Khái quát chung về thị trường Chứng khoán - Pdf 10

phần I
khái quát chung về thị trờng chứng khoán
1. lịch sử hình thành và phát triển của thị trờng chứng khoán.
Bắt đầu từ thời Trung cổ ở một số nớc phơng Tây đã xuất hiện những hình thức
sơ khai của thị trờng chng khoán. Những thành phố có vị trí địa lí thuận lợi các lái
buôn và các thơng gia đã tụ họp trong các phiên chợ để thơng lợng trao đổi hàng
hoá. Các cuộc trao đổi này chỉ có trao đổi miệng với nhau chứ không cần giấy tờ
cũng không cần có hàng hoá hay mẫu mã trớc mắt. Mới đầu chỉ là các cá nhân
riêng lẻ sau đó tụ họp thành chợ hàng hoá về sau nó trở thành một thị trờng.
Phiên họp đầu tiên của thị trờng chứng khoán diễn ra vào năm 1453 tại một
quảng trờng gần ngôi nhà của một nhà buôn môi giới mang tên Vander Burse tại
thành phố Bruges của nớc Bỉ. Tuy nhiên đến năm 1547 thị trấn Brugesmaats đi sự
phồn vinh bởi vì eo biển Evin, cửa biển nơi dãn các con tàu thuyền vào buôn bán ở
thị trấn này đã bị cát biển lấp mất.
Lần đầu tiên vào năm 1531 ở Anvers một thành phố cổ của Bỉ đã triển khai các
nghiệp vụ về chứng khoán. Thị trờng này khá phát triển cho đến khi Tây Ba Nha
xâm chiếm Anvers các vua chúa Tây Ba Nha và Pháp chấm dứt trả nợ thị trờng
chứng khoán dần suy sụp vào cuối thế kỷ thứ XVI. Theo hình mẫu của thị trờng
chứng khoán Anvers ngời ta lập thị trờng chứng khoán ở các thành phố: Lion
(Pháp-1545), Luân đôn (Anh-1566)... và Amtécđam (Hàlan-1608).
Vào thế kỷ XVIII thị trờng chứng khoán Amtécđam có tới 44 loại chứng khoán
đợc gioa dịch bao gồm cả cổ phiếu và trái phiếu. ở Anh sở giao dịch vốn xuất hiện
vào năm 1773, ở Mỹ thị trờng chứng khoán đợc hình thành vào năm 1792.
Nhìn chung thị trờng chứng khoán phát triển khá mạnh vào nửa cuối thế kỷ
XIX trong mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển nội thơng và ngoại thơng. Từ
2

thế kỷ thứ XX thị trờng chứng khoán Niu Yoóc đóng vai trò quan trọng nhất
(1990-giá trị giao dịch 397,7 tỷ USD), quy mô lớn thứ hai là Tokyo (1990-giá trị
gao dịch 300 tỷ USD). Nhng đến năm 1929 cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã
làm cho thị trờng chứng khoán NiuYóoc, thị trờng chứng khoán Tây Âu, Bắc Âu

2.1.1. Thị trờng sơ cấp: là thị trờng chứng khoán đợc phát hành ra lần đầu,
nhằm mục đích:
- Tạo lập doanh nghiệp cổ phần.
- Doanh nghiệp huy thêm vốn.
- Các cấp chính quyền phát hành kỳ phiếu...
Trên thị trờng sơ cấp phát hành lần đầu các chứng khoán đa vào lu thông, đó là
giai đoạn động viên vốn tài chính. Việc phát hành lần đầu các chứng khoán là giai
đoạn phức tạp nhất, vì nếu xác định không đúng các điều kiện phát hành có thể
làm cho chứng khoán không tiêu thụ đợc và gây mất uy tín cho ngời phát hành. Do
vậy, đại đa số trờng hợp tổ chức phát hành chứng khoán đều có sự tham gia của
ngân hàng đầu t, các ngân hàng khác và các công ty chuyên doanh.
Trên thực tế có nhiều cách phát hành chứng khoán, song phổ biến nhất là qua
giao dịch chứng khoán, qua Ngân hàng, qua cách bán đấu giá hay bán trực tiếp
cho các nhà đầu t. Có cả công bố trên boá chí và phát thanh có sự thoả thuận trớc
với các nhà đầu t.
Việc lôi quấn đợc các ngân hàng có uy tín vào mua trái phiếu là rất quan trọng
vì danh tiếng của họ khi quảng cáo phát hành sẽ đảm bảo chắc chắn, hấp dẫn đối
với các nhà đầu t.
Tuỳ thuộc cung - cầu, giá chứng khoán ở thị trừơng sơ cấp có thể cao hơn hoặc
thấp hơn giá danh nghĩa. Có loại trái phiếu đợc thu nhập ấn định sẵn so với giá
danh nghĩa và ấn định thời hạn lu hành. Ngoài ra với loại chứng khoán
4

