Phân loại và giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 theo một phương pháp chung góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học trung học phổ thông - Pdf 10

1

Phân loại và giải các bài toán hóa học hữu cơ
lớp 12 theo một phương pháp chung
góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học
môn hóa học trung học phổ thông
Classifying and doing organic chemistry exercises grade 12 in a general method morder to
improve effectiveness of teaching and learning chemistry at highschool
NXB H. : ĐHGD, 2012 Số trang 109 tr. +
Phùng Thị Kim Ngân Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (bộ môn Hóa học);
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Vũ Ngọc Ban
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học
THPT; ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học trong quá trình dạy và học môn hóa học; cơ
sở lựa chọn và cách phân loại các bài tập hóa học. Thực trạng của việc sử dụng các bài
toán hóa học của GV và HS ở trường phổ thông. Trình bày phương pháp chung giải các
bài toán hóa học trung học phổ thông và vận dụng để giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp
12. Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài.

Keywords: Phương pháp giảng dạy; Hóa học hữu cơ; Hóa học

Content
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình dạy và học môn Hóa học, bài tập hóa học có một vai trò quan trọng trong
việc củng cố kiến thức, rèn luyện và phát triển năng lực nhận thức tư duy cho HS. Thông qua việc

Bản luận văn này tiếp tục áp dụng phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT để giải
các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học THPT.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
- Lựa chọn và phân loại các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12.
- Nêu phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT và vận dụng để giải các bài toán
hóa học hữu cơ lớp 12 góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học THPT.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học THPT; ý
nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học trong quá trình dạy và học môn hóa học; cơ sở lựa chọn và
cách phân loại các bài tập hóa học. Thực trạng của việc sử dụng các bài toán hóa học của GV và
HS ở trường phổ thông.
Trình bày phương pháp chung giải các bài toán hóa học trung học phổ thông và vận dụng
để giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12.
Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài.
4. Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học môn hóa học ở trường THPT
Đối tượng nghiên cứu
Các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 .

3

5. Phạm vi nghiên cứu
Phần hóa học hữu cơ lớp 12.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Cơ sở lựa chọn và phân loại các bài tập hóa học là gì?
Phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT là phương pháp nào?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu HS và GV có được một hệ thống bài tập được lựa chọn, phân loại theo các mức độ

4

1.1.2. Chất lượng dạy học
Chất lượng dạy học được hiểu là chất lượng giảng dạy của người dạy và chất lượng học
tập của người học xét cả về mặt định lượng và định tính so với các mục tiêu của môn học.
Tiêu chuẩn của một quá trình dạy học có chất lượng và hiệu quả (theo quan điểm của công
nghệ dạy học) là phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ dạy học trong nhà trường, đáp ứng được một
cách đúng đắn và kịp thời các yêu cầu của nền kinh tế - xã hội với sự chi phí tối ưu về thời gian,
sức lực và tiền của của GV, HS, nhân dân và nhà nước.
1.1.3. Một số biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học
Chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học hóa học phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội
dung chương trình đào tạo, hệ thống sách giáo khoa, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ quá trình
dạy và học, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá Trong phạm vi bản luận văn này
chúng tôi chỉ đề cập đến tầm quan trọng của bài tập hóa học trong giảng dạy môn hóa học, trong
đó tập trung vào việc lựa chọn, phân loại và phương pháp giải bài toán hóa học để góp phần nâng
cao hiệu quả của việc dạy và học môn hóa học.
1.2. Bài tập hóa học
1.2.1. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học
Việc dạy học không thể thiếu bài tập. Sử dụng bài tập trong dạy học là một biện pháp hết
sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học.
Bài tập hóa học có ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt: trí dục, giáo dục, phát triển.
1.2.2. Lựa chọn và phân loại bài tập hóa học
1.2.2.1. Lựa chọn bài tập hóa học
Hiện nay số lượng câu hỏi và bài toán hóa học trong sách giáo khoa và các tài liệu tham
khảo rất phong phú và đa dạng. Để phục vụ tốt cho việc dạy và học môn hóa học cần phải lựa
chọn những bài toán hóa học đảm bảo các yêu cầu: bám sát và phục vụ tốt mục tiêu dạy học; nội
dung phải phong phú, ngắn gọn; chú trọng đến bản chất hóa học; không lắt léo, đánh đố về mặt
toán học; bên cạnh những bài toán cơ bản cần có những bài toán nâng cao, tổng hợp để phát huy
tính độc lập, sáng tạo trong nhận thức, tư duy của HS
1.2.2.2. Phân loại bài tập hóa học

