Quản lý nhà nước Về thị trường chứng khoán. - Pdf 61

QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, thời đại của chúng ta là thời đại mang xu hướng toàn cầu hoá và
khu vực hoá. Hoà nhập với không khí này, Việt nam vừa gia nhập và là thành
viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Khi được trở thành viên của tổ chức
thương mại thế giới thì đồng nghĩa Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn và đồng
thời cũng gặt hái được nhiều thành công. Để thu được kết quả tốt từ quá trình
hội nhập chúng ta phải đánh giá, nhận định về cơ hội cũng như là thách thức
đang đặt ra, chúng ta phải biết đâu là thế mạnh mình phải phát huy và đâu là
điểm yếu cần phải khắc phục. Và đặc biệt hơn nữa chúng ta phải nhận định được
xu hướng đi chung của Thế giới, những yếu tố nào các nước đang chú trọng.
Chính vì điều đó, mà em thấy rằng thị trường chứng khoán trên thế giới
hiện nay là một trường nóng bỏng và có nhiều triển vọng đi lên. Nó không chỉ là
một kênh huy động vốn có hiệu quả cho hoạt động đầu tư trong nền kinh tế mà
còn là nhân tố thúc đẩy hoạt động của nền kinh tế diễn ra suôn xẻ hơn. Cho nên
em chọn đề tài luận văn là “QLNN Về thị trường chứng khoán”.
Đối tượng của đề tài
Vai trò của Nhà nước trong quản lý các hoạt động của TTCK Việt Nam. Vai trò
này được biều hiện qua các hoạt động cụ thể của Nhà nước trong quản lý các hoạt động
của TTCK
Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá và làm rõ một số một số nội dung cơ bản về TTCK, và
QLNN đối với TTCK.
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động QLNN đối với TTCK Việt Nam
trong thời gian qua, từ đó chỉ ra các kết quả đạt được và hạn chế.
1
Ngô Văn Thắng KH5B
1
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
-Nghiên cứu mô hình cơ quan quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán
Việt Nam; đồng thời đề xuất giải pháp để nâng cao vai trò QLNN đối với TTCK Việt

hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành”.
Chứng khoán là một tài sản tài chính và nó có các đặc điểm sau:
• Tính thanh khoản: Tính thanh khoản của tài sản là khả năng chuyển tài sản đó
thành tiền mặt. Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào cung cầu vốn; thời
gian, chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi.
• Tính rủi ro: Chứng khoán là tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác động lớn
của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống. Rủi ro có hệ
thống hay rủi ro thị trường là loại rủi ro tác động tới toàn bộ hoặc hầu hết các tài
sản. Loại rủi ro này chịu tác động của các điều kiện kinh tế chung của nền kinh
tế như: lạm phát, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất... Rủi ro không có hệ thống
là loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản hay một nhóm nhỏ các tài sản. Loại rủi
ro này thường liên quan tới điều kiện của nhà phát hành.
• Tính sinh lợi: Chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó, nhà đầu tư
có thể nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương lai. Thu nhập này được bảo
đảm bằng lợi tức được phân chia hàng năm và việc tăng giá chứng khoán trên thị
trường.
3
Ngô Văn Thắng KH5B
3
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
2. Phân loại chứng khoán
Tuỳ theo cách chọn tiêu thức, người ta có thể phân loại chứng khoán
thành nhiều loại khác nhau. Tuy nhiên ở đây, chứng khoán được chia thành ba
tiêu thức chủ yếu, đó là theo tính chất của chứng khoán, theo khả năng chuyển
nhượng và theo khả năng thu nhập.
2.1. Phân loại chứng khoán theo tính chất
Theo tính chất của chứng khoán, các loại chứng khoán được phân thành:
Chứng khoán vốn; chứng khoán nợ và chứng khoán phái sinh.
a. Chứng khoán vốn:
Chứng khoán vốn là chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu

với một cổ phiếu đang lưu hành, do công ty phát hành ra cổ phiếu đó để huy
động thêm vốn cổ phần, quyền mua trước cho phép người sở hữu những cổ phần
đang lưu hành được mua một số nhất định cổ phiếu trong đợt phát hành mới của
công ty, tại một mức giá xác định thấp hơn mức giá chào bán ra công chúng
trong một thời hạn nhất định.
• Chứng kế (bảo chứng phiếu)
Chứng kế hay còn gọi là bảo chứng phiếu (cam kết bán) là một loại
chứng khoán được phát hành cùng với trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi mà người
sở hữu nó có quyền được mua một số lượng chứng khoán nhất định tại một mức
giá xác định và trong một thời hạn nhất định.
• Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận giữa người mua và người bán thực
hiện một giao dịch hàng hoá ở một thời điểm chắc chắn trong tương lai với mức
giá và khối lượng xác định.
• Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai là một thoả thuận để mua hoặc bán một tài sản vào
thời điểm chắc chắn trong tương lai với mức giá xác định.
• Quyền chọn
Hợp đồng quyền chọn là một hợp đồng cho phép người nắm giữ được
mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán) một khối
5
Ngô Văn Thắng KH5B
5
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
lượng hàng hoá cơ sở nhất định tại một mức giá xác định trong một thời gian
nhất định.
2.2. Phân loại chứng khoán theo khả năng chuyển nhượng
Theo cách thức này chứng khoán được phân thành chứng khoán ghi danh
và chứng khoán vô danh
• Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không ghi tên chủ sở hữu

kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành. Việc phát hành loại chứng
khoán này nhằm để thích ứng với nhu cầu đặc biệt của thị trường vốn.
3.Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc
bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ
phiếu đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành.
Cổ phiếu là loại chứng khoà nó có những tính chất sau:
- Xác nhận việc đầu tư vốn vào tổ chức phát hành ra cổ phiếu
- Không có kỳ hạn, cổ phiếu tồn tại cùng với sự tồn tại của tổ chức phát
hành ra nó
- Có thể được phát hành khi thành lập tổ chức hoặc khi tăng vốn
- Người sở hữu cổ phiếu sở hữu một phần vốn/tài sản của tổ chức phát
hành và chịu trách nhiệm hữu hạn về tình hình hoạt động của tổ chức
đó
- Cổ phiếu có thể được chuyển nhượng
Căn cứ vào quyền lợi của người sở hữu cổ phiếu thì cổ phiếu có những
loại như sau:
- Cổ phiếu phổ thông: lợi tức phụ thuộc vào tình hình hoạt động kinh
doanh của tổ chức phát hành. Người sở hữu cổ phiếu là cổ đông và có quyền bỏ
phiếu bầu ra Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, các quyết định lớn trong hoạt
động kinh doanh của công ty theo chế độ Đại hội cổ đông.
- Cổ phiếu ưu đãi: cổ phiếu có những đặc quyền nhất định, chẳng hạn như
được hưởng lãi cố định, được ưu tiên chia lãi trước, được ưu tiên trong bỏ
7
Ngô Văn Thắng KH5B
7
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
phiếu….Cổ phiếu ưu đãi gồm có: cổ phiếu ưu đãi tích luỹ; cổ phiếu ưu đãi
không tích luỹ; cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi; cổ phiếu ưu đãi có quyền chuộc lại.
Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng thì cổ phiếu gồm:

phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường
tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của TTCK.
2. Vị trí và cấu trúc của thị trường chứng khoán
2.1. Vị trí của TTCK trong thị trường tài chính
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính. Vị trí
của thị trường chứng khoán trong tổng thể thị trường tài chính được thể hiện như
sau:
- Thị trường tài chính: Là nơi diễn ra sự chuyển vốn từ những người dư
thừa vốn tới những người thiếu vốn.
- Thị trường tiền tệ: là thị trường phát hành và mua bán lại các công cụ
tài chính ngắn hạn, thông thường dưới 1 năm như tín phiếu kho bạc, khoản vay
ngắn hạn giữa các ngân hàng, thoả thuận mua lại, chứng chỉ tiền gửi, thương
phiếu, …
9
Ngô Văn Thắng KH5B
Thị trường tài
chính
Thị trường tiền
tệ
Thị trường
vốn
Thị
trường
hối đoái
Thị
trường
bảo hiểm
Tín dụng
ngắn hạn
Thị