thanh toán thu nhập bình thờng, thì giá trị thị trờng phụ thuộc vào thời gian ngắn
lúc thanh toán.
2.1.2. Thị trờng thứ cấp:
Là các loại chứng khoán đợc phát hành ( qua thị trờng sơ cấp ) đợc mua đi bán
lại. Các nhà đầu t có thể bán chứng khoán vào bất cứ lúc nào, hình thức này linh
hoạt, mềm dẻo hơn so với tín dụng thông thờng.
Thị trờng thứ cấp có một số dạng: Sở giao dịch chứng khoán thông thờng, "thị

công của thị trờng sơ cấp. Nh vậy, thị trờng chứng khoán bao gồm cả hai thị trờng
thứ cấp và sơ cấp.
2.2. Các loại chứng khoán đợc mua bán trên thị trờng chứng khoán.
Chứng khoán là một danh từ chung để chỉ các loại chứng th: cổ phiếu, trái
phiếu..
2.2.1. Cổ phiếu:
Cổ phiếu là loại chứng th chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông với một
doanh nghiệp cổ phần. Cổ đông là ngời có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.
Ngời có cổ phiếu có các quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty, đợc chia
lãi theo kết quả kinh doanh, đợc quyền bầu cử, ứng cử vào ban quản lý và phải
chịu trách nhiệm về sự lỗ lãi, phá sản của công ty.
Cổ phiếu có thể đợc phát hành lúc vận động thành lập công ty, hoặc lúc công
ty cần gọi thêm vốn để mở rộng, hiện đại hoá sản xuất kinh doanh.
Đặc tính của cổ phiếu là chủ sở hữu có thể đợc hởng lợi nhiều hơn giá trị ghi
trên cổ phiêú (mệnh giá) nhng cũng có thể không đợc chia lời, thậm chí mất luôn
cả số vốn đã bỏ ra, nếu công ty làm ăn không có hiệu quả. Tóm lại, lợi ích của ng-
ời có cổ phiếu hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty.
2.2.2. Trái phiếu: Khác với cổ phiếu trái phiếu đem lại cho ngời đầu t ,t cách
chủ nợ của công ty (trái phiếu công ty) hay chính phủ (trái phiếu chính
6

phủ). Ngời vay là ngời phát hành trái phiếu sẽ cam kết với chủ nợ ba điều chủ yếu
hay là ba thông số chính của một trái phiếu đó là:
1 - Mệnh giá cổ phiếu: Khoản vay sẽ đợc hoàn trả khi trái phiếu đến hạn.
Mệnh giá của trái phiếu có thể chính là giá bán cũng có thể cao hơn hay thấp hơn.
2 - Lãi suất cuống phiếu: Là tỷ lệ lãi hàng năm ổn định trên mệnh giá trái
phiếu. Lãi suất này cố trong suốt thời hạn của trái phiếu và có thể đợc thanh toán
mỗi năm một lần hay nhiều lần tuỳ thoả thuận.
3 - Thời hạn của trái phiếu: Tại thời điểm mà bên phát hành phải hoàn tất
việc thanh toán các khoản lãi định kỳ đồng thời hoàn trả mệnh giá trái phiếu. Thị

