Vận dụng biện pháp tích hợp vào dạy học loại bài
thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt lớp 10
Apply measures integrated into the teaching of skill exercises use Vietnamese for
grade 10
NXB H. : ĐHGD, 2012 Số trang 105 tr. + Nguyễn Thị Hường Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (bộ môn Ngữ văn);
Mã số: 60 14 10
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PSG.TS. Đỗ Việt Hùng
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Xác định cơ sở lí luận về dạy học tích hợp, nghiên cứu thực trạng vận dụng biện
pháp tích hợp vào dạy học loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt nói riêng và phần
tiếng Việt lớp10 nói chung. Xây dựng một số biện pháp tích hợp để triển khai dạy loại bài
thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt lớp 10. Triển khai thực nghiệm sư phạm để khẳng định
tính khả thi của đề tài. Đề xuất biện pháp tích hợp để dạy loại bài hình thành kỹ năng sử
dụng tiếng Việt lớp 10. Trên cơ sở kết quả thực nghiệm sẽ tiến hành phân tích, nhận xét,
đánh giá để có những kiến nghị và giải pháp cụ thể cho hướng nghiên cứu tiếp theo.
Keywords: Ngữ văn; Phương pháp giảng dạy; Tiếng Việt; Lớp 10
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng, vừa là công cụ để con người nhận thức tư duy.
Ngữ văn THCS theo yêu cầu tích hợp [21] của Nguyễn Thị Hồng Vân. Ngoài ra còn một số bài báo
bàn về quan điểm tích hợp trong môn Ngữ văn và dạy học Ngữ văn của Trần Bá Hoành, Nguyễn
Thanh Hùng, Đỗ Chu Ngọc, Nguyễn Khắc Phi. Vũ Thị Sơn, Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử,…
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp tích hợp vận dụng vào dạy học loại bài thực hành kĩ năng sử dụng
tiếng Việt, trong chương trình Ngữ văn lớp 10. Giúp giáo viên có được những định hướng cần thiết
để triển khai giờ học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu tích hợp của chương trình và SGK. Đồng
thời nâng cao hiệu quả học tập tiếng Việt, nâng cao hiểu biết về văn học, lịch sử, xã hội; góp phần
hình thành và phát triển nhân cách cho HS.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau:
- Xác định cơ sở lí luận về dạy học tích hợp.
- Xây dựng một số biện pháp tích hợp để vận dụng dạy học loại bài thực hành kĩ năng sử
dụng tiếng Việt lớp 10.
- Triển khai thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề xuất vận dụng biện pháp
tích hợp vào dạy loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt lớp 10. Trên cơ sở kết quả thực
nghiệm sẽ tiến hành phân tích, nhận xét, đánh giá để có những kiến nghị và giải pháp cụ thể cho
hướng nghiên cứu tiếp theo
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Chỉ ra các biện pháp tích hợp, nội dung có thể tích hợp và cách thức tiến hành dạy học tích
hợp đối với loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt lớp 10. Đồng thời thực hiện hoá một phần
những định hướng về dạy học tích hợp qua việc thiết kế giáo án và giảng dạy thực nghiệm.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp điều tra khảo sát
Phương pháp thực nghiệm
6. Giả thuyết khoa học.
Nếu vận dụng được biện pháp tích hợp vào dạy học loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng
Việt lớp 10 thì hiệu quả dạy học giờ thực hành tiếng Việt trong nhà trường sẽ cao hơn.
nhau, thường dựa vào các môn học công cụ.
Cách 4: Phối hợp quá trình học tập các môn học khác nhau bằng các tình huống tích hợp,
xoay quanh mục tiêu chung cho nhóm, tạo thành một môn học tích hợp.
Lên cấp THCS, THPT hệ thống khái niệm trong các môn học phức tạp hơn, đòi hỏi sự phát
triển tuần tự chặt chẽ, mỗi môn học do một giáo viên được đào tạo về chuyên môn đảm nhiệm, do
vậy người ta thiên về áp dụng cách tích hợp Phối hợp quá trình học tập các môn học khác nhau bằng
các tình huống tích hợp.