STT
Công thức
Số mol chất
1
n.Mm 

M
m
n 

2
n.4,22V
0


4,22
V
n
0


3
V
n
C
ct
M


Mct

ct



1.3.2. Quan hệ giữa số mol của các chất phản ứng.
Ví dụ 1: Xét phản ứng: aA + bB  cC + dD.
Gọi số mol các chất A, B, C, D tham gia hay hình thành sau phản ứng là n
A
, n
B
, n
C
, n
D
, ta có:
d
n
c
n
b
n
a
n
D
C
BA


6


2A + 5B  C +3D (1)
3C + E  5G + 4H (2)
2H + 3I  5K + 3M (3)
Giả thiết các phản ứng xảy ra hoàn toàn. Hãy thiết lập mối quan hệ giữa số mol của các
chất bất kì đã tham gia phản ứng, ví dụ giữa n
K
và n
A
, giữa n
B
và n
M
?
Hướng dẫn giải:
Để thiết lập mối quan hệ giữa n
K
và n
A
, ta xuất phát từ chất K và xét mối quan hệ giữa K
và A thông qua các chất trung gian H, C. Cụ thể theo các phản ứng (3), (2), (1) ta có:

AAKACAHHK
n
3
5
n
2
1
.
3

4
3
.5nn
3
2
n;n
4
3
n;n5n 

1.3.3. Phương pháp chung giải các bài toán hóa học trung học phổ thông
Các bài toán hóa học có thể chia thành 2 loại là bài toán hỗn hợp và “không hỗn hợp”.
- Bài toán “không hỗn hợp” là loại bài toán liên quan đến phản ứng của 1 chất qua một giai
đoạn hay một dãy biến hóa
- Bài toán hỗn hợp là loại bài toán liên quan đến phản ứng của hỗn hợp chất
Loại bài toán “không hỗn hợp”
Phương pháp giải các bài toán loại này là: Lập biểu thức tính đại lượng mà bài toán đòi
hỏi, rồi dựa vào quan hệ giữa số mol của “chất cần tính toán” với số mol của “chất có số liệu
cho trước” trong phương trình hóa học và dựa vào các công thức để giải.
Loại bài toán hỗn hợp
Phương pháp giải loại bài toán này là: Đặt ẩn số, lập hệ phƣơng trình và giải hệ phƣơng
trình để tìm ra các yêu cầu bài toán.
- Ẩn số thường đặt là số mol các chất trong hỗn hợp.
- Các phương trình được thiết lập bằng cách biểu thị mối quan hệ giữa các số liệu đã
cho trong bài (sau khi đã đổi ra số mol chất, nếu có thể được) với các ẩn số.
7

- Giải hệ phương trình để xác định các ẩn số, rồi dựa vào đó suy ra các đòi hỏi khác
nhau của bài toán.
Chú ý:

MMM 
sẽ giải được hệ phương trình vô định. Phương
pháp này thường được sử dụng khi đã biết khối lượng và số mol của hỗn hợp, đặc biệt với bài toán
hỗn hợp các chất hữu cơ liên tiếp nhau trong dãy đồng đẳng
2) Với bài toán hỗn hợp của các chất cùng loại, có các phản ứng xảy ra tương tự nhau,
hiệu suất của phản ứng như nhau,…thì có thể thay thế hỗn hợp đó bằng một chất có công thức
phân tử trung bình (CTPTTB) để giải.
Khi đó, số ẩn số của bài toán giảm xuống và việc giải bài toán sẽ thuận lợi và nhanh gọn
hơn. Đây cũng là một phương pháp có hiệu quả để giải các bài toán hỗn hợp (các chất cùng loại)
có số phương trình lập được ít hơn số ẩn số.
Qua các điều trình bày ở trên, nhận thấy các bài toán “không hỗn hợp” và bài toán hỗn hợp
tuy cách giải có những điểm khác nhau nhưng chúng đều thống nhất ở chỗ là đều dựa vào mối
quan hệ về số mol của các chất phản ứng và dựa vào các công thức biểu thị quan hệ giữa số
mol chất với khối lượng, thể tích, nồng độ,…của chất để giải. Đó chính là nội dung của phương
pháp chung giải bài toán hóa học THPT.
Hiện nay, hình thức thi trắc nghiệm ngày càng phổ biến, mà đặc điểm của loại hình kiểm
tra này là số lượng câu hỏi, bài toán nhiều vì thế mà thời gian làm mỗi câu hỏi, bài toán rất ngắn.
Để có kết quả cao trong các kì thi, đặc biệt là kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh Đại học - Cao
đẳng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo các định luật sẵn có trong hóa học
để giải các bài toán. Đối với các bài toán hữu cơ, 2 định luật được sử dụng phổ biến là định luật
bảo toàn khối lượng, định luật bảo toàn nguyên tố.

Tiểu kết chƣơng 1
Trong chương này, chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài:
8

- Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình dạy và học môn hóa học
THPT.
- Vai trò, ý nghĩa của bài tập hóa học.
- Cơ sở lựa chọn và phân loại các bài tập hóa học.

5
1

4
Polime và vật liệu polime
4
1
1
Chương trình nâng cao:

Chƣơng

Tên chƣơng
Số tiết
Lý thuyết
Luyện tập
Thực
hành
1
Este - Lipit
3
1

2
Cacbohiđrat
6
2
1
3
Amin - Aminoaxit - Protein

2.3. Sử dụng hệ thống bài toán hóa học theo các mức độ nhận thức tƣ duy trong dạy học
phần hữu cơ - Hóa học lớp 12
Trên cơ sở hệ thống các bài tập hóa học đã được biên soạn ở trên, chúng tôi đã lựa chọn,
sử dụng một số bài toán để đưa vào các khâu dạy học nhằm mục đích sau:
- Xây dựng kiến thức mới, kĩ năng mới.
- Vận dụng, củng cố kiến thức, kĩ năng.
- Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng.
2.3.1 Sử dụng hệ thống bài toán hóa học theo các mức độ nhận thức tư duy trong việc xây
dựng kiến thức mới, kĩ năng mới.
Thông thường trong một bài học GV chuẩn bị các câu hỏi ở dạng sau ứng với các giai
đoạn dạy học:
Giai đoạn một: Câu hỏi và các bài toán ở mức độ biết, hiểu và vận dụng để kiểm tra
kiến thức cũ.
Giai đoạn hai: Giải quyết các vấn đề thuộc bài mới bằng các bài toán chủ yếu ở mức độ
biết, hiểu.
Giai đoạn ba: Tổng kết, tìm ra các logic, các mối liên hệ. Thông thường sử dụng các bài
toán dạng vận dụng và vận dụng sáng tạo.
Các bài toán được sử dụng để xây dựng kiến thức mới, kĩ năng mới ứng với giai đoạn
hai ở trên thường được sử dụng dưới hình thức phát phiếu học tập cho HS.
10