2.3.2. Nguyên tắc định giá của mua bán chứng khoán.
Việc định gía chứng khoán trên thị trờng chứng khoán hoàn toàn thuộc về các
nhà kinh kỹ. Mỗi kinh kỹ định giá mỗi loại chứng khoán tại một thời điểm tuỳ
theo sự xét đoán, kinh nghiệm và kỹ thuật riêng của mình và tuỳ thuộc vào số
cung cầu chứng khoán có trên thị trờng.
Việc định giá chứng khoán đợc thực hiện qua một sự thơng lợng giữa những
kinh kỹ cần mua và những kinh kỹ cần bán. Giá cả chứng khoán sẽ đợc xác định
khi hai bên đã thống nhất. Tất cả các thành viên có liên quan trên thị trờng chứng
khoán không ai có thể can thiệp về sự tác động qua lại của số cung và cầu, và
cũng không ai có quyền định giá chứng khoán một cách độc đoán. Vì thế ngời ta
nói thị trờng chứng khoán là thị trờng tự do mang tính tự do nhất trong các loại thị
truờng.
2.3.3. Nguyên tắc công khai của thị trờng chứng khoán.
Tất cả các hoạt động trên thị trờng chứng khoán đều đợc công khai hoá. Các
loại chứng khoán đợc đa ra mua bán trên thị trờng chứng khoán, tình hình tài
chính và kết quả kinh doanh của các công ty phát hành số lợng chứng khoán và
giá cả từng loại chứng khoán (giá rao bán, giao mua, giá kết thúc của phiên giao
dịch và giá cả trớc đó) đều đợc thông báo thông qua thị trờng và báo cáo. Khi kết
thúc một cuộc giao dịch, số lợng chứng khoán đợc mua bán
8

và giá cả đã thống nhất đợc lập tức thông báo ngay. Đó là nguyên tắc công khai
của thị trờng chứng khoán nhằm đảm bảo quyền lợi cho ngời mua bán chứng
khoán không bị "hớ" trong mua bán chứng khoán, ngời mua chứng khoán dễ dàng
chọn lựa loại chứng khoán theo ý thích của mình.
2.4. Các chủ thể tham gia thị trờng chứng khoán.
2.4.1. Nhà phát hành chứng khoán.
Là những ngời muốn huy động vốn trên thị trờng bằng cách phát hành và bán
các chứng khoán bao gồm các công ty chính phủ và các chính qutền địa phơng.
Các công ty muốn huy động vốn đầu t thờng phát hành trái phiếu công ty hoặc cổ

nhà đầu t và nhà kinh doanh chứng khoán về tình hình cung - cầu, thị giá của
chứng khoán trên thị trờng mình và trên thị trờng chứng khoán hữu quan.
Thứ t : Thị trờng chứng khoán đảm bảo cho các loại chứng khoán đợc phép lu
hành có nơi mua bán thuận tiện theo quy luật cung cầu nh mọi hàng hoá khác.
3.2. Vai trò của thị trờng chứng khoán.
3.2.1. Những mặt tích cực.
Thứ nhất: Là công cụ khuyến khích dân chúng tiết kiệm và sử dụng nguồn
vốn tiếc kiệm vào công cuộc đầu t: Thị trờng chứng khoán ra đời tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp, các cơ sở tài chính, tín dụng huy động dài hạn nguồn vốn tiết
kiệm và để dành trong dân chúng. Vì thị trờng chứng khoán, một định chế giải
quyết đợc các yếu điểm các tổ chức tài chính tín dụng: Ngời có chứng khoán khi
cần tiền có thể đa chứng khoán ra thị trờng bán lại.
Thứ hai: Giúp Nhà nớc thực hiện chơng trình phát triển xã hội: Bất cứ nhà n-
ớc nào cũng phải có ngân sách để thực hiện chơng trình phát triển kinh tế
10

