Quản lý nhà nước Về thị trường chứng khoán - Pdf 96

QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
LỜI NÓIĐẦU
Hiện nay, thời đại của chúng ta là thời đại mang xu hướng toàn cầu
hoá và khu vực hoá. Hoà nhập với không khí này, Việt nam vừa gia nhập
và là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Khi được trở thành
viên của tổ chức thương mại thế giới thìđồng nghĩa Việt Nam cũng gặp
nhiều khó khăn vàđồng thời cũng gặt hái được nhiều thành công. Để thu
được kết quả tốt từ quá trình hội nhập chúng ta phải đánh giá, nhận định về
cơ hội cũng như là thách thức đang đặt ra, chúng ta phải biết đâu là thế
mạnh mình phải phát huy vàđâu làđiểm yếu cần phải khắc phục. Vàđặc biệt
hơn nữa chúng ta phải nhận định được xu hướng đi chung của Thế giới,
những yếu tố nào các nước đang chú trọng.
Chính vìđiều đó, mà em thấy rằng thị trường chứng khoán trên thế
giới hiện nay là một trường nóng bỏng và có nhiều triển vọng đi lên. Nó
không chỉ là một kênh huy động vốn có hiệu quả cho hoạt động đầu tư
trong nền kinh tế mà còn là nhân tố thúc đẩy hoạt động của nền kinh tế diễn
ra suôn xẻ hơn. Cho nên em chọn đề tài luận văn là “QLNN Về thị trường
chứng khoán”.
Đối tượng của đề tài
Vai trò của Nhà nước trong quản lý các hoạt động của TTCK Việt
Nam. Vai trò này được biều hiện qua các hoạt động cụ thể của Nhà nước
trong quản lý các hoạt động của TTCK
Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá và làm rõ một số một số nội dung cơ bản về TTCK, và
QLNN đối với TTCK.
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động QLNN đối với TTCK Việt
Nam trong thời gian qua, từđó chỉ ra các kết quảđạt được và hạn chế.
Ngô Văn Thắng
KH5B
1
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam

khoán”. Theo Luật chứng khoán được áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm
2007 của Việt Nam, chứng khoán được định nghĩa như sau: “Chứng khoán
là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp
của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát
hành”.
Chứng khoán là một tài sản tài chính và nó có các đặc điểm sau:
• Tính thanh khoản: Tính thanh khoản của tài sản là khả năng
chuyểntài sản đó thành tiền mặt. Khả năng này cao hay thấp phụ
thuộc vào cung cầu vốn; thời gian, chi phí cần thiết cho việc chuyển
đổi.
• Tính rủi ro: Chứng khoán là tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu
tác động lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không
có hệ thống.Rủi ro có hệ thống hay rủi ro thị trường là loại rủi ro tác
động tới toàn bộ hoặc hầu hết các tài sản. Loại rủi ro này chịu tác
động của các điều kiện kinh tế chung của nền kinh tế như: lạm phát,
sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất... Rủi ro không có hệ thống là
loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản hay một nhóm nhỏ các tài
Ngô Văn Thắng
KH5B
3
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
sản. Loại rủi ro này thường liên quan tới điều kiện của nhà phát
hành.
• Tính sinh lợi: Chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu
nó, nhàđầu tư có thể nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương
lai. Thu nhập này được bảo đảm bằng lợi tức được phân chia hàng
năm và việc tăng giá chứng khoán trên thị trường.
2.Phân loạichứng khoán
Tuỳ theo cách chọn tiêu thức, người ta có thể phân loại chứng khoán
thành nhiều loại khác nhau. Tuy nhiên ởđây, chứng khoán được chia thành

