Tài liệu luận văn: “Nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của học sinh Trung học phổ thông qua hệ thống bài tập hoá vô cơ 11 chương trình cơ bản - Pdf 10


LUẬN VĂN

ĐỀ TÀI: “
Nâng cao khả năng nhận thức và
tư duy của học sinh Trung học phổ thông qua
hệ thống bài tập hoá vô cơ 11 chương trình cơ
bản”
Nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của
học sinh Trung học phổ thông qua hệ thống
bài tập hoá vô cơ 11 chương trình cơ bản
Trần Thị Hải Yến


thông cung cấp cho học sinh (HS) những tri thức hóa học phổ thông tương đối hoàn chỉnh về
các chất, sự biến đổi các chất, mối liên hệ giữa công nghệ hóa học, môi trường và con người.
Để học giỏi môn hoá học, HS cần có những phẩm chất và năng lực như: có hệ thống kiến
thức hoá học cơ bản vững vàng, sâu sắc; có trình độ tư duy hóa học phát triển (năng lực phân
tích, tổng hợp, so sánh, khái quát, suy luận logic, …) có kỹ năng thực hành và vận dụng linh
hoạt sáng tạo kiến thức hoá học đã có để giải quyết các vấn đề trong hóa học cũng như trong
thực tiễn … Vì vậy, phát triển năng lực nhận thức và rèn luyện các kỹ năng là những yêu cầu
cơ bản, quan trọng nhất của quá trình bồi dưỡng HS.
Trong dạy học hoá học, bài tập hóa học (BTHH) vừa là mục đích, vừa là nội dung và
cũng vừa là phương pháp dạy học, vừa là phương tiện dạy học hiệu quả. Hiê
̣
n nay, HS đươ
̣
c
tiếp xu
́
c vơ
́
i mô
̣
t khối lươ
̣
ng lơ
́
n ca
́
c BTHH thông qua sa
́
ch vơ
̉

- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá chất lượng, tính hiệu quả của hệ thống bài tập
đã xây dựng nhằm nâng cao khả năng nhận thức và tư duy hóa học của HS. Đối chứng kết
quả giữa lớp sử dụng bài tập giúp nâng cao khả năng nhận thức và tư duy với lớp sử dụng bài
tập hóa học thông thường, rút ra kết luận về khả năng ứng dụng những nội dung và biện pháp
đã nêu ra vào quá trình dạy học Hóa học.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống bài tập Hóa vô cơ lớp 11 chương trình cơ bản nhằm rèn luyện khả năng
nhận thức và tư duy của học sinh trung học phổ thông
4. Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và điều kiện nghiên cứu nên đề tài tập trung nghiên cứu phần
Hóa học vô cơ trong chương trình lớp 11 cơ bản với cả hai dạng bài tập là bài tập trắc nghiệm
và bài tập tự luận.
5. Vấn đề nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập Hóa vô cơ lớp 11 chương trình cơ bản như thế
nào để nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của học sinh trung học phổ thông ?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập Hóa vô cơ lớp 11 chương trình cơ bản theo các mức độ
nhận thức và tư duy; sau đó lựa chọn, sắp xếp và sử dụng bài tập phù hợp cho từng giờ học sẽ
giúp nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của học sinh trung học phổ thông
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để chứng minh giả thuyết trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, quan sát, phỏng vấn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm và áp dụng phương pháp thống kê toán học
trong khoa học giáo dục để xử lý kết quả, đánh giá chất lượng, tính khả thi của đề tài
8. Đóng góp của đề tài
Lựa chọn, xây dựng và sử dụng hợp lý hệ thống bài tập Hóa vô cơ lớp 11 chương

(tri thức cũ)

Kết quả đầu ra
(tri thức mới)