2.3.2. Sử dụng hệ thống bài toán hóa học theo các mức độ nhận thức tư duy trong việc vận
dụng, củng cố kiến thức, kĩ năng
Như đã phân tích ở trên thì khi kết thúc một bài học hoặc khi có bài luyện tập, ôn tập, thì hệ
thống bài toán hóa học càng quan trọng. Nó sẽ giúp HS vận dụng những kiến thức đã học để củng cố
và khắc sâu kiến thức, kĩ năng thông qua các bài tập dạng vận dụng và vận dụng sáng tạo.
Sau mỗi tiết học hoặc sau mỗi giờ luyện tập, GV có thể sử dụng hệ thống bài tập tự
luyện giao cho HS tự làm ở nhà giúp HS nâng cao tính chủ động, độc lập, sáng tạo trong học tập.
2.3.3 Sử dụng hệ thống bài toán hóa học theo các mức độ nhận thức tư duy vào việc kiểm tra,
đánh giá kiến thức, kĩ năng của học sinh

- Chấm điểm kiểm tra, thu thập số liệu và phân tích, xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm để:
+ Đánh giá sự phù hợp của các bài toán theo các mức độ nhận thức tư duy của HS.
+ Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng hệ thống bài toán đã biên soạn trong việc phát triển
năng lực nhận thức tư duy của HS.
Qua đó đánh giá hiệu quả của đề tài.
3.3. Quá trình tiến hành thực nghiệm sƣ phạm
3.3.1. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
- Địa bàn TN: chúng tôi tiến hành thực nghiệm ở trường THPT An Lão và THPT Hàng
Hải - Hải Phòng là các trường có cơ sở trang thiết bị vật chất khá tốt, với đội ngũ GV có trình độ
chuyên môn vững vàng, tâm huyết với nghề.
- Đối tượng TN: HS lớp 12 trường THPT An Lão và THPT Hàng Hải năm học 2012 –
2013.
STT
Trường
Lớp TN
Lớp ĐC
Giáo viên
1
THPT An Lão
12A4
12A6
Phùng Thị Kim Ngân
2
THPT Hàng Hải
12A01
12A02
Hoàng Sơn Hải
- Để đảm bảo tính khách quan khi tiến hành TN, chúng tôi chọn các lớp TN và lớp ĐC có
sĩ số tương đương và có sức học tương đương nhau.
+ Lớp TN: 83 HS của 2 lớp 12, GV hướng dẫn HS phương pháp chung giải bài toán hóa học và

3
10
11
17
17
13
9
3
6.506
1.763
Đối chứng
84
0
0
2
14
10
16
19
11
8
4
6.440
1.793

12

Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm (TN và ĐC) có sự khác nhau, do
đó chúng tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình
của hai nhóm trước khi tác động: p = 0,406 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung

Dạng 3
Dạng 4
TN
83
100%
90,4%
77,1%
6,02%
ĐC
84
100%
85%
52,3%
1,19%

Với dạng 1 - dạng biết, dạng 2 - dạng hiểu, dạng 3 - dạng vận dụng, dạng 4 - dạng vận
dụng sáng tạo.
13

Phân tích kết quả:
- Đối với các bài tập ở dạng 1 là các bài tập đơn giản, mang tính chất tìm hiểu, HS chỉ cần
nhớ là có thể trả lời được. Vì vậy ở dạng này 100% HS trả lời đúng.
- Đối với các bài tập thuộc dạng 2 là những bài tập mà HS học bài cẩn thận là có thể trả lời
đúng. Bài tập dạng này không đòi hỏi trình độ tư duy cao, có khoảng 85% đến 90,4% HS ở cả hai
nhóm trả lời đúng.
- Đối với bài tập ở dạng 3 là các bài tập mang tính vận dụng, HS phải thực hiện các thao
tác tư duy phân tích, tổng hợp tuy nhiên ở mức độ đơn giản do đó đòi hỏi HS phải nắm vững kiến
thức, hiểu và vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau. Với loại bài tập này chỉ có 52,3%
đến 77,1% trả lời đúng.
- Đối với bài tập ở dạng 4 là những bài tập ở mức độ vận dụng sáng tạo, đòi hỏi HS phải