1.1.3. Mục tiêu của dạy học tích hợp
- Dạy học tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng
ngày, vận dụng các kiến thức học được để xử lý các tình huống cụ thể, những tình huống có ý nghĩa,
hoà nhập thế giới học đường với cuộc sống.
- Dạy học tích hợp giúp phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn.
- Dạy học tích hợp quan tâm đến việc sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể.
- Dạy học tích hợp còn giúp HS xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã được học.
1.2. Loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt
1.2.1. Khái niệm
Loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt là loại bài vận dụng lý thuyết đã được học vào
làm các bài tập cụ thể. Từ đó hình thành những kĩ năng cần thiết cho HS trong việc sử dụng tiếng
Việt, nâng cao năng lực, hiệu quả giao tiếp bằng ngôn ngữ.
1.2.2. Vai trò của loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt
1.2.2.1. Loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong nhà trường và trong đời sống xã hội
Trong nhà trường từ năm 1945 tiếng Việt được dung làm ngôn ngữ chính thức. Nó là phương
tiện để truyền đạt và tiếp nhận các tri thức khoa học, giáo dục tư tưởng, tình cảm, lối sống.
Với xã hội tiếng Việt là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất trong xã hội Việt Nam hiện
nay. Chức năng xã hội không chỉ khẳng định trong lĩnh vực giao tiếp hàng ngày của các dân tộc anh
em sống trên đất nước Việt Nam. Ngày nay trong các lĩnh vực hoạt động giao tiếp như chính trị, an
ninh, quốc phòng, ngoại giao tiếng Việt được sử dụng là phương tiện chính thức. Và như vậy vai trò
của tiếng Việt trong cuộc sống cũng như trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định. Chính điều
này là tiền đề để khẳng định vai trò của loại bài thực hành tiếng Việt trong nhà trường là rất bức
thiết.
văn bản khi nghe, khi đọc.
Ba là, bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, thái độ tôn trọng và ý thức giữ gìn sự trong
sáng của tiếng Việt.
1.3.2. Cấu trúc loại bài tiếng Việt lớp 10
1.3.2.1. Loại bài cung cấp kiến thức và hình thành kĩ năng mới
Loại bài cung cấp kiến thức và hình thành kĩ năng mới. Nội dung của những bài này chưa
được dạy hoặc chưa được đề cập một cách trực tiếp trong chương trình THCS. Đó là những bài sau:
- Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
- Văn bản và đặc điểm của văn bản
- Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
- Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
- Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
- Khái quát về lịch sử tiếng Việt
1.3.2.2. Loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt
Loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt có nhiệm vụ củng cố kiến thức và phát triển kĩ
năng mà HS đã được học ở các lớp dưới, hoặc đã có hiểu biết sơ giản. Đó là những bài sau:
- Các phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
- Các phép tu từ điệp và đối.
- Yêu cầu chung về việc sử dụng tiếng Việt.
- Ôn tập tiếng Việt cuối năm
1.3.3. Tính tích hợp trong chương trình tiếng Việt 10
1.3.3.1. Tích hợp theo chiều ngang
Theo Ngữ văn 6 – sách giáo viên - tập 1, Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức
tiếng Việt với mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người theo nguyên tắc đồng quy: Văn -
Tiếng Việt - Tập làm văn.
Trong SGK Ngữ văn 10, sự tích hợp Tiếng Việt với văn học và làm văn thể hiện ở cả việc lựa
chọn, sắp xếp, khai thác nội dung kiến thức môn Việt ngữ học.
1.3.3.2. Tích hợp theo chiều dọc
“Tích hợp theo chiều dọc nghĩa là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới những kiến
nhiều giờ dạy, giáo viên tích hợp một cách gượng gạo, các đơn vị kiến thức được tích hợp không có
mối liên hệ gắn bó; nhiều giờ dạy, giáo viên lựa chọn đơn vị kiến thức tích hợp chưa trọng tâm
1.4.2. Việc vận dụng biện pháp tích hợp vào dạy học loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt
lớp 10
Theo kết quả điều tra cho thấy, số lượng giáo viên không coi trọng việc áp dụng quan điểm
tích hợp vào dạy học loại bài thực hành tiếng Việt nói riêng và phần Tiếng Việt nói chung là rất lớn.