Theo mô hình này, tư duy và mọi cách nhận thức đều có thể tìm hiểu được bằng cách
phân tích ra thành những bộ phận cấu thành.
1.1.3. Giải pháp để nâng cao năng lực nhận thức
- Sử dụng các phương pháp dạy học mang tính chất nghiên cứu, kích thích được hoạt
động nhận thức, rèn luyện tư duy độc lập, sáng tạo.
- Hình thành và phát triển ở HS năng lực giải quyết vấn đề, tăng cường tính độc lập
trong hoạt động.
- Tổ chức các hoạt động tập thể để mỗi HS thể hiện cách nhìn nhận, giải quyết vấn đề
của mình và nhận xét, đánh giá được cách giải quyết của bạn.
1.2. Cơ sở lý luận về tƣ duy
1.2.1. Khái niệm tư duy
Theo M.N.Sacdacov: Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật và hiện
tượng trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chất của chúng. Tư duy cũng là
sự nhận thức sáng tạo những sự vật và hiện tượng mới, riêng lẻ của hiện thực trên cơ sở
những kiến thức khái quát hóa đã thu nhận được.
1.2.2. Những hình thức cơ bản của tư duy
1.2.2.1. Khái niệm
1.2.2.2. Phán đoán
1.2.2.3. Suy lý
1.2.3. Những phẩm chất của tư duy
Tư duy có những phẩm chất cơ bản là: tính định hướng; bề rộng; độ sâu; tính linh
hoạt; tính mềm dẻo; tính độc lập; tính khái quát
1.2.4. Các thao tác của tư duy
Môn Hóa học là môn khoa học thực nghiệm nên nó có nhiều khả năng trong việc hình
thành và phát triển nhận thức, tư duy cho HS. Sự phát triển tư duy nói chung được đặc trưng

gồm 6 mức độ từ thấp đến cao như sau: nhận biết; hiểu; vận dụng; phân tích; tổng hợp; đánh
giá.
Theo quan điểm của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang gồm có 4 trình độ nắm vững
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đó là: trình độ tìm hiểu; trình độ tái hiện; trình độ kỹ năng; trình
độ biến hóa. Việc đánh giá năng lực tư duy có thể chia làm 4 cấp độ lần lượt như sau: tư duy
cụ thể; tư duy logic; tư duy hệ thống; tư duy trừu tượng.
Dựa vào 2 thang phân loại trên cùng với thực tế trình độ nhận thức của học sinh
THPT hiện nay ở nước ta, theo những tài liệu hướng dẫn giảng dạy của Bộ, ta nên đánh giá
trình độ phát triển tư duy của HS theo 3 mức độ: biết, hiểu, vận dụng.
- Biết: khả năng nhớ lại kiến thức đó một cách máy móc và nhắc lại được.
- Hiểu: khả năng hiểu thấu được ý nghĩa kiến thức, giải thích được nội dung kiến
thức, diễn đạt khái niệm theo sự hiểu biết mới của mình.
- Vận dụng: Khả năng sử dụng thông tin và biến đổi kiến thức từ dạng này sang dạng
khác; vận dụng kiến thức trong tình huống mới, trong đời sống, trong thực tiễn tiến đến vận
dụng sáng tạo với cách giải quyết mới, linh hoạt, độc đáo, hữu hiệu.
1.3. Bài tập hóa học
1.3.1. Phân loại bài tập hóa học
Theo từ điển Tiếng Việt: ‘‘Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận dụng điều đã
học’’, còn bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng phương pháp khoa học. Trong nhiều tài liệu
về phương pháp giảng dạy hóa học, các tác giả đã phân loại BTHH theo những cách khác
nhau trên những cơ sở khác nhau như: dựa vào chủ đề; khối lượng kiến thức hay mức độ đơn
giản hoặc phức tạp; dựa vào tính chất của bài tập; kiểu bài hay dạng bài; dựa vào nội dung;
mục đích dạy học … Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tiêu chuẩn phân loại BTHH
vì trong bất kỳ bài tập nào của cách phân loại này cũng chứa đựng một vài yếu tố của một
hay nhiều cách phân loại khác.
1.3.2. Xu hướng phát triển của bài tập hóa học
Trên cơ sở của định hướng xây dựng chương trình hóa học Phổ thông thì xu hướng
phát triển chung của BTHH trong giai đoạn hiện nay là hướng đến rèn luyện khả năng vận
dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hóa học cho HS ở các mặt lý thuyết, thực hành và
ứng dụng. Những yêu cầu cơ bản đó là:

thực tế sản xuất và đời sống, góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho HS.
1.4. Đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng dạy học tích cực
1.4.1. Tính tích cực học tập
Tính tích cực học tập là tính chủ động nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố
gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Tính tích cực học tập liên quan trước hết với động cơ học tập. Động cơ đúng tạo ra
hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính
tích cực. Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độc lập. Suy nghĩ, tư duy độc lập là mầm mống
của sáng tạo. Ngược lại, học tập tích cực, độc lập, sáng tạo sẽ phát triển tính tự giác, hứng thú
và nuôi dưỡng động cơ học tập.
1.4.2. Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động
nhận thức của người học và có nhiều nét đặc trưng nhất định:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
- Kết hợp sự đánh giá của thầy và sự đánh giá của trò.
Trên thế giới hiện nay có một số phương pháp dạy học tích cực như: dạy học theo dự
án; dạy học giải quyết vấn đề; dạy học theo mục tiêu; dạy học phân hóa; dạy học tình huống;
dạy học tương tác …
1.4.3. Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học theo hướng tích cực
- Sử dụng thiết bị thí nghiệm hóa học theo định hướng là nguồn để HS nghiên cứu,
khai thác và tìm tòi kiến thức hóa học.
- Sử dụng câu hỏi và BTHH là nguồn để HS tích cực thu nhận kiến thức.
- Nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học giúp cho HS phát triển tư duy sáng
tạo và năng lực giải quyết vấn đề.
- Sử dụng SGK hóa học như là nguồn tư liệu để HS tự đọc, tự nghiên cứu, tích cực
nhận thức, thu thập và xử lý thông tin có hiệu quả.
- Tự học kết hợp với hợp tác theo nhóm nhỏ.
- Chú ý ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học

1.5.3. Phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Về hình thức: có câu hỏi kiểm tra dạng trắc nghiệm (ít nhất chiếm 30 %) và 70 %
câu hỏi dạng tự luận.
- Về nội dung: phải bám sát chương trình hiện hành
+ Kiểm tra các khái niệm cơ bản
+ Kiểm tra các kiến thức trọng tâm
+ Kiểm tra kỹ năng: viết công thức và phương trình hóa học, giải bài toán hóa học,
thực hành, vận dụng tổng hợp các kiến thức cơ bản …
- Về mức độ: thể hiện được việc đánh giá các loại trình độ: kiến thức cơ bản, vận
dụng thành thạo các kiến thức và tư duy suy luận.
1.6. Kết quả điều tra thực trạng sử dụng bài tập hóa học ở trường phổ thông
Qua điều tra GV và HS, chúng tôi có một số nhận xét sau về thực trạng sử dụng
BTHH ở trường phổ thông:
- Sử dụng BTHH trong dạy học có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy
theo hướng dạy học tích cực
- Về nguồn bài tập: phần lớn GV sử dụng bài tập có sẵn trong sách giáo khoa (SGK),
sách bài tập và các sách tham khảo. Sử dụng bài tập trên internet; tìm tòi, xây dựng bài tập
mới và xây dựng thành hệ thống bài tập thì ít có GV thực hiện. HS cũng ít khi làm bài tập ở
ngoài SGK, sách bài tập.
- Về các dạng bài tập: hay dùng câu hỏi lý thuyết, bài tập lý thuyết định tính trong dạy
học. Đặc biệt bài toán hóa học là dạng bài không thể thiếu. Còn những dạng bài tập như bài
tập có thí nghiệm, hình vẽ hay bài tập thực nghiệm định lượng hầu như không được chú ý.
- Mục đích sử dụng bài tập: bài tập giúp HS nhớ lý thuyết, rèn kỹ năng và đáp ứng
yêu cầu kiểm tra, thi cử vẫn là mục đích sử dụng cao nhất. Tiếp theo là bài tập giúp HS vận
dụng và mở rộng kiến thức. Riêng bài tập nhằm mục đích giúp HS tự tìm tòi kiến thức và rèn
kỹ năng tự học thì ít được sử dụng. Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc nâng cao khả năng nhận
thức và tư duy cho HS.
- Phương pháp dạy học: còn nặng nề các phương pháp truyền thống, chưa sử dụng
nhiều các phương pháp, phương tiện dạy học tích cực.
- Về các kiểu bài lên lớp có sử dụng bài tập: chủ yếu là vào giờ ôn tập, kiểm tra còn

