Luận văn:
Khảo sát một số tác dụng dược lý của công
thức phối hợp dược liệu Thiên niên kiện
(Homalomena occulta) và Bách bệnh
(Eurycoma longifolia) trên chuột nhắt
trắng (Mus musculus var albino)
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS. Phan Phước Hiền là người tạo điều
kiện để em thực hiện đề tài nghiên cứu, tiếp thu được nhiều kiến thức liên quan đến
thực tiễn.
Em xin chân thành cảm ơn cô PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hương đã tận tình
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Cảm ơn cô tạo môi trường cho em
được học tập, vận dụng những kiến thức đã học để áp dụng thực tế, giúp em hiểu rõ
hơn về ngành mình đang học và có thêm nhiều định hướng về sau này. Trong suốt
quá trình làm thí nghiệm cô đã giúp em có thêm nhiều kỹ năng trong nghiên cứu,
đặc biệt học từ cô sự nhiệt tình, niềm đam mê công việc.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trường đại học Khoa Học Tự Nhiên đã
tạo nền tảng kiến thức cho em. Các buổi thực tập lớn của chuyên ngành Sinh lý
động giúp em học hỏi nhanh hơn trong quá trình chuẩn bị để thực hiện đề tài và cho
công việc sau này.
Em xin chân thành cảm ơn đến các anh chị khóa 2006, 2007 và các bạn lớp
08sh trường đại học Khoa Học Tự Nhiên đã tạo điều kiện cho em tiếp cận những
phương pháp học tập, những kỹ năng để em học tốt hơn và dễ dàng hòa nhập trong
môi trường làm việc mới.
Em xin chân thành cảm ơn chị ThS. Trần Thị Mỹ Tiên, chị Chung Thị Mỹ
Duyên, chị Đỗ Minh Anh, chị Huỳnh Nhã Vân, bạn Huỳnh Thanh Hằng, bạn
Nguyễn Hoàng Minh, cùng các anh chị và các bạn ở trung tâm Sâm và dược liệu
thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Em xin đặc biệt gởi lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất đến gia đình, những
người bạn luôn động viên em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
1.2.2.Mô tả thực vật 8
1.2.3.Phân bố sinh thái 9
iii
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.6.Công dụng 10
1.2.7.Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 10
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1.1. Nguyên liệu 13
2.1.2.Hóa chất 13
2.1.3.Máy móc thiết bị 13
2.1.4.Đối tượng nghiên cứu 14
2.2.2.Khảo sát độc tính bán trường diễn [2], [4], [6], [7] 16
2.2.4.Khảo sát tác dụng giảm đau cấp [2] 27
Chương 3: KẾT QUẢ - BIỆN LUẬN 33
3.2.Độc tính bán trường diễn 35
3.2.1.Trọng lượng cơ thể chuột 35
3.2.2.Các thông số huyết học 36
3.2.3.Thông số thuộc chức năng gan 40
3.2.4.Thông số thuộc chức năng thận 42
3.2.5.Triglyceride 43
3.2.6.Trọng lượng gan, tim, thận 43
3.3.Khảo sát tác dụng tăng lực 45
3.4.Khảo sát tác dụng giảm đau cấp 47
3.5.1.So sánh độ sưng phù chân chuột sau 3 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ
giữa lô thử, lô đối chiếu với lô đối chứng 51
3.5.2.So sánh độ giảm phù chân chuột giữa lô thử và lô đối chiếu 52
3.6.Kết quả khảo sát hoạt tính chống oxy hóa in vitro bằng thực nghiệm
Malonyl dialdehyd 55
Chương 4: KẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ 56
4.2.Đề nghị 57
loài thảo dược đã được chứng minh qua rất nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế
giới về tác dụng tráng dương và tăng cường chức năng sinh lý của nam giới.
1
Khóa luận tốt nghiệp
Với mục đích ứng dụng hai cây thuốc này trong việc bảo vệ sức khỏe và
nâng cao chất lượng cuộc sống cho đối tượng người cao tuổi, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Khảo sát một số tác dụng dược lý của công thức phối hợp dược
liệu Thiên niên kiện (Homalomena occulta) và Bách bệnh (Eurycoma longifolia)
trên chuột nhắt trắng (Mus musculus var albino)” với mục tiêu khảo sát tính an
toàn, khảo sát tác dụng tăng lực bằng nghiệm pháp chuột bơi Brekhman có cải tiến,
khảo sát tác dụng giảm đau cấp, khảo sát tác dụng kháng viêm cấp, khảo sát hoạt
tính chống oxy hóa in vitro.