Điều này cũng đồng nghĩa với kết quả của các giờ học này chưa đạt được mục tiêu của môn học nói
chung và từng phần trong môn học nói riêng. Nguyên nhân của thực trạng này là:
Một là, lý thuyết về dạy học tích hợp còn khá mới mẻ đối với GV.
Hai là, tâm lý ngại thay đổi đã trở thành một trong những rào cản để giáo viên sử dụng những
quan điểm mới, phương pháp mới vào dạy học.
Ba là, phần Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn chưa được quan tâm đúng mức. Vẫn còn
tồn tại những quan điểm xem nhẹ nội dung này.
Chương trình Ngữ văn 10 đã triển khai các nội dung học tập của ba phần Văn, Tiếng Việt và
Làm văn trong mối quan hệ tích hợp để hướng tới một trong những mục tiêu cơ bản là rèn luyện cho
HS năng lực cơ bản là rèn luyện cho HS năng lực đọc - hiểu, cảm thụ, tiếp nhận các văn bản (đặc biệt
là văn bản văn học) và năng lực tạo lập văn bản với các phương thức biểu đạt khác nhau, từ đó góp
phần đào tạo những con người có tri thức văn hoá, có tâm hồn lành mạnh, có sự năng động, sáng tạo
trong việc vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học vào thực tiễn cuộc sống. Việc đổi mới
chương trình đưa đến một yêu cầu tất yếu là phải có phương pháp dạy học phù hợp. Hiện nay, chúng
ta thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn nói chung
và phần Tiếng Việt nói riêng.
CHƢƠNG 2
BIỆN PHÁP TÍCH HỢP VẬN DỤNG VÀO DẠY HỌC
LOẠI BÀI THỰC HÀNH KĨ NĂNG SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT LỚP 10
2.1. Một số yêu cầu khi vận dụng biện pháp tích hợp vào dạy học
2.1.1. Dạy học theo hướng tích hợp phải đảm bảo những yêu cầu chung của dạy học
2.1.1.1. Bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt ở mỗi bài học cụ thể
Chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng
có thể vận dụng những kiến thức đã học hoặc sẽ học trong chương trình để dạy một kiến thức thuộc
về chính phân môn này, cũng có thể thuộc về các phân môn khác. Đối với các đơn vị kiến thức cũ
(đã dạy), giáo viên dùng để tích hợp nhằm củng cố, ôn tập, so sánh, đối chiếu, đồng thời rèn cho HS
ý thức và kĩ năng vận dụng “cái đã biết” để xử lý các vấn đề trước mắt, hình thành “cái chưa biết”.
Đối với các đơn vị kiến thức sẽ hình thành trong tương lai (sẽ dạy), giáo viên đưa ra để gợi mở, giúp
HS hình dung được mối quan hệ giữa các đơn vị kiến thức trong chương trình. Qua đó, khơi gợi
được tinh thần ham hiểu biết, muốn được khám phá trong HS, có nghĩa là tăng hứng thú cho người
học. Không những vậy, việc dạy phần Tiếng Việt trong nhà trường cần tích hợp với đời sống xã hội.
Với phần Tiếng Việt lớp 10, không chỉ khai thác mối quan hệ tích hợp Tiếng Việt - Tiếng Việt thông
qua củng cố, ôn tập, rèn luyện kĩ năng, …(tích hợp dọc); tích hợp Tiếng Việt – Văn học theo hướng
tìm ngữ liệu cho các đơn vị kiến thức trong các bài Tiếng Việt cụ thể (tích hợp ngang); tích hợp
Tiếng Việt – Làm văn theo hướng chọn kiểu văn bản thích hợp đã được học ở phân môn Làm văn để
yêu cầu HS luyện tập Tiếng Việt (tích hợp ngang) mà còn có thể gắn nội dung dạy học phần này với
các tri thức khác. Đặc biệt cần lưu ý tới nội dung rèn luyện và phát triển năng lực giao tiếp cho HS.
Phát triển năng lực này là một nội dung quan trọng của dạy học Tiếng Việt.