bộ môn hóa học hơn đồng thời góp phần hình thành thế gới quan, hình thành những năng lực
và kỹ năng cần thiết cho các em chuẩn bị vào đời.
* Bước 2: Xác định nội dung của hệ thống bài tập
Nội dung của hệ thống bài tập phải bao quát được kiến thức của chương trình.
* Bước 3: Lựa chọn các bài tập tiêu biểu điển hình, phân loại, xây dựng thành hệ thống
bài tập đa cấp
* Bước 4: Biên soạn bài tập hóa học mới theo các yêu cầu sư phạm định trước
Tùy theo yêu cầu sư phạm ta có thể đơn giản hóa hay phức tạp hóa bài tập, soạn
những bài tập có độ khó tăng dần, có chứa đựng những yếu tố giúp rèn luyện những kỹ năng
riêng biệt nào đó.
Có thể xây dựng bài tập mới theo một số cách sau :
- Xây dựng theo mẫu bài tập có sẵn
- Xây dựng bài tập mới:
+ Dựa vào tính chất hóa học và các quy luật tương tác giữa các chất
+ Lấy nội dung, những tình huống hay và quan trọng ở nhiều bài để phối hợp lại
thành bài mới.
Để đa dạng các loại hình bài tập, cần xây dựng những dạng bài hiện nay còn ít, còn
chưa được chú ý đúng mực hoặc mới được đề xuất do sự vận động và phát triển của phương
pháp dạy học hóa học.
* Bước 5: Thử nghiệm và trao đổi với đồng nghiệp để chỉnh sửa, bổ sung
2.3. Tổng quan về chƣơng trình Hóa vô cơ lớp 11 ban cơ bản
2.3.1. Nội dung phần hóa học vô cơ lớp 11 chương trình cơ bản

Bảng 2.1: Nội dung phần hóa học vô cơ lớp 11 chƣơng trình cơ bản

Chƣơng
Bài
Tên bài

Bài 7


Bài 17
Silic và hợp chất của silic

Bài 18
Công nghiệp silicat

Bài 19
Luyện tập: Tính chất của cacbon, silic và các
hợp chất của chúng

2.3.2. Mục tiêu dạy học
2.4. Hệ thống bài tập Hóa vô cơ lớp 11 chƣơng trình cơ bản theo các mức độ nhận thức
và tƣ duy
Để hệ thống bài tập góp phần nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của HS, tôi đã
sắp xếp các bài theo ba mức độ nhận thức và tư duy: biết, hiểu, vận dụng (trong đó có vận
dụng sáng tạo) với cả hai hình thức tự luận và trắc nghiệm khách quan theo từng bài, từng
chương cụ thể.
Các bài tập được sắp xếp lần lượt từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Với mỗi
kiểu bài tập thường có bài tập tương tự và bài tập nâng cao, mở rộng để HS rèn kỹ năng giải
bài tập hóa học và phát triển tư duy. Phần bài tập trắc nghiệm khách quan, với phương án trả
lời đúng tôi đã tô đậm thay cho phần đáp án.
Hệ thống bài tập có nội dung phủ kín chương trình, các dạng bài tập phong phú, phù
hợp nhiều đối tượng HS và có sự nhấn mạnh những nội dung trọng tâm, trọng điểm. Ngoài ra
các dạng bài tập thực nghiệm hay bài tập gắn với thực tiễn cũng được chú ý xây dựng để
không những trọng tâm rèn các kỹ năng làm bài tập lý thuyết mà còn phục vụ mục tiêu vận
dụng kiến thức vào thực tế và rèn kỹ năng thực hành cho HS.
2.4.1. Các bài tập dạng biết
Các bài tập ở mức độ biết chỉ yêu cầu về năng lực nhận thức của HS là nhớ lại những
kiến thức đã học một cách máy móc và nhắc lại. Tư duy của HS ở mức độ biết là tư duy cụ