Chúng tôi hy vọng đề tài nghiên cứu này góp phần làm phong phú hơn công
dụng của các nguồn dược liệu trong nước và làm tiền đề cho các hướng nghiên cứu
ứng dụng khác.
2
Khóa luận tốt nghiệp
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan Thiên niên kiện [1]
Tên dược liệu: Rhizoma Homalomenae
Tên thực vật: Homalomena occulta (Lour.) Schott
Tên thường gọi: Thiên niên kiện
Tên khác: Bao kim, ráy hương, sơn thục, vắt vẻo, vạt hương (Tày), hìa hấu
ton (Dao), t’rao yêng (K’Ho), duyên (Ba Na).
1.1.1. Phân loại khoa học
Giới: Plantae
Ngành: Magnoliophyta
Lớp: Liliopsida
Bộ: Alismatales
Họ: Araceae
Á. Trong khi đó, loài Thiên niên kiện lá to chỉ thấy ở Trung Quốc và Việt Nam.
Việt Nam 4 loài được dùng làm thuốc: Homalomena occulta (Lour.) Schott
phân bố khá phổ biến ở các tỉnh vùng núi, cả ở miền Nam lẫn miền Bắc (độ cao
phân bố từ 300 - 700 m hoặc hơn); Homalomena gigantea Engl. có tên khác là
Thiên niên kiện lá to được phát hiện ở xã Đinh Trang Hòa, Đinh Trang Thượng,
huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, vùng rừng Suối Lạnh thuộc xã Hòa Thịnh, huyện
Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên và vùng rừng Khe Lét, Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh (độ cao
phân bố từ 100 - 600 m, riêng ở Khe Lét đã trên 700 m); Homalomena pieereana
Engl., Thần phục hay Thiên niên kiện lá hình thìa, mới phát hiện được ở 2 điểm
thuộc một số xã huyện Phước Sơn và Trà My tỉnh Quảng Nam (độ cao 600 - 700
m); Ngoài ra còn có loài Homalomena cochinchinensis Engl. cũng ở phía Nam.
4
Khóa luận tốt nghiệp
Trong số 4 loài trên, loài Homalomena occulta có vùng phân bố rộng nhất. Tất cả
đều được khai thác. Tất cả các loài này đều được khai thác và thu mua ở Việt Nam.
Thiên niên kiện là cây thuốc quý của Việt Nam, có trữ lượng khá phong phú
trong khu vực. Lượng khai thác hàng năm, ước tính từ 200 - 500 tấn để cung cấp
cho nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, do khai thác liên tục
nhiều năm, nguồn cây thuốc này đã bị giảm sút nhiều. Mặt khác, nạn phá rừng trầm
trọng và triền miên cũng là nguyên nhân làm thu hẹp vùng phân bố tự nhiên của
Thiên niên kiện.
1.1.1
1.1.2
1.1.3
1.1.1
1.1.2
1.1.3
1.1.4. Bộ phận dùng
Thân rễ cắt thành từng đoạn dài 10 - 27 cm, sấy nhanh ở nhiệt độ dưới 50
o
Cũng dùng tươi giã ngâm rượu xoa bóp chỗ đau nhức, tê bại và phong thấp. Ðể trị
đau bụng kinh, thường phối hợp với rễ Bưởi bung, rễ Bướm bạc, gỗ Vang, rễ Sim
rừng cùng sắc uống. Ðể trừ sâu nhậy, dùng thân rễ khô tán bột rắc. Lá tươi giã với ít
muối đắp chữa nhọt độc.
1.1.7. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
1.1.7.1. Các nghiên cứu ngoài nước
Wang YF và cộng sự (2007) đã cô lập được 3 chất mới thuộc nhóm
eudesmane sesquiterpenoid, và 8 chất đã biết trước gồm mucrolidin, 1β,4β,7α-
trihydroxyeudesmane, 1β,4β,6β,11-terahydroxyeudesman, oplodiol, bullatantriol,
acetylbullatantriol, homalomenol, maristeminol từ Homalomena occulta. Các chất
này đều có hoạt tính kháng khuẩn trên 6 dòng vi khuẩn khác nhau và hầu hết đều có
tính kháng khuẩn yếu [26].