Chứng khoán phái sinh là cáccông cụ tài chính có nguồn gốc từ
chứng khoán và có quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc. Các chứng
khoán phái sinh được hình thành do nhu cầu giao dịch của người mua và
người bán và phát triển phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường
chứng khoán. Có thể phân loại chứng khoán phái sinhthành các loại như
sau:
• Quyền mua trước
Quyền mua trước hay làđặc quyền mua là một quyền ưu đãi được
gắn với một cổ phiếu đang lưu hành, do công ty phát hành ra cổ phiếu đóđể
huy động thêm vốn cổ phần, quyền mua trước cho phép người sở hữu
những cổ phần đang lưu hành được mua một số nhất định cổ phiếu trong
đợt phát hành mới của công ty, tại một mức giá xác định thấp hơn mức giá
chào bán ra công chúng trong một thời hạn nhất định.
• Chứng kế (bảo chứng phiếu)
Chứng kế hay còn gọi là bảo chứng phiếu (cam kết bán) là một loại
chứng khoán được phát hành cùng với trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi mà
người sở hữu nó có quyền được mua một số lượng chứng khoán nhất định
tại một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định.
• Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận giữa người mua và người bán
thực hiện một giao dịch hàng hoáở một thời điểmchắc chắn trong tương lai
với mức giá và khối lượng xác định.
Ngô Văn Thắng
KH5B
5
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
• Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lailà một thoả thuận để mua hoặc bán một tài
sảnvào thời điểmchắc chắn trong tương lai với mức giá xác định.
• Quyền chọn

Là loại chứng khoán không xác định tỷ lệ lãi được hưởng. Cổ phiếu
thường (cổ phiếu phổ thông) có thểđược coi làđại diện cho loại chứng
khoán có thu nhập biến đổi. Thu nhập do việc sở hữu cổ phiếu mang lại gọi
là cổ tức (hay lợi tức cổ phần), nó biến động theo kết quả kinh doanh của
công ty.
c. Chứng khoán có hình thức hỗn hợp
Các chứng khoán có hình thức này là những chứng khoánvừa mang
tính chất của chứng khoán có thu nhập cốđịnh, vừa mang tính chất của
chứng khoán có thu nhập biến đổi. Ví dụ, có cổ phiếu ưu đãi có quyền
được hưởng một mức lãi suất cốđịnh hàng năm, đồng thời lại được hưởng
thêm lợi tức được chia từ kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát
hành.Việc phát hành loại chứng khoán này nhằm để thích ứng với nhu cầu
đặc biệtcủa thị trường vốn.
3.Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán phát hành dưới dạng chứng chỉ
hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành.
Cổ phiếu là loại chứng khoà nó có những tính chất sau:
- Xác nhận việc đầu tư vốn vào tổ chức phát hành ra cổ phiếu
- Không có kỳ hạn, cổ phiếu tồn tại cùng với sự tồn tại của tổ chức
phát hành ra nó
- Có thểđược phát hành khi thành lập tổ chức hoặc khi tăng vốn
- Người sở hữu cổ phiếu sở hữu một phần vốn/tài sản của tổ chức
phát hành và chịu trách nhiệm hữu hạn về tình hình hoạt động
củatổ chức đó
- Cổ phiếu có thểđược chuyển nhượng
Ngô Văn Thắng
KH5B
7
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam

8
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
Trái phiếu công ty: Chủ thể phát hành trái phiếu là các đơn vị sản
xuất kinh doanh. Trái phiếu công ty có các loại như trái phiếu thế chấp; trái
phiếu tín chấp; trái phiếu chuyển đổi; trái phiếu chiết khấu; trái phiếu thả
nổi.
Trái phiếu chính phủ: Chủ thể phát hành trái phiếu là Chính phủ.
Chính vì vậy các loại trái phiếu chính phủđược coi là có hệ số an toàn và
tính thanh khoản cao nhất. Các loại trái phiếu chính phủ thường gặp ở Việt
Nam bao gồm trái phiếu, tín phiếu kho bạc, trái phiếu đô thị, công trái xây
dựng đất nước….
II. Thị trường chứng khoán
1.Bản chất của thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao
dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu
và trái phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên
thị trường tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của TTCK.
2.Vị trí và cấu trúc của thị trường chứng khoán
2.1.Vị trí của TTCK trong thị trường tài chính
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính. Vị
trí của thị trường chứng khoán trong tổng thể thị trường tài chính được thể
hiện như sau:
Ngô Văn Thắng
KH5B
9
Thị trường tài
chính
Thị trường
tiền tệ
Thị trường