ban đầu. Trong câu hỏi và bài tập vận dụng sáng tạo thường chứa những động từ như: phân
tích, suy luận, liên hệ, so sánh, thiết kế, báo cáo, lập kế hoạch, xây dựng, sắp đặt, đánh giá,
phê bình, kết luận …
Do những câu hỏi và bài tập vận dụng sáng tạo có mức độ khó cao nên không phải nội
dung kiến thức nào, bài nào cũng xây dựng được. Xin mời xem cụ thể hệ thống câu hỏi và bài
tập dạng vận dụng sáng tạo gồm 58 câu trắc nghiệm khách quan và 56 câu tự luận trong phụ
lục 6 của luận văn.
2.5. Sử dụng hệ thống bài tập theo các mức độ nhận thức và tƣ duy trong dạy học phần
Hóa vô cơ - Hóa học 11
2.5.1. Sử dụng hệ thống bài tập theo các mức độ nhận thức và tư duy trong việc xây dựng
kiến thức mới, kỹ năng mới
Thông thường trong một bài học GV cần chuẩn bị các câu hỏi, bài tập ở các dạng sau
ứng với các giai đoạn dạy học:
Giai đoạn một: Câu hỏi vấn đáp gồm các bài tập lý thuyết hoặc thực hành ở mức độ
biết, hiểu và vận dụng các kiến thức cũ.
Giai đoạn hai: Giải quyết các vấn đề thuộc bài mới bằng các bài tập ở mức độ biết và
hiểu.
Giai đoạn ba: Tổng kết, tìm ra các logic, các mối liên hệ. Thông thường sử dụng các
bài tập vận dụng và vận dụng sáng tạo.
Các bài tập này được thiết kế trong phiếu học tập nhằm phát huy tính tích cực nhận
thức và tư duy của HS trong giờ học. GV chỉ đóng vai trò người tổ chức: lựa chọn, xây dựng
bài tập, hướng dẫn HS giải bài tập, qua đó mà HS tìm tòi kiến thức. GV chỉnh lý, bổ sung các
nhận xét, kết luận của HS đã rút ra cho chính xác, đúng đắn.
2.5.2. Sử dụng hệ thống bài tập theo các mức độ nhận thức và tư duy trong việc vận dụng,
củng cố kiến thức, kỹ năng
Việc sử dụng bài tập trong bài luyện tập - vận dụng kiến thức là một vấn đề quan
trọng giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức mà HS đã được học. Khi soạn bài luyện tập GV có
thể sử dụng nhiều dạng bài tập khác nhau nhưng cần chú ý mức độ phù hợp với trình độ lĩnh
hội của HS, phù hợp với nội dung, vị trí và nhiệm vụ của từng chương cũng như chứa đựng
những kiến thức cơ bản, trọng tâm mà HS cần nắm vững. Thông thường GV nên đưa ra các

học vô cơ lớp 11 chương trình cơ bản nhằm nâng cao chất lượng dạy học, tăng cường tính
tích cực học tập của HS trong quá trình học tập môn hóa học, kích thích HS đi vào con đường
học tập tìm tòi sáng tạo.
- Khẳng định mục đích nghiên cứu của đề tài là thiết thực, đáp ứng được yêu cầu nâng
cao khả năng nhận thức và tư duy của HS lớp 11.
3.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sƣ phạm
- Đánh giá sự phù hợp về mức độ khó của các dạng bài tập theo các mức độ nhận thức
và tư duy của HS.
- Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 11 chương
trình cơ bản theo các mức độ nhận thức và tư duy nhằm nâng cao khả năng nhận thức và tư
duy của HS.
3.3. Thực nghiệm sƣ phạm
3.3.1. Chuẩn bị thực nghiệm
* Đối tượng và địa bàn thực nghiệm:
- HS lớp 11 ban cơ bản của trường THPT Phương Nam - TP. Hà Nội
- Chọn những lớp 11 có trình độ tương đương, cặp lớp ĐC và TN phải học cùng một
chương trình, do cùng một GV dạy học.
Bảng 3.1: Danh sách các lớp thực nghiệm và đối chứng
STT
Lớp TN
Lớp ĐC
GV giảng dạy
1
11A1 – 46 HS
11C1 – 45 HS
Nguyễn Minh Phương
2
11C2 – 42 HS
11C3 – 41 HS
Trần Thị Hải Yến

Axit nitric và muối nitrat
15 phút
3
Chương II: Nitơ, photpho
45 phút
4
Luyện tập tính chất của cacbon, silic
và các hợp chất của chúng
15 phút

Bƣớc 3: Xử lý kết quả thực nghiệm
Sau khi tiến hành thực nghiệm, tác giả thu thập và tổng hợp điểm để xử lý số liệu. Kết
quả kiểm tra được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học theo thứ tự sau:
1. Lập bảng phân phối: tần số, tần suất, tần suất luỹ tích.
2. Tính các tham số đặc trưng thống kê.
- Trung bình cộng
- Phương sai S
2
và độ lệch chuẩn S
- Hệ số biến thiên V
- Sai số tiêu chuẩn m
- Đại lượng kiểm định Student
3. Vẽ đồ thị đường luỹ tích từ bảng phân phối tần suất luỹ tích.
Bƣớc 4: Phân tích kết quả thực nghiệm
3.3.3. Kết quả thực nghiệm
3.3.3.1. Thực hiện nhiệm vụ thứ nhất
Để TN nhằm đánh giá mức độ khó của các dạng bài tập theo các mức độ nhận thức và
tư duy của HS, chúng tôi đã lựa chọn và sử dụng 12 câu hỏi và bài tập trắc nghiệm khách
quan ở cả 3 mức độ. Sau đó chúng tôi xây dựng đề kiểm tra 15 phút bài Nitơ (đề kiểm tra số
1) và tiến hành TN ở 2 lớp là 11A1 (lớp TN1) và 11C1 (lớp ĐC1)