Năm 2008, nhóm nghiên cứu trường đại học dược ở Trung Quốc đã xác định
thêm 2 chất sesquiterpenoid (6,7) trong rễ Homalomena occulta cùng với 5 chất đã
biết trước đây oplodiol, oplopanone, homalomenol C, bullatantriol, và 1β,4β,7α-
trihydroxyeudesmane, đồng thời người ta cũng chứng minh được rằng các chất
6
Khóa luận tốt nghiệp
trong nhóm sesquiterpenoid có khả năng làm tăng sinh và biệt hóa các tế bào tạo
xương trong ống nghiệm [15]. Năm 2009, nhóm nghiên này cũng đã phát hiện ra
được 3 chất mới trong nhóm sesquiterpenoid là 6α,7α,10α–trihydroxyisoducane đã
được cô lập từ rễ Homalomena occulta [16].
Năm 2012, nhóm nghiên cứu trường đại học Sains ở Malysia đã cô lập được
một số chất mới thuộc nhóm sesquiterpenoid, 1α,4β,7β-eudesmanetriol (1) cùng
với những hợp chất đã biết 1β,4β,7β-eudesmanetriol (2) và oplopanone (3) từ rễ
Homalomena sagittifolia. Nhóm (1), (2) ức chế sự phát triển của vi khuẩn
Pseudomonas stutzer, chống lại hoạt động của enzyme acetylcholinesterase
(enzyme phá hủy acetylcholin là chất trung gian dẫn truyền thần kinh) [27].
1.1.7.2. Các nghiên cứu trong nước
Thiên niên kiện là cây thuốc được trồng ở vườn nhà trong vùng ổn định của
dục. Cuống lá chét rất ngắn, gốc lá thuôn, đầu nhọn, bề mặt trên của lá bóng còn
mặt dưới có lông màu xám.
Cây Bách bệnh là loài đơn tính khác gốc, nên mỗi cây chỉ trổ hoa đực hoặc
hoa cái. Hoa chùm kép mọc ở thân hoặc đầu cành, cuống hoa có lông màu rỉ sắt.
Hoa và bao hoa phủ đầy lông màu nâu đỏ, hoa có màu nâu đỏ hay màu vàng. Bầu
hoa có 5 noãn hơi dính ở gốc. Hoa nở vào tháng 3 – tháng 4 và cây có quả vào
tháng 5 – tháng 6. Quả non màu xanh, chín chuyển sang màu đỏ sẫm. Quả hình
trứng chứa một hạt, trên hạt có nhiều lông ngắn.
8
Hình 1.2 Cây Bách Bệnh
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.3. Phân bố sinh thái
Cây thường mọc ở vùng đồi núi có sườn dốc cao, vùng đất cát có tính acid,
nghèo chất dinh dưỡng, những nơi có nhiệt độ trung bình 25
o
C và độ ẩm khoảng
86%.
Eurycoma Jack là chi nhỏ gồm những đại diện là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ,
phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á và Nam Á. Vùng Đông Nam Á,
Bách bệnh được phân bố rộng rãi từ Myanmar tới các nước Đông Dương, Thái Lan,
Malaysia, đảo Sumatra, Borneo (Indonesia) và Philippin. Loài này còn xuất hiện ở
Nam Trung Quốc, Ấn Độ và một vài nước khác.
Ở Việt Nam, Bách bệnh phân bố rải rác ở các tỉnh vùng núi thấp (dưới
1000m) và trung du. Bách bệnh mọc phổ biến nhất là ở miền Trung, Tây Nguyên,
Tây Ninh đặc biệt là vòng quanh Biên Hòa, Trảng Bom, Định Quán Đồng Nai. Cây
có thể chịu được bóng râm nên thường gặp ở dưới tán rừng tương đối nguyên sinh,
rừng thứ sinh, và đôi khi ở cả đồi cây bụi ở trung du. Cây mọc ở vùng đồi có chiều
cao thấp nhưng khi mọc ở tán rừng ẩm có thể cao tới 5m có khi 7m. Cây Bách bệnh
ra hoa quả nhiều, số lượng cây con tái sinh từ hạt lại hạn chế do quả chín rụng vào
mùa mưa bị lũ cuốn trôi mất. Trong tự nhiên gặp nhiều cây chồi, điều đó chứng tỏ
thuốc sắc hay phối hợp với các vị thuốc khác.