nhau, và ở thị trường hối đoái cũng chỉ có các giao dịch giữa các đồng tiền
khác nhau mới được thực hiện.
- Thị trường bảo hiểm: Bảo hiểmlà hoạt động tài chính dưới hình
thức tổ chức kinh doanh, bằng cách thu phí bảo hiểm của người tham gia
bảo hiềm để bồi thường cho những rủi ro bất ngờ gây ra tổn thất của người
tham gia bảo hiểm nhằm duy trì tái sản xuất vàđời sống cho con người.
Theo em thì thị trường bảo hiểm là nơi diễm ra các giao dịch giữa đối
tượng cần được bảo hiểm và các cơ quan tiến hành bảo hiểm.
- Mối quan hệ : Giữa bốn thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị
trường hối đoái, thị trường bảo hiểm đều nằm trong thị trường tài chính.
Chúng có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau.
2.2. Cấu trúc của thị trường chứng khoán
Ngô Văn Thắng
KH5B
10
Thị
trường
tín dụng
trung và
dài hạn,
cho
thuêtài
Thị
trường
Chứng
khoán
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, cấu trúc của thị trường chứng khoán
có thể phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên, thông thường,
ta có thể xemxét 3 cách thức cơ bản là theo hàng hoá giao dịch trên

• Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp I là thị trường phát hành các
chứng khoán hay là nơi mua bán các chứng khoán lần đầu tiên. Tại
thịtrường này, giá cả của chứng khoán là giá phát hành. Việc mua
bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát
hành.
• Thị trường thứ cấp hay thị trường cấp II là thị trường giao dịch
mua bán, trao đổi những chứng khoán đãđược phát hành nhằm
mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã
hội.
Quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp thể hiện trên
các giác độ sau:
-Thị trường thứ cấp làm tăng tính thanh khoản (tính lỏng) của các
chứng khoán đã phát hành. Việc này làm tăng tính ưa chuộng của chứng
khoán và làm giảm rủi ro cho các nhàđầu tư. Các nhàđầu tư sẽ dễ dàng hơn
trong việc sàng lọc, lựa chọn, thay đổi kết cấu danh mục đầu tư, trên cơ
sởđó làm giảm chi phí cho các nhà phát hành trong việc huy động và sử
dụng vốn. Việc tăng tính lỏng của tài sảnsẽ tạo điều kiện tách biệt giữa sở
hữu và quản lý, làm cơ sở cho việc tăng hiệu quả quản lý của doanh
nghiệp.
Việc tăng tính lỏng cho các chứng khoán tạo điều kiện cho việc
chuyểnđổi thời hạn của vốn,từ vốn ngắn hạn sang trung hạn và dài hạn.
Đồng thời, tạo điều kiện cho việc phân phối một cách có hiệu quả. Sự di
chuyển vốn đầu tư trong nền kinh tếđược thực hiện thông qua cơ chế “bàn
tay vô hình”, cơ chế xác định giá chứng khoán và thông qua hoạt động thâu
tóm, sáp nhập doanh nghiệp trên thị trường thứ cấp.
- Thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán đãđược phát hành
trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp được xemlà thị trường định giá
các công ty.
Ngô Văn Thắng
KH5B

giúp việc phân tích cụ thể hơn vai trò của thị trường chứng khoán.
2.3.Các chủ thể trên thị trường chứng khoán
Ngô Văn Thắng
KH5B
13
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thểđược
chia thành 3 nhóm sau: chủ thể phát hành, chủ thểđầu tư và các tổ chức có
liên quan đến chứng khoán.
2.3.1.Chủ thể phát hành
Chủ thể phát hành là người cung cấp các chưng khoán- hàng hóa
của thị trường chứng khoán. Các chủ thể phát hành bao gồm: Chính phủ,
các doanh nghiệp và một số tổ chức khác như: Quỹđầu tư, tổ chức tài chính
trung gian...
• Chính phủ và chính quyền địa phương là chủ thể chủ yếu phát hành các
chứng khoán nợ như: Trái phiếu Chính phủ; Trái phiếu địa phương; trái
phiếu công trình; tín phiếu kho bạc.
• Công ty là chủ thể phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
• Các tổ chức tài chính là chủ thể phát hành các công cụ tài chính như
các trái phiếu, chứng chỉ hưởng thụ... phục vụ cho mục tiêu huy động
vốn và phù hợp với đặc thù hoạt động của họ theo luật định.
2.3.2.Nhàđầu tư
Chủ thểđầu tư là những người có tiền,thực hiện việc mua và bán
chứng khoán trên thị trường chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận. Nhàđầu
tư có thểđược chia thành hai loại: nhàđầu tư cá nhân và nhàđầu tư có tổ
chức.
- Các nhàđầu tư cá nhân
Nhàđầu tư cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình, những người có
vốn nhàn rỗi tạmthời, thamgia mua bán trên thị trường chứng khoán với
mục đích tìm kiếm lợi nhuận.