đoái, thị trường bảo hiểm đều nằm trong thị trường tài chính. Chúng có mối
quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau.
2.2. Cấu trúc của thị trường chứng khoán
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, cấu trúc của thị trường chứng khoán có
thể phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên, thông thường, ta có thể
xem xét 3 cách thức cơ bản là theo hàng hoá giao dịch trên thị trường, theo hình
thức tổ chức thị trường và theo quá trình luân chuyển vốn. Các phân tích sau đây
sẽ thể hiện từng cách thức phân loại đó.
a. Theo hàng hoá giao dịch trên thị trường
Theo các loại hàng hoá được mua bán trên thị trường, người ta có thể
phân chia thị trường chứng khoán thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ
phiếu và thị trường dẫn suất (thị trường các công cụ phái sinh).
10
Ngô Văn Thắng KH5B
10
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
• Thị trường trái phiếu là thị trường mà hàng hoá được mua bán tại đó là
các trái phiếu. Trái phiếu là công cụ nợ, mà thực chất của việc phát hành công cụ
này là phát hành đứng ra đi vay theo phương thức có hoàn trả cả gốc và lãi.
• Thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ có
xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông. Cổ đông là chủ sở hữu của công ty và
phải chịu trách nhiệm trong phần đóng góp của mình. Cổ phiếu sẽ cho phép họ
có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cũng như đối với tài
sản của công ty, khi tài sản này được đem bán. Cổ phiếu có thời gian đáo hạn là
không xác định.
• Thị trường công cụ dẫn suất là nơi các chứng khoán phái sinh được
mua và bán. Tiêu biểu cho công cụ này là hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền
chọn. Thị trường này ngày càng trở nên quan trọng đối với các nhà quản lý tài
chính. Nó cung cấp các công cụ phòng vệ hữu hiệu, đồng thời là công cụ đầu cơ
lý tưởng cho các nhà đầu tư.

thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp được xem là thị trường định giá các công
ty.
- Thông qua việc định giá, thị trường thứ cấp cung cấp một danh mục chi
phí vốn tương ứng với các mức độ rủi ro khác nhau của từng phương án đầu tư,
tạo cơ sở tham chiếu cho nhà phát hành cũng như các nhà đầu tư trên thị trường
sơ cấp. Thông qua cơ chế bàn tay vô hình, vốn sẽ được chuyển đến công ty nào
làm ăn có hiệu quả nhất, qua đó làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội.
Tóm lại, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có quan hệ mật thiết, hỗ
trợ lẫn nhau. Về bản chất, mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán sơ cấp và
thứ cấp là mối quan hệ nội tại, biện chứng. Nếu không có thị trường sơ cấp sẽ
không có thị trường thứ cấp, đồng thời, thị trường thứ cấp lại tạo điều kiện phát
triển cho thị trường sơ cấp.
c. Theo hình thức tổ chức của thị trường
Thị trường chứng khoán có thể được tổ chức theo hai cách sau:
• Thị trường giao dịch tập trung, thị trường được tổ chức thành sở giao dịch, tại
đây, người mua và người bán( hoặc đại lý, môi giới của họ) gặp nhau tại một địa
điểm nhất định để tiến hành giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán. Chính vì
vậy, người ta còn gọi sở giao dịch chứng khoán là sở giao dịch tập trung, nơi
giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có
hiệu quả.
12
Ngô Văn Thắng KH5B
12
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
• Thị trường giao dịch qua quầy hay thị trường giao dịch phi tập trung
(OTC: Over- The- Counter Market) là thị trường giao dịch của các nhà buôn,
những người tạo thị trường( Market Makers).
Ngoài hai thị trường nói trên, người ta còn nói đến thị trường thứ ba, thị
trường dành cho các chứngkhoán không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên thị
trường tập trung và thị trường OTC. Ngoài ra, người ta còn phân loại thị trường

- Các nhà đầu tư có tổ chức
Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán
chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp
chính trên thị trường chứng khoán là các ngân hàng thương mại, công ty chứng
khoán, công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ, các quỹ lương hưu
và các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư có ưu
điểm là đa dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện
bởi các chuyên gia có chuyên môn và có kinh nghiệm.
2.3.3. Các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán
a. Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động TTCK
Cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK do chính phủ của các nước thành
lập với mục đích bảo vệ lợi ích của người đầu tư và đảm bảo cho thị trường
chứng khoán hoạt động lành mạnh, an toàn và phát triển bền vững.
Cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán có thể có những
tên gọi khác nhau, tuỳ thuộc từng nước và nó được thành lập để thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán.
b. Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán thực hiện vận hành thị trường chứng khoán
thông qua bộ máy tổ chức và hệ thống các quy định, văn bản pháp luật về giao
dịch chứng khoán trên cơ sở phù hợp với các quy định của luật pháp và Uỷ ban
chứng khoán.
c. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản của các
công ty chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng
14
Ngô Văn Thắng KH5B
14
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
khoán, được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các thành viên và các
nhà đầu tư trên thị trường.