1.2.7. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
1.2.7.1. Nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu về hiệu quả trị bệnh từ cây Eurycoma longifolia đã làm tăng
lượng tinh dịch ở nam giới, nồng độ tinh trùng, tỉ lệ hình thái, nhu động của tinh
trùng bình thường. Nhóm nghiên cứu Tambi và cộng sự (2010) nghiên cứu trên 350
bệnh nhân uống liều 200 mg chiết xuất từ Eurycoma longifolia, cho uống hàng ngày
và theo dõi chu kỳ 3 tháng 1 lần trong vòng 9 tháng. Trong số 350 bệnh nhân thì có
75 bệnh nhân được khám đủ 3 lần trong 9 tháng. Phân tích tinh dịch thì những bệnh
nhân đều có tinh dịch tăng lên đáng kể [24].
10
Khóa luận tốt nghiệp
Miyake và cộng sự (2010) đã cô lập được 24 chất quassinoid từ rễ eurycoma
được phát hiện ra là những chất có tác dụng gây độc đến tế bào, chống lại 4 dòng tế
bào ung thư, bao gồm 3 dòng tế bào ở chuột [ dòng ung thư đại tràng (26-L5), u ác
tính (B16-BL6) và tế bào ung thư phổi (LLC)], và dòng tế bào phổi ở người (A549)
[19].
Shuid và cộng sự (2011) nghiên cứu trên mô hình chuột 12 tháng tuổi gây
loãng xương. Sau 6 tuần thì nhóm cho uống Eurycoma longifolia và nhóm thay thế
testosterone có thể ngăn chặn sự mất canxi xương ở chuột. Eurycoma có tiềm năng
trong điều trị bệnh loãng xương thiếu hụt androgen [23].
Low và cộng sự (2011) đã phân tích huyết tương để tìm hiểu về thời gian
bán hủy của 4 chất thuộc nhóm quasinoid gồm 13α(21)-epoxyeurycomaone (EP),
eurycomanone (EN), 13α,21-dihydroeurycomanone (ED), eurycomanaol (EL) sau
khi cho chuột uống Fr 2 (chiết xuất từ trong Eurycoma longifolia Jack ) liều 200
mg/kg và tiêm qua đường tĩnh mạch liều 10 mg/kg. Qua phân tích thấy EP và EN
xuất hiện trong huyết tương, EP có thời gian bán hủy lâu hơn và nồng độ cao hơn.
Còn EL, EP không thấy xuất hiện trong huyết tương vì nó biến chất trong dịch tiết
của dạ dày sau 2 giờ. EP và EN có thể là những chất có tác dụng trong điều trị bệnh
sốt rét [17].
12
Khóa luận tốt nghiệp
2.1.1. Nguyên liệu
Cao phối hợp Thiên niên kiện và Bách bệnh được cung cấp từ BM. Hóa-Chế
phẩm, Trung tâm Sâm và Dược Liệu TPHCM. Mẫu cao được tiêu chuẩn hóa theo
các quy định của Dược điển Việt Nam IV và tiêu chuẩn cơ sở.
2.1.2. Hóa chất
Aspirin pH8 (viên bao phim, chứa acid acetylsalicylic 500 mg, Mekophar)
Acid acetic 0,6%
Carragenin (Sigma Co., USA)
Nước muối sinh lý 0,9%
Đệm phosphat 50mM
Acid tricloacetic 10%
Acid thiobarbituric 0,8%
Các bộ kit định lượng protein toàn phần, triglyceride, urea, creatinin, GOT,
GPT được cung cấp bởi hãng Human, Đức.
2.1.3. Máy móc thiết bị
Hộp nhựa nuôi chuột, chai nước có đầu uống
Cân kỹ thuật Mettler Toledo AB204
Thiết bị đo thể tích chân chuột UgoBasile, Italia
Thiết bị nghiền đồng thể (IKA Works (Asia) Sdm.Bhđ, Malaysia)
Máy đo quang UV – Vis Heλiosy (Unicam Limitted – Anh), cuvette thạch
anh.