29
64,44
6
13,33

Từ kết quả trên, chúng tôi thấy việc sắp xếp, phân loại hệ thống bài tập hóa học theo
các mức độ nhận thức và tư duy của HS đã nêu là phù hợp. Bằng hệ thống bài tập này sẽ
phân loại, đánh giá được khả năng nhận thức và tư duy của HS để từ đó đề xuất các biện pháp
thích hợp với từng đối tượng nhằm nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của HS.
3.3.3.2. Thực hiện nhiệm vụ thứ hai
Chúng tôi tiến hành áp dụng vào dạy các bài cụ thể ở các lớp TN 11A1 và 11C2. Sau
đó chúng tôi tiến hành kiểm tra 15 phút và 45 phút cho cả 4 lớp 11A1, 11C1, 11C2, 11C3 với
3 đề kiểm tra còn lại (đề số 2, 3, 4).
Các kết quả thu được cho thấy:
- Tỷ lệ HS bị điểm yếu - kém và trung bình ở các lớp TN luôn nhỏ hơn lớp ĐC; ngược
lại tỷ lệ HS đạt điểm khá – giỏi ở các lớp TN luôn lớn hơn các lớp ĐC.
- Đồ thị đường lũy tích của các lớp TN đều nằm về phía bên phải và phía dưới so với
các lớp ĐC.
- Điểm trung bình cộng các bài kiểm tra của lớp TN luôn cao hơn lớp ĐC. Tất cả
những kết quả trên chứng tỏ chất lượng học tập của các lớp TN cao hơn lớp ĐC.
- Xét các giá trị tham số đặc trưng thống kê: các giá trị phương sai, độ lệch tiêu chuẩn,
hệ số biến thiên và sai số của lớp TN luôn nhỏ hơn lớp ĐC. Điều này chứng tỏ mức độ phân
tán điểm của HS lớp TN nhỏ hơn lớp ĐC, chất lượng của lớp TN đồng đều hơn.
- Với mức ý nghĩa α = 0,01 ta có các đại lượng kiểm định t > t
α, k
qua từng bài kiểm
tra, cho thấy có thể khẳng định sự khác nhau giữa x
TN
và x
ĐC

Kết quả cho thấy hệ thống bài tập đã xây dựng và việc sử dụng các bài tập này trong
các bài lên lớp theo hướng dạy học tích cực đã phát huy hiệu quả đáng kể không những đối
với HS mà còn giúp GV định hướng, sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để nâng cao
chất lượng dạy và học. Hệ thống bài tập có tác dụng phát triển trí lực, góp phần phát triển
năng lực tư duy và khả năng sáng tạo cho HS, thúc đẩy tính tích cực trong hoạt động nhận
thức, bồi dưỡng năng lực tự học của HS trong quá trình học tập.
2. Khuyến nghị
Đổi mới phương pháp dạy học hóa học theo định hướng tích cực hóa hoạt động của
HS, nâng cao khả năng nhận thức và tư duy của HS thực sự là yêu cầu không thể thiếu trong
dạy học hóa học. Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tôi có một số khuyến nghị sau :
2.1. Về chương trình đào tạo và hệ thống bài tập
- Xem xét lại chương trình đào tạo, vì quá tải chương trình sẽ làm hạn chế việc học
tập của HS, làm mất đi khả năng sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt của giáo viên, dẫn đến việc tổ
chức các hoạt động dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS cũng bị hạn chế.
- Hệ thống bài tập hóa học lớp 11 cơ bản trong sách bài tập cần được bổ sung thêm,
biên tập và chỉnh lí lại cho đa dạng phong phú theo mức độ từ dễ đến khó để giúp HS có thể
tự ôn tập.
- Tổ chức xây dựng ngân hàng bài tập nhằm thống nhất nội dung giảng dạy cho các
đơn vị.
- GV cần xây dựng một hệ thống bài tập từ cơ bản đến nâng cao và đảm bảo sự cân
bằng giữa chúng, để có thể áp dụng cho từng đối tượng HS và điều kiện dạy học cụ thể.
2.2. Về vấn đề giảng dạy
- Cần tăng cường đầu tư thiết bị, hóa chất, dụng cụ thí nghiệm, các phương tiện trực
quan khác cũng như các máy móc hỗ trợ thì mới phát huy hết khả năng dạy học của người
GV, khả năng sáng tạo và tiếp thu kiến thức của HS trong việc đổi mới phương pháp dạy học
theo định hướng tích cực hóa hoạt động của HS.
- Cần có chế độ hợp lí cho các GV tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học.
Đồng thời, GV cần được tham gia các khóa học bồi dưỡng chuyên môn gắn liền mục tiêu đổi
mới phương pháp dạy học.
- GV cần phải đầu tư nhiều công sức, thời gian khi thiết kế một bài dạy hóa học theo