chữ số, tuỳ theo quy định của từng công ty xếp hạng.
2.4. Vai trò của thị trường chứng khoán
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực với sự ra đời của tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), của liên minh Châu Âu, của các khối thị trường
chung, đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu
quả cao. Thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã khẳng định vai
trò quan trọng của thị trường chứng khoán trong phát triển kinh tế:
Thứ nhất, thị trường chứng khoán, với việc tạo ra các công cụ tài chính
có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời
hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế.
Yếu tố thông tin và yếu tố cạnh tranh trên thị trường sẽ đảm bảo cho việc
phân phối vốn một cách có hiệu quả. Thị trường tài chính là nơi tiên phong áp
dụng công nghệ mới và nhạy cảm với môi trường thường xuyên thay đổi. Thực
tế trên thị trường chứng khoán, tất cả các thông tin được cập nhật và được
chuyển tải tởi tất cả các nhà đầu tư, nhờ đó, họ có thể phân tích và định giá cho
các chứng khoán. Chỉ những công ty có hiệu quả và bền vững mới có thể nhận
được vốn với chi phí rẻ trên thị trường.
Thị trường chứng khoán tạo ra một sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị
trường tài chính, điều này buộc các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài
chính phải quan tâm tới hoạt động của chính họ và làm giảm chi phí tài chính.
Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán có thể làm tăng vốn tự có
của các công ty và giúp họ tránh các khoản vay có chi phí cao cũng như sự
kiểm soát chặt chẽ của các ngân hàng thương mại. TTCK khuyến khích sự cạnh
tranh của các công ty trên thị trường. Sự tồn tại của thị trường chứng khoán
cũng là yếu tố quyết định để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đây chính là các
yếu tố đảm bảo cho sự phân bố có hiệu quả các nguồn lực trong một quốc gia
cũng như trong phạm vi quốc tế.
Thứ hai, TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn, thông
qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công chúng,
16

Thứ sáu, thị trường chứng khoán cung cấp một dự báo tuyệt vời về các
chu kỳ kinh doanh trong tương lai. Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hướng
đi trước chu kỳ kinh doanh cho phép chính phủ cũng như các công ty đánh giá
17
Ngô Văn Thắng KH5B
17
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
kế hoạch đầu tư cũng như việc phân bổ các nguồn lực của họ. Thị trường chứng
khoán cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế.
Ngoài những tác động tích cực trên đây, thị trường chứng khoán cũng có
những tác động tiêu cực nhất định. Thị trường chứng khoán hoạt động trên cơ sở
thông tin hoàn hảo. Song ở các thị trường mới nổi, thông tin được chuyển đổi tới
các nhà đầu tư không đầy đủ và không giống nhau. Việc quyết định giá cả, mua
bán chứng khoán của các nhà đầu tư không dựa trên cơ sở thông tin và xử lý
thông tin. Như vậy giá cả chứng khoán không phản ánh giá trị kinh tế cơ bản của
công ty và không trở thành cơ sở để phân phối một cách có hiệu quả các nguồn
lực .
Một số tiêu thức khác của thị trường chứng khoán như hiện tượng đầu cơ,
hiện tượng xung đột quyền lực làm thiệt hại quyền lợi của các cổ đông thiểu số,
việc mua bán nội gián, thao túng thị trường làm nản lòng các nhà đầu tư và như
vậy, sẽ tác động tiêu cực tới tiết kiệm và đầu tư. Nhiệm vụ của nhà quản lý thị
trường là giảm thiểu các tiêu cực của thị trường nhằm bảo vệ quyền lợi của các
nhà đầu tư và đảm bảo tính hiệu quả của thị trường.
Như vậy, vai trò của thị trường chứng khoán thể hiện trên nhiều khía
cạnh khác nhau. Song vai trò tích cực hay tiêu cực của thị trường chứng khoán
có thực sự phát huy hay hạn chế phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia thị
trường và sự quản lý của nhà nước.
III. Quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán
1. Khái niệm
Khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng hình thành. Trình độ