An Lão
12A4
(TN)
40
0
0
0
1
2
4
10
14
7
2
12A6
(ĐC)
42
0
0
1
5
5
10
9
9
2
1
Hàng
Hải

40
0
0
0
1
2
5
8
12
9
3
14

12A6
(ĐC)
42
0
0
0
5
6
11
10
7
2
1
Hàng
Hải
12A01
(TN)

12A6
12A01
12A02
3
7,575
6,452
7,233
6,333
4
7,675
6,429
7,442
6,31

Bảng 3.5. Bảng % HS đạt điểm yếu, kém; trung bình; khá; giỏi
Đề
số
Trường
THPT
Lớp
% Yếu,
kém
% Trung
bình
% Khá
% Giỏi
3
An Lão
12A4 (TN)
2.50

7.14
Hàng Hải
12A01 (TN)
2.33
23.26
51.16
23.26
12A02 (ĐC)
9.52
40.48
47.62
2.38
15

Bảng 3.6. Bảng % HS đạt điểm từ X
i
trở xuống
Đề
số
Lớp
% HS đạt điểm từ X
i
trở xuống
1
2
3
4

100
12A0
1
(TN)
0
0
0
4.65
11.63
27.91
53.49
81.39
97.67
100
12A0
2
(ĐC)
0
0
0
11.91
33.33
50.00
76.19
95.24
100
100
4
12A4
(TN)

25.58
44.19
76.74
95.35
100
12A0
2
(ĐC)
0
0
2.38
9.52
30.95
50.00
78.57
97.62
100
100

- Đồ thị, biểu đồ:
Đường lũy tích ứng với kết quả nêu trong bảng 3.6. Trục tung chỉ %HS đạt điểm từ X
i
trở
xuống, trục hoành chỉ điểm số.
16 0
20
40

60
80
100
120
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Điểm
Tỉ lệ %
TN - 12A4
ĐC - 12A6

Đồ thị 3.3. Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra - Đề số 4- Trƣờng THPT An Lão
17 0
20
40
60
80
100
120
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
điểm
Tỉ lệ %
TN - 12A01
ĐC - 12A02

Đồ thị 3.4. Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra – Đề số 4 - Trƣờng THPT Hàng Hải
Biểu đồ hình cột biểu diễn trình độ của HS thông qua dữ liệu trong bảng 3.5.
0

50
YK TB K G
TN - 12A4 - L2 ĐC - 12A6 - L2

0
10
20
30
40
50
60
YK TB K G
TN - 12A01 - L2 ĐC - 12A02 - L2

Biểu đồ 3.3. Đề số 4 - An Lão Biểu đồ 3.4. Đề số 4 - Hàng Hải
Các tham số đặc trưng thống kê
- Trung bình cộng: đặc trưng cho sự tập trung số liệu
18 X




k
i
ii
xn
n

SS 

Độ lệch chuẩn càng nhỏ bao nhiêu thì số liệu càng ít phân tán bấy nhiêu.
- Hệ số biến thiên V:
%100.
X
S
V 

Nếu V nằm trong khoảng 10 - 30% thì độ dao động tin cậy.
- Sai số tiêu chuẩn
n/S: 

Muốn so sánh chất lượng của các tập thể HS khi đã tính được giá trị trung bình cộng thì sẽ có 2
trường hợp:
- Nếu giá trị trung bình cộng bằng nhau thì trường hợp nào có độ lệch chuẩn S nhỏ hơn sẽ có chất
lượng tốt hơn.
- Nếu giá trị trung bình cộng khác nhau thì trường hợp nào có hệ số biến thiên V nhỏ hơn thì chất
lượng đều hơn, còn giá trị
X
lớn hơn thì trình độ tốt hơn.
Từ các giá trị trên ta có bảng các tham số đặc trưng:

Bảng 3.7. Tổng hợp các tham số đặc trƣng
Đề số
Đối tượng
X

S
2

1.43
22.44

Phân tích kết quả:
- Phân tích định tính:
Sau khi tiến hành kiểm tra và chấm điểm chúng tôi nhận thấy rằng:
+ Trong quá trình dạy học, việc phân loại bài tập theo các mức độ nhận thức tư duy và
hướng dẫn HS phương pháp chung giải bài toán hóa học đã tạo nên sự thay đổi rõ rệt về không khí
19

học tập của HS trong giờ học. Trong giờ học ở lớp TN, HS rất sôi nổi, hứng thú tham gia vào các
hoạt động học tập và nắm vững kiến thức hóa học, giải bài toán hóa học nhanh hơn so với HS ở
lớp ĐC.
+ Các GV tham gia giảng dạy thực nghiệm đều thấy việc phân loại bài toán hóa học theo
các mức độ nhận thức tư duy và sử dụng phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT giúp
cho việc hướng dẫn HS giải bài tập dễ dàng hơn, hiệu quả dạy học tốt hơn.
- Phân tích định lượng:
Các bảng phân phối tần suất, đồ thị đường luỹ tích và các tham số đặc trưng cho thấy chất
lượng học tập của HS lớp TN cao hơn HS lớp ĐC, thể hiện:
+ Tỉ lệ phần trăm (%) HS yếu, kém; trung bình của lớp TN luôn thấp hơn lớp ĐC (thể hiện
qua biểu đồ hình cột).
+ Tỉ lệ phần trăm (%) HS khá, giỏi của lớp TN luôn cao hơn lớp ĐC (thể hiện qua biểu đồ
hình cột).
+ Đồ thị đường luỹ tích của lớp TN luôn ở bên phải và phía dưới đường luỹ tích của lớp
ĐC, điều đó cho thấy chất lượng học tập của lớp TN tốt hơn và đồng đều hơn lớp ĐC.
+ Điểm trung bình cộng của HS lớp TN cao hơn lớp ĐC.
+ Hệ số biến thiên V của lớp TN luôn nhỏ hơn của lớp ĐC chứng tỏ chất lượng của lớp TN
đồng đều hơn.
Như trên đã chứng minh kết quả hai nhóm (TN và ĐC) trước tác động là tương đương.
Sau tác động, kiểm chứng sự chênh lệch điểm trung bình bằng T-Test cho kết quả: đề kiểm tra số

theo 4 mức độ nhận thức tư duy và giải theo phương pháp chung đối với quá trình dạy và học môn
hóa học trung học phổ thông.
Các kết quả thực nghiệm sư phạm đã khẳng định:
- Việc lựa chọn, phân loại các bài toán hóa học theo 4 mức độ nhận thức tư duy của HS ở
trên là phù hợp. Hệ thống bài tập trên đánh giá được năng lực nhận thức tư duy của HS và giúp
GV phát hiện ra những HS có năng khiếu về hóa học.
- Hệ thống bài toán hóa học đã biên soạn đã thiết thực góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học phần hóa học hữu cơ lớp 12 nói riêng và môn hóa học ở trường phổ thông nói chung.

