 chương trình
cơ bản gồm 257 bài tập và câu hỏi tự luận, 319 câu hỏi trắc nghiệm. Sắp xếp các bài tập trên
theo 3 mức độ: biết, hiểu, vận dụng (trong đó có vận dụng sáng tạo) vào từng bài học.
+ Nghiên cứu, đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập trong khi thiết kế các kiểu bài
lên lớp: bài học nghiên cứu tài liệu mới; bài hoàn thiện và vận dụng kiến thức, kỹ năng; bài
kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng.
quan khác cũng như các máy móc hỗ trợ thì mới phát huy hết khả năng dạy học của người
GV, khả năng sáng tạo và tiếp thu kiến thức của HS trong việc đổi mới phương pháp dạy học
theo định hướng tích cực hóa hoạt động của HS.
- Cần có chế độ hợp lí cho các GV tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học.
Đồng thời, GV cần được tham gia các khóa học bồi dưỡng chuyên môn gắn liền mục tiêu đổi
mới phương pháp dạy học.
- GV cần phải đầu tư nhiều công sức, thời gian khi thiết kế một bài dạy hóa học theo
định hướng tích cực hóa hoạt động của HS từ những nội dung trong SGK.
- HS phải được làm quen, rèn luyện các hoạt động học tập tích cực ngay từ khi bắt
đầu đi học.
- GV cần chú ý lựa chọn những bài toán khi giải HS phải tập trung vào các quy luật
để giúp HS nắm được những kiến thức cơ bản đã học một cách vững chắc, qua đó phát huy
tính tích cực của HS.
Trong khuôn khổ của đề tài, tôi mới nghiên cứu được hệ thống bài tập hóa học vô cơ
lớp 11 chương trình cơ bản nên kết quả còn hạn chế. Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và thực hiện
các phần còn lại để có thể nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của HS THPT qua hệ thống
bài tập bộ môn Hóa học. Tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo
và các bạn đồng nghiệp để hoàn thiện hơn đề tài cũng như cho công việc dạy học và nghiên
cứu khoa học. Xin chân thành cảm ơn !
References
1. Hoàng Chúng. Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục. Nxb Giáo dục,
1982.
2. Nguyễn Cƣơng - Nguyễn Mạnh Dung - Nguyễn thị Sửu. Phương pháp dạy học Hóa học
tập 1. Nhà xuất bản Giáo dục, 2000.
3. Nguyễn Văn Cƣờng. Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học
mới. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Dự án phát triển giáo dục THPT. Tài liệu Hội thảo tập huấn.
4. Cao Cự Giác. Hướng dẫn giải nhanh bài tập hóa học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
20. Vũ Anh Tuấn - Nguyễn Hải Châu - Đặng Thị Oanh - Cao Thị Thặng. Hướng dẫn
thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn hóa học lớp 11. Nxb Giáo dục, 2009.
21. Nguyễn Sỹ Tỳ. Cải tiến phương pháp dạy và học nhằm phát huy trí thông minh cho học
sinh. Nghiên cứu giáo dục (3).
22. A.G.Covalop. Tâm lý học cá nhân. Nxb Giáo dục Hà Nội, 1971.
23. I.F.Kharlamop. Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào. Nxb Giáo dục, 1978.
24. M.N.Sacđacov. Tư duy của học sinh. Nxb Giáo dục, 1970.