viên và các nhàđầu tư trên thị trường.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thường là một tổ chức tự
quản,thực hiện một số chức năng sau:
- Đào tạo, nghiên cứu trong lĩnh vực chứng khoán.
- Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán
Ngô Văn Thắng
KH5B
15
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
- Ban hành và thực hiện các quy tắc tựđiều hành trên cơ sở các quy
định pháp luật về chứng khoán hiện hành.
- Giải quyết tranh chấp giữa các thành viên.
- Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng
khoán.
- Hợp tác với chính phủ và các cơ quan khác để giải quyết các vấn đề
có tác động đến hoạt động kinh doanh chứng khoán.
d. Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Là tổ chức nhận lưu giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ
thanh toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán. Các ngân hàng thương
mại, công ty chứng khoán đápứng đủđiều kiện của Uỷ ban chứng khoán sẽ
thực hiện dịch vụ lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán.
e. Các tổ chức hỗ trợ
Là các tổ chức được thành lậpvới mục đích khuyến khích mở rộng
và tăng cường của thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động như:
cho vay tiền để mua cổ phiếu và cho vay chứng khoán để bán trong các
giao dịch bảo chứng. Các tổ chức hỗ trợ chứng khoán ở các nước khác
nhau cóđặc điểm khác nhau,có một số nước không cho phép thành lập các
tổ chức này.
f. Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công tychuyên cung cấp dịch

tự cócủa các công tyvà giúp họtránh các khoản vay có chi phí cao cũng như
sự kiểm soát chặt chẽ của các ngân hàng thương mại. TTCK khuyếnkhích
sự cạnh tranh của các công ty trên thị trường. Sự tồn tại của thị trường
chứng khoán cũng là yếu tố quyết định để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Đây chính là các yếu tốđảm bảo cho sự phân bố có hiệu quả các nguồn lực
trong một quốc gia cũng như trong phạm vi quốc tế.
Thứ hai, TTCK góp phầnthực hiện tái phân phối công bằng hơn,
thông qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra
công chúng, giải toả sự tập trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn, song
vẫn tập trung vốn cho phát triển kinh tế. Việc tăng cường tầng lớp trung lưu
trong xã hội, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với quá trình phân phối
đã giúp nhiều nước tiến xa hơn tới một xã hội công bằng và dân chủ. Việc
Ngô Văn Thắng
KH5B
17
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
giải toả tập trung quyền lực kinh tế cũng tạo điều kiện cạnh tranh công
bằng hơn, qua đó tạo hiệu quả và tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba, thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc tách biệt
giữa sở hữu và quản lý doanh nghiệp. Khi quy mô của doanh nghiệp tăng
lên, môi trường kinh doanh trở lên phức tạp hơn, nhu cầu về quản lý
chuyên trách cũng tăng theo. Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho
việc tiết kiệm vốn và chất xám, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình cổphần hóa
doanh nghiệp Nhà nước. Cơ chế thông tin hoàn hảotạo khả năng giám sát
chặt chẽ của thị trường chứng khoán đã làmtác động của các tiêu cực trong
quản lý, tạo điều kiện kết hợp hài hoà giữa lợi ích của chủ sở hữu, nhà quản
lý và những người làm công.
Thứ tư, hiệu quả của quốc tế hoá thị trường chứng khoán. Việc mở
cửa của thị trường chứng khoán làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị
trường quốc tế. Điều này cho phép các các công tycó thể huy động nguồn