Máy ly tâm lạnh Sartorius (Germany)
Máy xét nghiệm các chỉ tiêu sinh hóa Screen Master 3000 (Arezzo, Italy)
Ống lấy máu EDTA, Heparin chống đông máu
Micropipet các loại 10 – 100 µl, 100 – 1000 µl.
Ống nghiệm, giá ống nghiệm, kim, kéo, kẹp, bàn phẫu thuật và các dụng cụ
thông thường khác trong phòng thí nghiệm.
13
Hình 2.1 Chuột chủng Swiss albino
Khóa luận tốt nghiệp
TI =
50
50
ED
LD
Điều kiện: TI ≥ 10
2.2.1.2. Tiến hành thí nghiệm
Cho chuột uống cao phối hợp Thiên niên kiện – Bách bệnh ở liều tối đa mà
thuốc có thể bơm qua kim tiêm (liều 0,2 ml/10 g thể trọng) [8]. Cao thuốc được đưa
vào dạ dày chuột bằng một kim cong đầu tù qua đường miệng. Theo dõi và ghi
nhận tình trạng chuột bình thường, hay các triệu chứng bệnh quan trọng ở chuột
không chết hoặc trước khi chết (gãi mõm liên tục, chạy hoảng loạn, ngã xiêu vẹo,
co giật, run rẩy, ra mồ hôi, tím tái ở tai, chân, đuôi, tư thế nằm, đứng ) và số chuột
chết trong vòng 72 giờ. Có 3 trường hợp xảy ra [2]:
Trường hợp 1: nếu cho chuột uống cao thuốc mà không có con nào chết thì
ta tìm được liều cao nhất bơm qua kim tiêm mà không làm chết, được ký hiệu là
D
max
và liều tương đối an toàn D
s
dùng cho thực nghiệm dược lý có thể bằng 1/5
D
max
hoặc lớn hơn 1/5 D
max
.
Trường hợp 2: nếu cho chuột uống mà tỉ lệ chết là 100 % thì đây là liều chết
tuyệt đối, được ký hiệu là LD
một thời gian dài sau khi uống, nếu có độc tính thì không được sử dụng lâu dài.
2.2.2.2. Tiến hành thí nghiệm
Cao thử nghiệm được hòa trong nước cất và cho chuột nhắt trắng uống với
thể tích 0,1 ml/kg thể trọng chuột liên tiếp trong 60 ngày. Thực hiện song song với
lô chứng (chỉ uống nước cất).
Chọn chuột có trọng lượng 25 ± 2 g. Chia lô thí lô chứng cho chuột uống
nước cất, lô thử cho chuột uống cao phối hợp Thiên niên kiện - Bách bệnh. Chuột
uống liên tục trong vòng 2 tháng. Lấy máu ở đuôi chuột xét nghiệm (lấy máu vào
buổi sáng trước khi cho chuột ăn).
Thời điểm xét nghiệm: trước thử nghiệm, sau 1 tháng, sau 2 tháng, riêng các
xét nghiệm đại thể lấy gan, tim, thận tiến hành lúc sau kết thúc thí nghiệm.
Các chỉ tiêu đánh giá: trọng lượng cơ thể, thông số huyết học (hồng cầu,
hemoglobin, bạch cầu, tiểu cầu), thông số thuộc chức năng gan (GOT, GPT, protein
toàn phần), thông số thuộc chức năng thận (creatinin, urea), triglyceride, trọng
lượng gan, tim, thận.