2. Mục tiêu quản lý nhà nước đối với TTCK
2.1.Đảm bảo sự trung thực của thị trường
Đặc tính của khu vực chứng khoán là rủi ro hệ thống, một biến cố nhỏ
cũng gây ra sự bất ổn cho nền kinh tế. Vì vậy, trong quản lý nhà nước, việc bảo
đảm tính trung thực, cạnh tranh lành mạnh của TTCK là mục tiêu quan trọng.
Một số hoạt động cần thiết nhằm giảm tối thiểu rủi ro hệ thống và khuyến khích
tham gia thị trường như:
19
Ngô Văn Thắng KH5B
19
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
+ Các biện pháp an toàn để đảm bảo khả năng thanh toán của một định
chế tài chính, từ đó duy trì lòng tin vào hệ thống tài chính nói chung và bảo vệ
những tiết kiệm cá nhân.
+ Khuyến khích các hệ thống thanh toán hiệu quả và ổn định, có thể
giảm việc tích tụ rủi ro cùng loại, tăng cường khả năng quản lý rủi ro của các
chế định chế tài chính riêng lẻ và ngăn chặn các ảnh hưởng dây chuyền cũng
như các vụ khủng hoảng tài chính.
+ Ngăn chặn các hành vi lừa đảo, lũng đoạn, giao dịch nôi gián và các vi
phạm khác có thể đe doạ tính trung thực của thị trường.
2.2. Đảm bảo sự công bằng
Sự công bằng là một phương tiện để bảo vệ sự cạnh tranh và đảm bảo tính
trung thực, lành mạnh của thị trường. Muốn hoạt động quản lý có hiệu quả cần
phải có biện pháp đảm bảo tính công bằng của TTCK. Các biện pháp sử dụng là:
+ Hạn chế độc quyền bằng việc ngăn chặn sự thống trị thị trường của các
thành viên lớn.
+ Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nhỏ và kém tinh thông nghiệp vụ đầu
tư vào các loại tài sản chính hợp lý với họ và bảo vệ họ khỏi các vi phạm của
các thành viên khác có thế lực trên thị trường.
2.3. Đảm bảo hiệu quả

các nhà quản lý phải tạo động lực thúc đẩy thị trường. Các chức năng này được
sử dụng vào hoàn cảnh khác nhau, tuy nhiên trong hoạt động quản lý Nhà nước
thì các chức năng này thường được áp dụng một cách đồng bộ.
Hoạt động quản lý nhà nước đối với TTCK được cụ thể hoá ở một số nhiệm
vụ sau:
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về TTCK; xây dựng chiến lược,
chính sách, kế hoạch hoạt động và phát triển TTCK với từng bước đi cụ thế và
thích hợp với điều kiện văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, dân trí và các điều
kiện khác.
- Cấp, gia hạn, đìng chỉ, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến việc phát
hành, niêm yết, kinh doanh và dịch cụ chứng khoán và thu lện phí cấp giấy phép
theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức và quản lý TTGDCK có tổ chức và các tổ chức trung gian, tổ chức
phụ trợ hoạt động trên TTCK.
21
Ngô Văn Thắng KH5B
21
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
- Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của TTCK như: cơ quan quản lý Nhà
nước, SGDCK, TTGDCK, TTLKCK, CtyCK, CtyQLQ…
- Xây dựng sự phối hợp giữa các tổ chức, các cá nhân là thành viên tham gia
TTCK để tạo được sự thống nhất trong mọi hoạt động của TTCK.
- Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trên TTCK như mua bán gian lận,
đầu cơ,…Mặt khác, tạo các điều kiện thuận lợi, khuyến khích những hoạt động
tiêu cực trên thị trường.
- Thực hiện công tác kiểm tra định kỳ, bất thường nhằm phát hiện các hành
vi vi phạm pháp luật, thực hiện tổng kết thống kê nhằm tổng hợp hoạt động của
thị trường.
4. Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý TTCK
4.1. Nguyên tắc thống nhất quản lý về chính trị và kinh tế