cổđông thiểu số, việc mua bán nội gián, thao túng thị trường làm nản lòng
các nhàđầu tư và như vậy, sẽ tác động tiêu cực tới tiết kiệm vàđầu
tư.Nhiệm vụ của nhà quản lý thị trường là giảm thiểu các tiêu cực của thị
trường nhằm bảo vệ quyền lợicủa các nhàđầu tư vàđảm bảo tính hiệu quả
của thị trường.
Như vậy, vai trò của thị trường chứng khoán thể hiện trên nhiều khía
cạnh khác nhau. Song vai trò tích cực hay tiêu cực của thị trường chứng
khoán có thực sự phát huy hay hạn chế phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể
tham gia thị trường và sự quản lý của nhà nước.
III. Quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán
1. Khái niệm
Khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng hình thành.
Trình độ quản lý phát triển theo sự phát triển của xã hội qua các phương
thức sản xuất khác nhau. Trong thời đại ngày nay, trong ba yếu tố cơ bản
quyết định tới sự phát triển của xã hội là sức lao động, tri thức và trình độ
quản lý thì quản lýđược coi là yếu tố quan trọng hàng đầu.
“Quản lý là sự tác động liên tục, cóđịnh hướng, có tổ chức của chủ thể
quản lý ( người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể ( đối tượng bị
Ngô Văn Thắng
KH5B
19
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
quản lý) trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá,xã hội …thông qua hệ
thống pháp luật, các chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các
biện pháp cụ thể nhằm tạo ra mội trường và tạo điều kiện cho sự phát
triển của đối tượng bị quản lý”.
Quy mô của quản lý có thể khác nhau: toàn cầu, khu vực, quốc gia,
ngành, đơn vị…Quy mô khác nhau thì tính chất của quản lý cũng khác
nhau. Quản lýở phạm vi quốc gia được coi là quản lý Nhà nước, quản lýở
một đơn vị kinh doanh được coi là quản lý kinh doanh ( quản trị kinh

giảm việc tích tụ rủi ro cùng loại, tăng cường khả năng quản lý rủi ro của
các chếđịnh chế tài chính riêng lẻ và ngăn chặn các ảnh hưởng dây chuyền
cũng như các vụ khủng hoảng tài chính.
+ Ngăn chặn các hành vi lừa đảo, lũng đoạn, giao dịch nôi gián và
các vi phạm khác có thểđe doạ tính trung thực của thị trường.
2.2. Đảm bảo sự công bằng
Sự công bằng là một phương tiện để bảo vệ sự cạnh tranh vàđảm bảo
tính trung thực, lành mạnh của thị trường. Muốn hoạt động quản lý có hiệu
quả cần phải có biện pháp đảm bảo tính công bằng của TTCK. Các biện
pháp sử dụng là:
+ Hạn chếđộc quyền bằng việc ngăn chặn sự thống trị thị trường của
các thành viên lớn.
+ Tạo điều kiện cho các nhàđầu tư nhỏ và kém tinh thông nghiệp
vụđầu tư vào các loại tài sản chính hợp lý với họ và bảo vệ họ khỏi các vi
phạm của các thành viên khác có thế lực trên thị trường.
2.3. Đảm bảo hiệu quả
Hiệu quả là chìa khoáđể khu vực tài chính có thể thực hiện nhiệm vụ
chính của mình là huy động và phân bổ các nguồn lục tài hcính tới các
ngành kinh doanh có hiệu quả. Khi các quốc gia mở cửa nền kinh tế của họ
và thực hiện phương pháp lấy thị trường làm cơ sở vận hành và phát triển
các doanh nghiệp thị sự phân bổ vốn và tín dụng cho các ngành công
nghiệp cần phải phù hợp tương xứng với các cơ hội chuyển đổi kinh tế
Ngô Văn Thắng
KH5B
21
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
mới, cả hai vai trò “ giữ kỷ luật” và “ thúc đẩy phát triển” của hệ thống
quản lý chứng khoán có thể góp phần cho TTCK được tổ chức chặt chẽ và
hiệu quả hơn.
Một thị trường mà hệ thống quản lýđược xem là có hiệu quả cần phải

QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
cụ thế và thích hợp với điều kiện văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, dân trí
và các điều kiện khác.
- Cấp, gia hạn, đìng chỉ, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến việc
phát hành, niêm yết, kinh doanh và dịch cụ chứng khoán và thu lện phí cấp
giấy phép theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức và quản lý TTGDCK có tổ chức và các tổ chức trung gian, tổ
chức phụ trợ hoạt động trên TTCK.
- Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của TTCK như: cơ quan quản lý
Nhà nước, SGDCK, TTGDCK, TTLKCK, CtyCK, CtyQLQ…
- Xây dựng sự phối hợp giữa các tổ chức, các cá nhân là thành viên
tham gia TTCK để tạo được sự thống nhất trong mọi hoạt động của TTCK.
- Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trên TTCK như mua bán gian
lận, đầu cơ,…Mặt khác, tạo các điều kiện thuận lợi, khuyến khích những
hoạt động tiêu cực trên thị trường.
- Thực hiện công tác kiểm tra định kỳ, bất thường nhằm phát hiện các
hành vi vi phạm pháp luật, thực hiện tổng kết thống kê nhằm tổng hợp hoạt
động của thị trường.
4.Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý TTCK
4.1. Nguyên tắc thống nhất quản lý về chính trị và kinh tế
Nguyên tắc này cũng được áp dụng trong QLNN đối với TTCK. Yếu tố
kinh tế của TTCK được thể hiện ở chỗ nóđược coi như là một thị trường
của các thị trường. Bên cạnh đó, TTCK không chỉ mang lại lợi ích mang
tính kinh tế mà còn có cả các yếu tố chính trị trong đó. Chính vì thế, trong
quản lý TTCK, sự kết hợp giữa kinh tế và chính trị là một yêu cầu bắt buộc
4.2. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Tập trung dân chủ là tập trung điều hành vào một cơ quan quyền lực cao
nhất. Đây là cơ quan vạch ra đường lối, điều lệ, quy chế, phương hướng,
đường lối, mục tiêu tổng quát vàđề ra các biện pháp cơ bản, chủ yếu để
thực hiện. Tính dân chủ trong quản lý thể hiện ở chỗ mọi người có thể tham

nguyên tắc này trong TTCK tức làđảm bảo cho TTCK được hoạt động tự
nhiên và phát huy những chức năng vốn có của nó. Nguyên tắc này được
coi là tiêu chíáp dụng cho bất kì chính sách nào bởi mỗi chính sách đem lại
lợi ích cũng kèm theo đó là chi phí. Nếu chi phí lớn hơn lợi ích đem lại thì
việc áp dụng các chính sách đó là không có tác dụng.
Ngô Văn Thắng
KH5B
24
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
5. Các nhân tốảnh hưởng đến hoạt động QLNN đối với TTCK
Hoạt động QLNN đối với TTCK chịu tác động của nhiều yếu tố khác
nhau, bao gồm:
- Các nhân tố kinh tế: quá trình QLNN đối với TTCK chịu ảnh
hưởng chi phối của các yếu tố kinh tế như: quy mô kinh tế, trình độ
phát triển nền kinh tế,…Sựđa dạng về hình thức tồn tại và tính
phức tạp trong hoạt động của các thành phần kinh tế tham gia
TTCK sẽđặt ra yêu cầu đối với công tác QLNN là phải có các
chính sách, biện pháp phù hợp để dung hoà lợi ích của các thành
phần này khi khai thác tối đa thế mạnh của họ.
- Các nhân tố về chính trị và thể chế Nhà nước: thể chế chính trị
vàđường lối lãnh đạo của Đảng cầm quyền của một nước chi phối
đến mục tiêu, phương hướng xây dựng và phát triển TTCK nước
đó. Bên cạnh đó, sựổn định hay bất ổn về mặt chính trị sẽ cóảnh
hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình phát triển của TTCK,
từđó có tác động đến nội dung và biện pháp QLNN đối với TTCK
- Môi trường pháp lý: công tác QLNN đối với TTCK bị chi phối và
phụ thuộc vào năng lực hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Bên cạnh đó, vấn đề này còn phụ thuộc cả vào
tính chặt chẽ, đầy đủ, nhất quán của các quy định pháp luật cũng
nhưý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể tham gia vào nền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status