2.2.2.3. Các thông số theo dõi
a. Theo dõi thể trọng cơ thể chuột
Ghi nhận trọng lượng cơ thể trước thử nghiệm, sau 1 tháng và sau 2 tháng để
theo dõi tình trạng sức khỏe, khả năng hấp thu dinh dưỡng của chuột.
b. Các thông số huyết học [2], [6]
Số lượng và chất lượng các tế bào máu phản ánh tình trạng của cơ quan tạo
máu. Nếu thuốc tác động đến cơ quan tạo máu sẽ làm thay đổi số lượng và chất
lượng các tế bào máu. Những thông số huyết học thường tiến hành khi nghiên cứu
độc tính trường diễn gồm:
16
Khóa luận tốt nghiệp
Hồng cầu
Hồng cầu được sinh ra ở tủy xương và phát triển qua nhiều giai đoạn: tiền
nguyên hồng cầu – nguyên hồng cầu ưa base – nguyên hồng cầu đa sắc – nguyên
hồng cầu ưa acid – hồng cầu lưới và cuối cùng là hồng cầu trưởng thành hoạt động
2
cao nên phản ứng diễn ra theo chiều thuận, kết quả HbO
2
được hình thành. Ở mô
PO
2
thấp, phản ứng diễn ra theo chiều ngược lại, kết quả HbO
2
phân ly, O
2
được
giải phóng cho các tế bào mô.
Định lượng hemoglobin để biết được khả năng vận chuyển oxy của hồng
cầu.
Đơn vị đo là g/dl tức g/100 ml máu.
Hematocrit
Tỷ lệ thể tích huyết cầu trong máu cũng phản ánh được một phần tình trạng
của hồng cầu (có thể biết cả tình trạng của bạch cầu và tiểu cầu nếu có bệnh lý).
17
Hb + O
2
HbO
2
Khóa luận tốt nghiệp
Ly tâm máu được hai phần: phần trên lỏng là huyết tương, phần dưới là các
huyết cầu. Để xác định dễ dàng hơn dùng ống hematocrit có khắc vạch sẵn. Sau khi
ly tâm đọc chiều cao của cột hồng cầu. Đó chính là tỷ lệ % giữa huyết cầu, chủ yếu
là hồng cầu (vì bình thường, bạch cầu và tiểu cầu có rất ít so với hồng cầu) và máu
toàn phần.
xúc tác bởi enzyme transaminase, sử dụng pyridoxal phosphate (PLP) tức là vitamin
B6 làm coenzyme xảy ra trong tế bào chất của tế bào gan. Khi tế bào gan bị tổn
thương thì GOT (glutamat Oxaloacetat Transaminase) hoặc aspartat
aminotransferase (AST), GPT (Glutamat pyruvat transaminase) hoặc Alanin
aminotransferase (ALT) của huyết thanh hoặc huyết tương là tiêu chuẩn để đánh
giá.
Sự tăng hoạt độ các enzyme này thường gắn liền với độc tính của thuốc do
gây tổn thương tế bào gan. Do đó, cần xác định hoạt độ các enzyme này để đánh giá
mức độ tổn thương tế bào gan.
Protein toàn phần [6]
Protein trong huyết tương gồm 3 thành phần là albumin, globulin và
fibrinogen. Albumin và fibrinogen được tổng chính bởi gan, globulin do tế bào
miễn dịch sản xuất ra (tủy xương, lách, tế bào lympho, tế bào Kuffer của gan).
Protein huyết tương có nhiệm vụ cung cấp acid amin cho cơ thể, giữ độ nhớt
huyết tương, giữ áp suất keo trong lòng mạch, vận chuyển các sản phẩm và nguyên
liệu chuyển hóa, miễn dịch chống các yếu tố gây bệnh, tham gia đông máu.
Xét nghiệm định lượng protein toàn phần để đánh giá chức năng tổng hợp
của gan. Nếu thuốc gây tổn thương đến gan sẽ làm giảm tổng hợp protein toàn phần
trong huyết tương.
d. Thông số thuộc chức năng thận
Thận là cơ quan bài tiết của cơ thể. Cầu thận và ống thận rất dễ tổn thương
bởi các chất nội sinh và ngoại sinh, trong đó có thuốc.
Creatinin [2], [6]
19
Khóa luận tốt nghiệp
Creatinin được tổng hợp ở gan, sau đó được phosphoryl hóa ở gan thành
creatinphosphate vận chuyển vào máu đến dự trữ ở cơ và dùng trong quá trình co
cơ. Trong quá trình co cơ (creatinphosphat + ADP ATP + creatin) creatin được
tạo ra , sau đó creatin loại nước và đóng vòng trở thành creatinin đào thải qua thận.
Để đánh giá ảnh hưởng của thuốc trên chức năng thận, thường dùng xét