nó mang tính hiệu quả. Hiệu quả là kết quả cuối cùng của hoạt động được đo
bằng giá trị, vật phẩm, thời gian tác động,…Tiết kiệm và hiệu quả luôn đi với
nhau và nó là thước đo để đánh giá kết quả cuối cùng của quản lý.
TTCK là mô hình tiêu biểu nhất về tính hiệu quả vì bản thân TTCK đã mang
trong nó tính tiết kiệm chi phí và nhằm tới hiệu quả kinh tế cao nhất vì đây là
môi trường thuận lợi nhất cho các nguồn vốn từ các nhà đầu tư được trực tiếp
đưa đến nơi cần vốn. Quá trình đầu tư thông qua TTCK được thực hiện với chi
phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao. Vì vậy, đảm bảo nguyên tắc này trong
TTCK tức là đảm bảo cho TTCK được hoạt động tự nhiên và phát huy những
chức năng vốn có của nó. Nguyên tắc này được coi là tiêu chí áp dụng cho bất kì
chính sách nào bởi mỗi chính sách đem lại lợi ích cũng kèm theo đó là chi phí.
Nếu chi phí lớn hơn lợi ích đem lại thì việc áp dụng các chính sách đó là không
có tác dụng.
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động QLNN đối với TTCK
Hoạt động QLNN đối với TTCK chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau,
bao gồm:
- Các nhân tố kinh tế: quá trình QLNN đối với TTCK chịu ảnh hưởng chi
phối của các yếu tố kinh tế như: quy mô kinh tế, trình độ phát triển nền kinh tế,
…Sự đa dạng về hình thức tồn tại và tính phức tạp trong hoạt động của các
thành phần kinh tế tham gia TTCK sẽ đặt ra yêu cầu đối với công tác QLNN là
phải có các chính sách, biện pháp phù hợp để dung hoà lợi ích của các thành
phần này khi khai thác tối đa thế mạnh của họ.
23
Ngô Văn Thắng KH5B
23
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
- Các nhân tố về chính trị và thể chế Nhà nước: thể chế chính trị và đường
lối lãnh đạo của Đảng cầm quyền của một nước chi phối đến mục tiêu, phương
hướng xây dựng và phát triển TTCK nước đó. Bên cạnh đó, sự ổn định hay bất
ổn về mặt chính trị sẽ có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình phát

24
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
TTCK…Trong đó yếu tố lịch sử thường đặt ra các vấn đề về cải cách và hoàn
thiện mô hình và tổ chức quản lý.
6. Các biện pháp quản lý nhà nước đối với TTCK
Biện pháp quản lý là tổng thể những cách thức tác động đến cá nhân hay tập
thể nhằm khuyến khích họ thực hiện tốt công việc. Khác với nguyên tắc quản lý
là những yêu cầu bắt buộc phải tuân theo thì biện pháp quản lý là những cách
thức linh hoạt mà người quản lý có thể tuỳ chọn và sử dụng phối hợp theo ý
mình nhằm tạo ra hiệu quả quản lý cao nhất. Do đó biện pháp quản lý có rất
nhiều, hình thức và cách áp dụng cũng khác nhau. Một số biện pháp quản lý
điển hình thường được sử dụng là:
6.1. Biện pháp tuyên truyền, giáo dục
Hầu hết mọi người chưa có nhận thức và hiểu biết về TTCK do đó họ còn dè
dặt trong việc đầu tư vào thị trường này. Bởi vậy, việc trang bị cho họ những
kiến thức cơ bản về chứng khoán và TTCK để họ có thể hiểu về những lợi ích
của hình thức đầu tư mới mẻ này đem lại, đồng thời trang bị cho họ những kĩ
năng để họ có thể đầu tư một cách hiệu quả nhất, tự chịu trách nhiệm về các
quyết định đầu tư của mình, tự phòng chống được các rủi ro khi tham gia trên thị
trường,… Vì thế yếu tố giáo dục, xây dựng tâm lý cho người tham gia thị trường
là cực kì quan trọng. Việc giáo dục bao gồm công tác vạch đường lối chính sách
phát triển kinh tế cho phù hợp, đào tạo phổ biến kiến thức về thị trường, về
chuyên môn nghiệp vụ; xây dựng và thiết lập những chuẩn mực kinh doanh, kế
toán, kiểm toán, xếp hạng cho hoạt động phát hành và bảo lãnh chứng khoán.
6.2. Biện pháp hành chính luật pháp
Biện pháp này có tác động trực tiếp và có vai trò lớn nhất trong các biện
pháp quản lý của Chính phủ ở các TTCK mới nổi bởi ở những thị trường này
mọi hoạt động đang đều ở giai đoạn mới hình thành, hơn thế nữa nhiều khi lại ra
đời không theo con đường tự nhiên như ở các nước phát triển. Nhà nước đóng
vai trò chính trong việc điều hành và hướng dẫn thị trường. Ngoài ra, cho dù ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status