KẾT LUẬN

Đối chiếu với mục đích, nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã giải quyết được những vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài bao gồm cơ sở lý luận của việc nâng cao
chất lượng, hiệu quả quá trình dạy và học môn hóa học THPT; vai trò, ý nghĩa của BTHH; cơ sở
lựa chọn, phân loại bài tập hóa học; thực trạng của việc sử dụng bài toán hóa học ở trường THPT;
phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT.
- Đã lựa chọn, phân loại các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 và giải chúng theo phương
pháp chung giải các bài toán hóa học THPT.
Cụ thể chúng tôi đã lựa chọn được 120 bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 (gồm 60 bài toán
tự luận và 60 bài toán trắc nghiệm khách quan) và 40 bài tập tự luyện (gồm 20 bài toán tự luận và
20 bài toán trắc nghiệm khách quan). Ngoài ra chúng tôi còn xây dựng được 5 đề kiểm tra ( 1đề
kiểm tra 15 phút và 4 đề kiểm tra 45 phút) để kiểm tra đánh giá HS.
- Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài toán hóa học đã biên soạn trong dạy học hóa học
hữu cơ lớp 12 khi xây dựng kiến thức mới, kĩ năng mới; khi vận dụng, củng cố kiến thức, kĩ năng
và khi kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS.
- Đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại 4 lớp của trường THPT An Lão và trường THPT
Hàng Hải - Hải Phòng. Đã xử lí các số liệu TN sư phạm đồng thời trao đổi, lấy ý kiến của các GV
và HS để khẳng định tính cần thiết, tính khả thi của đề tài: việc lựa chọn, phân loại và sử dụng
hợp lý hệ thống bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 theo các mức độ nhận thức tư duy và vận dụng
21

học( tập1). Nxb Giáo dục Hà Nội.
12. ThS Lê Tấn Diện (2011), Suy luận logic phương pháp giải nhanh môn Hóa học (Áp dụng vào giải
chi tiết đề thi tuyển sinh ĐH và CĐ từ năm 2007 đến năm 2010). Nxb Tổng hợp TP HCM.
13. Cao Cự Giác (2002), Hướng dẫn giải nhanh bài tập hóa học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
14. Lê Thanh Hải - Đinh Quang Cảnh - Nguyễn Thị Kim Tiến (2009), Trọng tâm kiến thức và
bài tập Hóa học 12. Nxb Giáo dục Việt Nam.
22

15. Võ Tƣờng Huy (2001), Giáo khoa và phương pháp giải toán hoá hữu cơ. Nxb Trẻ.
16. Đỗ Xuân Hƣng (2012), Phương pháp mới giải nhanh bài tập trắc nghiệm Hóa hữu cơ. Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội.
17. Nguyễn Thị Ngà - Vũ Anh Tuấn (2009), Hợp chất chứa nitơ - Gluxit - Hợp chất cao phân
tử. Nxb Giáo dục Việt Nam.
18. Nguyễn Thị Bích Phƣơng (2011), Phương pháp giải các bài toán xác định công thức hợp
chất hữu cơ chương trình hóa học trung học phổ thông. Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học, Đại
học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội.
19. Nguyễn Ngọc Quang (1994), Lí luận dạy học hóa học.Nxb Giáo dục.
20. Quan Hán Thành (1998), Phân loại và phương pháp giải toán Hóa hữu cơ. Nxb trẻ.
21. Quan Hán Thành (2010), Một số kinh nghiệm và phương pháp giải toán trắc nghiệm Hóa
học 12 - phần hữu cơ. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
22. Phùng Ngọc Trác (chủ biên) (2009), Phương pháp mới giải nhanh các bài toán hóa học
THPT. Nxb Hà Nội.
23. PGS.TS Nguyễn Xuân Trƣờng - ThS Hoàng Thị Thúy Hƣơng - ThS Quách Văn Long
(2001), Phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm hóa học THPT, Hóa học hữu cơ. Nxb Hà
Nội.
24. Nguyễn Xuân Trƣờng (1997), Bài tập hóa học ở trường phổ thông. Nxb Đại học Quốc Gia
Hà Nội.
25. Nguyễn Xuân Trƣờng (2011), Phương pháp giải nhanh bài toán hóa hữu cơ. Nxb Hà Nội.
26. PGS.TS Nguyên Xuân Trƣờng - TS Trần Trung Ninh (2007), 54 đề thi trắc nghiệm môn
Hóa học-Phần hữu cơ. Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status