8. Trần Bá Hoành - Cao Thị Thặng - Phạm Thị Lan Hƣơng. Áp dụng dạy và học tích cực
trong môn Hóa học. Dự án Việt Bỉ, 2003.
9. Đặng Thị Oanh - Trần Trung Ninh. Câu hỏi lý thuyết và bài tập hóa học THPT tập 1.
Nxb Giáo dục, 2006.
10. Nguyễn Ngọc Quang. Lý luận dạy học hóa học tập 1. Nxb Giáo dục, 1994.
11. Cao Thị Thặng - Phạm Thị Lan Hƣơng. Áp dụng dạy học tích cực. bộ Giáo dục và Đào
tạo. Dự án Việt Bỉ đào tạo giáo viên các trường sư phạm 7 tỉnh miền Bắc – Việt Nam.
12. Lê Xuân Trọng (Tổng Chủ biên) - Nguyễn Hữu Đĩnh (Chủ biên) - Lê Chí Kiên - Lê
Mậu Quyền. Hóa học 11 nâng cao. Nxb Giáo dục, 2007.
13. Lê Xuân Trọng (Chủ biên) - Từ Ngọc Ánh - Phạm Văn Hoan - Cao Thị Thặng. Bài
tập Hóa học 11 nâng cao. Nxb Giáo dục, 2007.
14. Lê Xuân Trọng (Tổng Chủ biên) - Trần Quốc Đắc - Phạm Tuấn Hùng - Đoàn Việt
Nga - Lê Trọng Tín. Sách giáo viên hoá học 11 nâng cao. Nxb Giáo dục, 2007.
15. Nguyễn Xuân Trƣờng. Bài tập hóa học ở trường phổ thông. Nxb Đại học sư phạm,
2003.
16. Nguyễn Xuân Trƣờng. Sử dụng bài tập trong dạy học hoá học ở trường phổ thông. Nxb
ĐHSP, 2006.
17. Nguyễn Xuân Trƣờng (Tổng chủ biên) - Lê Mậu Quyền (Chủ biên) - Phạm Văn
Hoan - Lê Chí Kiên. Hóa học 11. Nxb Giáo dục, 2010.
18. Nguyễn Xuân Trƣờng - Nguyễn Thị Sửu - Đặng Thị Oanh - Trần Trung Ninh. Tài
liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT. Chu kỳ III, 2004 – 2007.
19. Nguyễn Xuân Trƣờng. 1430 câu hỏi trắc nghiệm hóa học 11. Nxb ĐHQG TP.HCM,
2007.
20. Vũ Anh Tuấn - Nguyễn Hải Châu - Đặng Thị Oanh - Cao Thị Thặng. Hướng dẫn
thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn hóa học lớp 11. Nxb Giáo dục, 2009.
21. Nguyễn Sỹ Tỳ. Cải tiến phương pháp dạy và học nhằm phát huy trí thông minh cho học
sinh. Nghiên cứu giáo dục (3).
22. A.G.Covalop. Tâm lý học cá nhân. Nxb Giáo dục Hà Nội, 1971.
23. I.F.Kharlamop. Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào. Nxb Giáo dục, 1978.
24. M.N.Sacđacov. Tư duy của học sinh. Nxb Giáo dục, 1970.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status