xã hội. Để có vốn cho chi tiêu Nhà nớc phải thu thuế, thu phí...Nhng thông thờng
không đủ chi tiêu do đó Nhà nớc phải phát hành chứng khoán (trái phiếu) trên thị
trờng chứng khoán _một hình thức Nhà nớc vay tiền của dân.
Thứ ba: Là công cụ giảm áp lực lạm phát: Ngân hàng Nhà nớc với vai trò điều
hoà lu thông tiền tệ, khi xuất hiện hiện tợng lạm phát Ngân hàng Nhà nớc sẽ đa ra
bán các loại kỳ phiếu trên thị trờng chứng khoán với laĩ suất cao để thu hút bớt số
tiền lu thông từ đó làm giảm lạm phát.
Thứ t : Thu hút vốn từ nớc ngoài: Thông qua thị trờng chứng khoán các nhà
đầu t nớc ngoài có thể bỏ vốn đầu t bằng cách mua bán chứng khoán ăn chênh
lệch hoặc các doanh nghiệp trong nớc thành lập công ty cổ phần rồi đem bán cổ
phần trên thị trờng chứng khoán. Nh vậy thu hút vốn đầu t nớc ngoài qua thị trờng
chứng khoán là một phơng thức đầu t rất hữu hiệu.
Thứ năm: Thị trờng chứng khoán lu động hoá mọi nguồn vốn trong nớc, các cổ
phiếu, trái phiếu tợng trng cho một số vốn đợc mua đi bán lại trên thị trờng chứng

cách giả tạo, dẫn đến giá cả chứng khoán tăng gấp nhiều lần giá trị chính thức của
nó. Khi sự việc đợc làm sáng tỏ thì hầu hết các loại chứng khoán đều đợc đăng ký
bán ra nhng không có ngời mua dẫn đến sự sụp đổ của thị trờng chứng khoán.

phần II
12

thực trạng và phơng hớng để tiếp tục
phát triển thị trờng chứng khoán ở việt nam.
1. Thực trạng thị trờng chứng khoán việt nam
trong thời gian quA.
Sự ra đời và đi vào hoạt động của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 đã đánh dấu một bớc tiến quan trọng trong quá
trình xây dựng đồng bộ và hoàn thiện thị trờng tài chính ở Việt Nam. Đây là sự
kiện có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế Việt nam, mở ra một kênh huy
động vốn trung và dài hạn mới bên cạnh hệ thống nhân hàng khẳng định quyết
tâm của Đảng, Nhà nớc thực hiện đờng lối "xây dựng thể chế kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa". Tuy quy mô thị trờng còn nhỏ bé vai trò tác động
đến nền kinh tế cha lớn nhng đây là bớc thí điểm, tập dợc quan trọng để các cơ
quan quản lý điều hành, các tổ chức quốc gia thị trờng và công chúng đầu t làm
quen với một lĩnh vực đầu t mới, điều đó tạo nên tiền đè vững trắc cho sự phát
triển lành mạnh và ổn định của thị trờng chứng khoán Việt nam.
1.1. Tình hình biến động của thị trờng chứng khoán.
Ngày 20/07/2000 Trung tâm Giao dịch chứng khoán đầu tiên ở Việt nam
chính thức khai trơng đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Và trung tâm thực hiện
phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000. Đến nay Trung tâm đã hoạt động đ-
ợc gần 3 năm. Vậy trong gần 3 năm qua hoạt động thị trờng chứng khoán Việt
nam biến động nh thế nào? Giá cả và khối lợng hàng hoá biến động ra sao? Và
đến nay đã đạt đợc những kết quả và có những hạn chế gì?... Để giải đáp đợc
những câu hỏi này theo ý kiến chủ quan của tôi sự biến động của thị trờng chứng

27/10/2000
Tỷ lệ tăng
(%)
REE
SAM
HAP
TMS
LAF
16.000
17.000
16.000
14.000
17.000
28/07/2000
28/07/2000
04/08/2000
04/08/2000
15/08/2000
19.100
22.800
25.000
19.500
20.500
19,4
34,1
56.25
16
20
Qua bảng số liệu trên nhận thấy giá cả của tất cả 5 loại cổ phiếu đều tăng hớng
tốt phản ánh đúng cung cầu thị trờng và tâm lý ngời đầu t. Vậy tại sao lại có sự

đồng. Trái phiếu phát hành thông qua đấu thầu tại Trung tâm Giao dịch chứng
15

Trích đoạn Những phơng hớng để tiếp tục hoàn thiện và phát triển thị tr ờng chứng khoán Việt nam.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status