Sau khi xác định được các đơn vị kiến thức có thể tích hợp trong từng tiết dạy, bài học cụ thể,
giáo viên cần lựa chọn mức độ và phạm vi tích hợp. Vấn đề chọn nội dung nào để tích hợp và tích
hợp đến đâu là vấn đề không đơn giản. Mặc dù ý đồ tích hợp được người biên soạn SGK thể hiện
trong từng bài cũng như trong toàn bộ chương trình Ngữ văn 10.
2.1.3. Đảm bảo giảm tải được kiến thức, rút ngắn được thời gian học tập cho HS
Khi tổ chức dạy học theo hướng tích hợp giáo viên cần lựa chọn phương pháp phù hợp, nội
dung thích hợp, cách thức hợp lý sao cho giảm tải được kiến thức và rút ngắn được thời gian học tập
mà vẫn đạt được mục tiêu dạy học. Muốn vậy, đối với mỗi bài học, bên cạnh việc xác định nội dung
tích hợp một cách hợp lý thì GV còn cần lựa chọn kiến thức và kĩ năng trọng tâm của bài học. Một
bài học có thể hướng tới việc cung cấp nhiều kiến thức, hình thành các kĩ năng khác nhau nhưng với
thời lượng có hạn của các giờ học trên lớp thì việc lựa chọn và nhấn mạnh tới kiến thức, kỹ năng
trọng tâm là điều rất cần thiết. Dạy học tích hợp không nằm ngoài định hướng đó. Mặt khác, như đã
nói ở trên, bản chất của dạy học tích hợp là phải đảm bảo rút ngắn thời gian học tập cho HS. Tức là
với lượng thời gian ít nhất mà HS có thể có được nhiều nhiều kiến thức và kĩ năng nhất. Vì vậy cần
tích hợp tối đa những kiến, kĩ năng mà HS đã có để tránh sự chồng chéo, dư thừa không cần thiết.
dung của phần Tiếng Việt, chúng ta nhận thấy có thể tích hợp Tiếng Việt với Làm văn qua các giờ
học bằng cách cho HS thực hành viết đoạn văn hoặc tự chữa lỗi trong các bài viết văn của mình.
Tích hợp trong nội bộ môn học còn đồng nghĩa với việc thực hiện tích hợp giữa Tiếng Việt
với Tiếng Việt. Trong thực tế có những kiến thức trong loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng
Việt lớp 10, HS đã được tìm hiểu ở các lớp học dưới. Vì vây, để tránh chồng chéo, lãng phí thời gian,
gây nhàm chán cho HS thì GV cần nghiên cứu kĩ chương trình để xác định phần kiến thức nào HS đã
được biết, nội dung nào cần được nhắc lại, phần nào cần bổ sung. Khi tích hợp với các kiến thức HS
đã được biết tức là chạm tới vùng phát triển gần sẽ gây được hứng thú học tập cho HS. Từ kiến thức
HS đã có liên hệ, mở rộng, dẫn dắt, định hướng để HS tự chiếm lĩnh những kiến thức mới.
2.2.1.2. Tích hợp liên môn
Với các môn học khác trong chương trình THPT, phân môn Tiếng Việt như đã trình bày trong
chương 1, giữ vai trò là “môn học công cụ” giúp HS tiếp nhận và diễn đạt tốt các thông tin khoa học
được giảng dạy ở nhà trường. Nói cách khác, để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, HS trước hết
phải nghiên cứu và rèn luyện năng lực sử dụng ngôn ngữ. Đây chính là chìa khoá nhận thức của học
vấn, của sự phát triển trí tuệ. Nếu GV thiếu quan tâm đúng mức đến việc rèn luyện năng lực ngôn
ngữ cho HS sẽ kiến các em không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của bất cứ bộ môn khoa học
nào trong nhà trường. Có thể thấy tích hợp Tiếng Việt với các môn học khác có thể tích hợp ở cả
mạch kiến thức và kĩ năng.
Về mặt kiến thức, phần ngữ liệu trong các bài học Tiếng Việt không chỉ có các văn bản văn
học mà còn sử dụng các văn bản của nhiều ngành khoa học khác. Qua nội dung của các văn bản đó
sẽ cung cấp cho HS kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau. Hoặc qua việc giải thích thuật ngữ của
một chuyên ngành nào đó cũng sẽ giúp HS hiểu thêm kiến thức về lĩnh vực ấy. Về mặt kỹ năng, mục
tiêu của phần Tiếng Việt là hình thành và rèn luyện cho HS bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Đây là
bốn kĩ năng thiết yếu trong hoạt động giao tiếp của HS. Dạy học cũng là một hoạt động giao tiếp. Do
đó HS muốn học tập tốt bất kì một môn học nào cũng cần thực hiện tốt cả bốn kĩ năng này.
Nói đến quan hệ liên môn, còn phải chú ý đến tác dụng trở lại của các môn học khác với
Tiếng Việt. Tri thức khoa học của các môn học khác được thể hiện thông qua hệ thống các khái niệm
và thuật ngữ khoa học. Học tập các môn khoa học, HS đồng thời học các hệ thống thuật ngữ tương
ứng và sử dụng các thuật ngữ đó. Nói cách khác vốn từ ngữ của HS sẽ được làm giàu thêm thông qua
các môn học khác trong nhà trường. Mặt khác, việc tiếp xúc với nhiều môn học, HS sẽ thấy được
các kiến thức đã được học.
Đối với việc kiểm tra kiến thức Tiếng Việt 10 theo hướng tích hợp có thể tóm lược hệ thống
câu hỏi kiểm tra như sau:
- Nhận biết khái niệm các đơn vị Tiếng Việt đã học
- Nhận diện các đơn vị Tiếng Việt trong văn bản đọc - hiểu và trong các tình huống sử dụng
khác.
- Hiểu và phân tích vai trò và cách sử dụng của chúng.
Để kiểm tra kĩ năng thực hành, vận dụng cần phải hiểu rằng năng lực tiếng Việt của HS được
thể hiện qua các kĩ năng mà HS có được từ các bài học về tiếng Việt. Những kĩ năng này không chỉ
bộc lộ trong việc thực hành các bài học tích hợp của chương trình mà còn thể hiện trong việc ứng
dụng vào các tình huống đa dạng của cuộc sống. Các kĩ năng cơ bản của Tiếng Việt mà HS lớp 10
cần có là: kĩ năng nhận diện để giải mã được các biện pháp tu từ được sử dụng, kĩ năng phân tích để
thấy được giá trị biểu đạt của các biện pháp tu từ, kĩ năng vận dụng từ ngữ, phong cách ngôn ngữ để
đọc hiểu văn bản, kĩ năng giao tiếp và kĩ năng tạo lập văn bản. Những kĩ năng này không chỉ được
hình thành trong giờ Tiếng Việt mà cả trong các giờ đọc hiểu và Làm văn (bởi năng lực bao trùm
môn Ngữ văn là năng lực sử dụng tiếng Việt). Do vậy, việc kiểm tra Tiếng Việt cần kết hợp chặt chẽ
với đọc - hiểu và tạo lập văn bản. Các câu hỏi kiểm tra cần theo mức độ khó tăng dần để để đánh giá
khả năng của HS một cách đầy đủ, chính xác từ những câu hỏi nhận diện các đơn vị Tiếng Việt trong
văn bản đến phân tích, lí giải về sự phù hợp của chúng, từ việc hỏi về sự vận dụng các kĩ năng tiếng
Việt theo từng bài học đến việc đánh giá và lựa chọn các đơn vị Tiếng Việt trong khi tạo tạo lập các
văn bản theo các phương thức biểu đạt khác nhau.
Có thể tóm lược hệ thống câu hỏi tích hợp kiểm tra kĩ năng thực hành tiếng Việt như sau:
- Vận dụng kiến thức Tiếng Việt trong đọc hiểu văn bản
- Vận dụng trong việc tạo lập đoạn văn, bài văn
- Vận dụng trong giao tiếp, hội thoại.
Hoạt động kiểm tra đánh giá theo quan điểm tích hợp sẽ giúp kiểm tra kiến thức được toàn
diện hơn, có thể thực hiện theo hình thức vấn đáp hoặc kiểm tra viết.
Đối với hình thức kiểm tra vấn đáp có thể sử dụng trong kiểm tra bài cũ hoặc trong qua trình
dạy bài mới có nội dung cần tích hợp với kiến thức đã được học.
Kiểm tra bài cũ là bước đầu tiên trong tiến trình tổ chức hoạt động dạy học một cách cụ thể.
hợp trong dạy học loại bài thực hành kĩ năng sử dụng Tiếng Việt lớp 10. Để kiểm chứng một cách
đầy đủ và hiệu quả toàn bộ quá trình vận dụng tích hợp vào dạy loại bài thực hành kĩ năng sử dụng
Tiếng Việt lớp 10 cần phải có một quy trình thực nghiệm quy mô, lâu dài với rất nhiều công đoạn
phức tạp. Trong khuôn khổ đề tài một luận văn, chúng tôi khồng có điều kiện thực hiện tất cả các quy
trình thực nghiệm. Do vậy, luận văn chỉ tiến hành một số thử nghiệm với mục đích những gì được
tiến hành và phân tích sẽ là những kết quả bước đầu có tính chất định hướng cho những bước tiếp
theo.
3.1.1. Mục đích thực nghiệm
Việc thực nghiệm được tiến hành nhằm hướng tới những mục đích sau đây:
Thứ nhất, luận văn triển khai thực nghiệm nhằm kiểm nghiệm sự phù hợp của việc đề xuất
một số biện pháp tích hợp để vận dụng dạy học loại bài thực hành kĩ năng sử dụng Tiếng Việt lớp 10
được đưa ra trong luận văn. Với mục đích này chúng tôi lựa chọn tiết 43: Thực hành biện pháp tu từ
ẩn dụ và hoán dụ trong chương trình Ngữ Văn lớp 10, thiết kế giáo án theo hướng vận dụng biện
pháp tích hợp và thử nghiệm cho một số đối tượng HS; thông qua phân tích, xử lý bảng hỏi và kết
quả kiểm tra của HS để xem xét khả năng đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu dạy học theo chuẩn kiến
thức kĩ năng của môn học.
Thứ hai, qua việc thu nhận những thông tin phản hồi từ phía GV và HS về vấn đề vận dụng
biện pháp tích hợp vào dạy học loại bài thực hành kĩ năng sử dụng Tiếng Việt lớp để phân tích, đánh
giá tính khả thi và giá trị thực tiễn của việc vận dụng tích hợp vào dạy học loại bài thực hành Tiếng
Việt lớp 10 đặc biệt là quy trình biên soạn một giờ học theo định hướng tích hợp để có những giải
pháp nhằm bổ sung, hoàn thiện và từng bước nâng cao chất lượng của các tiết học thực hành Tiếng
Việt.
3.1.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
Đối tượng chọn để tiến hành thực nghiệm là học sinh 2 lớp 10 ở trường THPT Trung Văn, từ
Liêm, Hà Nội. Lớp 10CB1 và 10CB2 đây là 2 lớp học có sức học đồng đều nhau, học theo chương
trình chuẩn.
3.1.3. Nội dung và các bước tiến hành triển khai thực nghiệm
Việc thực nghiệm đã được tiến hành theo các nội dung sau:
Bƣớc 1: Tổ chức dạy thực nghiệm:
Luận văn tiến hành dạy học thực nghiệm bài: Thực hành biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ.
Loại Khá
Loại
Trung
Loại yếu
Loại Kém
Bình
Thực
nghiệm
50
23 HS
46 %
18 HS
36 %
8 HS
16 %
0 HS
0 %
0 HS
0 %
Đối
chứng
50
14 HS
28 %
14 HS
28 %
18 HS
36 %
4 HS
8 %
2 %
0
0 %
82% số học sinh tỏ ra rất hứng thú với giờ học mà các em đã học chứng tỏ hiệu quả của việc
vận dụng biện pháp tích hợp vào dạy học đã tạo được hứng thú học tập cho HS.
Với câu hỏi thứ 2, khi hỏi về mức độ hứng thú của học sinh thay đổi thế nào giữa việc học
trong giờ học tiếng Việt có tích hợp với kiến thức của phần Văn, Làm văn và kiến thức trong các
môn học khác thì hầu hết học sinh đều chọn phương án: Hứng thú đã tăng lên (với 45 học sinh lựa
chọn trên tổng số 50 em). Như vậy, giờ học đã thực sự làm các em cảm thấy thích thú và hơn hết là
làm biến chuyển một năng lực quan trọng ở các em, năng lực hứng thú nhận thức.
Đồng thời qua việc quan sát giờ học chúng tôi nhận thấy, trong giờ học có vận tích hợp HS
sôi nổi, tích cực tham gia phát biểu hơn là trong giờ học theo truyền thống.
Trên đây là một số vấn đề lí luận và biện pháp vận dụng tích hợp vào dạy học loại bài thực
hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn 10 mà chúng tôi đề ra và tiến hành thực
nghiệm. Qua đó có thể khẳng định vận dụng tích hợp vào dạy học loại bài thực hành tiếng Việt lớp
10 nói riêng và phân môn TiếngViệt nói chung theo quan điểm tích hợp là cần thiết. Tuy nhiên, cũng
phải khẳng định rằng, không có một biện pháp hay phương pháp nào là vạn năng có thể đáp ứng mọi
yêu cầu của dạy học Tiếng Việt nói chung, dạy học loại bài thực hành tiếng Việt lớp 10 nói riêng.
Mỗi một biện pháp đều có ưu điểm, nhược điểm riêng, điều quan trọng là chúng ta phải biết lựa chọn
và sử dụng kết hợp các biện pháp dạy học khác nhau như thế nào để có hiệu quả nhất. Điều này còn
tùy thuộc vào khả năng nghiệp vụ sư phạm và chuyên môn của mỗi giáo viên.
KẾT LUẬN
1.1. kết luận
Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết và dựa trên kết quả thực nghiệm, chúng tôi xin nêu ra một số
kết luận sau:
Thứ nhất: Vận dụng biện pháp tích hợp vào dạy học loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng
Việt đem lại hiệu quả cao. Nếu với cách dạy theo truyền thống, khiến giờ học Tiếng Việt trở nên khô
khan, HS không hứng thú, chưa nhận thấy được vai trò quan trọng của nội dung thực hành thì bằng
việc vận dụng tích hợp vào dạy học làm cho HS thực sự say mê, thích thú với tiết học. Vì thế HS chủ
1. TÀI LIỆU TRONG NƯỚC
1. Bộ giáo dục & Đào tạo (2006), SGK Ngữ văn 10, tập 1 – 2, Nhà xuất bản Giáo dục.
2. Bộ giáo dục & Đào tạo (2002), Chương trình THCS môn Ngữ văn, Nhà xuất bản Giáo dục.
3. Bộ giáo dục & Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, Nhà xuất bản
Giáo dục.
4. Bộ giáo dục & Đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Ngữ văn 10, Nhà xuất bản Giáo
dục.
5. Bộ giáo dục & Đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Ngữ văn 10 – chương trình
nâng cao, Nhà xuất bản Giáo dục.
6. Bộ giáo dục & Đào tạo (2010), Hướng dẫn chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ văn 10, Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam.
7. Bộ giáo dục & Đào tạo (2006), Sách giáo viên Ngữ văn 10, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục
8. Bộ giáo dục & Đào tạo (2006), Sách giáo viên Ngữ văn 10, tập 2, Nhà xuất bả Giáo dục
9. Bộ giáo dục & Đào tạo (2002), Sách giáo viên Ngữ văn 10, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục.
10. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa
thông tin
11. Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa (2003), Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm
văn học, Nhà xuất bản Đại học sư phạm.
12. Đỗ Việt Hùng (2011), Nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
13. Nguyễn Thanh Hùng (2006), “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn”, Tạp chí Khoa học Giáo dục
(6)
14. Nguyễn Thanh Hùng (2009), Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại
học Sư phạm Hà Nội.
15. Trần Bá Hoành (2006), “Dạy học tích hợp”, Tạp chí Khoa học Giáo dục (12)
16. Phan Trọng Luận (2006), “Về chương trình Ngữ văn và sách giáo khoa chuẩn lớp 10”, Dạy và
học ngày nay (6).
17. Đoàn Kim Nhung (2006), Phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS theo hướng tích hợp và tích
cực, Nhà xuất bản ĐHQG TP. Hồ Chí Minh.
18. Đỗ Chu Ngọc (2003), “Chống tích hợp trong dạy học Ngữ văn mà không hiểu ngữ, không hiểu
văn, không hiểu tích hợp”,Tạp chí Thế giới trong ta, (1).