Đề xuất các giải pháp kỹ thuật nâng cao độ
chính xác bình đồ ảnh vệ tinh phục vụ công
tác hiện chỉnh bản đồ tỷ lệ nhỏ và trung
bình.
Hoàng Thị Hà
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Chuyên ngành: Bản đồ, viễn thám và hệ thông tin địa lý
Mã số: 60.44.76
Người hướng dẫn: PGS. TS. Trần Đình Trí
Năm báo vệ: 2011
Abstract. ổng quan về ảnh vệ tinh; bình đồ ảnh và bình đồ ảnh vệ tinh. Nghiên cứu
xử lý ảnh vệ tinh trong hiện chỉnh bản đồ và đưa ra phương pháp xử lý ảnh vệ tinh
SPOT trong hiện chỉnh bản đồ: Nắn chỉnh hình học ảnh vệ tinh SPOT; Tăng cường
chất lượng ảnh; Phân loại ảnh (Image classification). Đưa ra các giải pháp kỹ thuật
nhằm nâng cao độ chính xác bình đồ ảnh vệ tinh: Các nguồn sai số ảnh hưởng đến
độ chính xác bình đồ ảnh; Mô hình vật lý và mô hình hàm số hữu tỷ sử dụng để nắn
ảnh. Thực nghiệm nắn ảnh vệ tinh sử dụng mô hình vật lý với ảnh vệ tinh SPOT5.
Phân tích, đánh giá độ chính xác ảnh nắn sử dụng mô hình vật lý
Keywords. Ảnh vệ tinh; Bản đồ; Hiện chỉnh bản đồ; Xử lý ảnh
Content: 1. Tính cấp thiết của đề tài
Đã từ lâu, bản đồ là công cụ rất cần thiết trong các hoạt động điều tra, quy
hoạch tài nguyên thiên nhiên cũng như phát triển kinh tế xã hội. Bản đồ sau một
thời gian sử dụng sẽ bị cũ đi, chất lượng suy giảm, thông tin trên bản đồ bị lạc hậu
phép hiện chỉnh bản đồ ở các tỷ lệ khác nhau từ nhỏ đến lớn.Với những ưu điểm đó
ảnh vệ tinh trở thành công cụ hiệu quả nhất phục vụ công tác hiện chỉnh các loại
bản đồ. Trong công tác hiện chỉnh bản đồ người ta thường sử dụng bình đồ ảnh
được thành lập từ ảnh vệ tinh. Trên bình đồ ảnh vệ tinh, các thông tin về các đối
tượng địa lí có thể được khai thác trực tiếp trên đó để phục vụ cho mục đích hiện
chỉnh.
Để có được bình đồ ảnh, ảnh vệ tinh phải được nắn chỉnh nhằm loại trừ hay
hạn chế các ảnh hưởng của rất nhiều nguyên nhân khác nhau tới vị trí từng điểm
ảnh, phải đưa về tỷ lệ bản đồ cần hiện chỉnh trong cùng một hệ quy chiếu, cùng một
hệ tọa độ của bản đồ. Độ chính xác của bản đồ sau khi hiện chỉnh, độ tin cậy của
thông tin khai thác được phụ thuộc vào độ chính xác của bình đồ ảnh, hay nói một
cách khác đi là độ chính xác của quá trình nắn ảnh vệ tinh.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó tôi chọn đề tài nghiên cứu:
"Đề xuất các giải pháp kỹ thuật nâng cao độ chính xác bình đồ ảnh vệ tinh phục
vụ công tác hiện chỉnh bản đồ tỷ lệ nhỏ và trung bình".
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu cơ sở khoa học và thực nghiệm của quá
trình nắn ảnh, tạo bình đồ ảnh nhằm đưa ra các giải pháp kỹ thuật nâng cao độ chính
xác bình đồ ảnh vệ tinh phục vụ công tác hiện chỉnh bản đồ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Do sự hạn chế về tư liệu ảnh vệ tinh, đối tượng nghiên cứu của luận văn là
các loại ảnh vệ tinh có độ phân giải trung bình phục vụ trong công tác hiện chỉnh
bản đồ tỷ lệ nhỏ và trung bình.
4. Nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những khái niệm cơ bản về viễn thám, bình
đồ ảnh, bình đồ ảnh vệ tinh, các bước thành lập bình đồ ảnh bằng tư liệu ảnh vệ
tinh, chủ yếu là công đoạn nắn ảnh từ đó lựa chọn, đề xuất các giải pháp kỹ thuật tối
ưu nhằm nâng cao độ chính xác trong công tác thành lập bình đồ ảnh.
5. Phương pháp nghiên cứu
bay, vệ tinh nhân tạo, tàu vũ trụ
Viễn thám có thể phân loại làm 3 loại cơ bản theo bước sóng sử dụng:
- Viễn thám trong dải sóng nhìn thấy và hồng ngoại
- Viễn thám hồng ngoại nhiệt
- Viễn thám siêu cao tần
Nguồn năng lượng chính sử dụng trong nhóm thứ nhất là bức xạ mặt trời.
Mặt trời cung cấp một bức xạ có bước sóng ưu thế 500nm. Tư liệu viễn thám trong
dải sóng nhìn thấy phụ thuộc vào phản xạ từ bề mặt vật thể và bề mặt trái đất. Vì
vậy, các thông tin về vật thể có thể được xác định từ các phổ phản xạ. Tuy nhiên,
radar sử dụng tia laser là trường hợp ngoại lệ không sử dụng năng lượng mặt trời.
Nguồn năng lượng sử dụng trong nhóm thứ hai là bức xạ nhiệt do chính vật thể sản
sinh ra. Mỗi vật thể trong nhiệt độ bình thường đều phát ra một bức xạ có đỉnh tại
bước sóng 10.000nm.
Trong viễn thám siêu cao tần người ta sử dụng hai loại kỹ thuật chủ động và
bị động. Viễn thám siêu cao tần bị động thì bức xạ siêu cao tần do chính vật thể
phát ra được ghi lại, còn trong viễn thám siêu cao tần chủ động lại thu những bức xạ
tán xạ hoặc phản xạ từ vật thể.
Đặc điểm chung của ảnh viễn thám được xác định dựa vào đặc điểm chuyển
động của vệ tinh như độ cao, quỹ đạo và tốc độ chuyển động…, bên cạnh đó là kỹ
thuật, vật liệu, thiết bị thu chụp và xử lý ảnh vệ tinh.
- Ảnh viễn thám cung cấp thông tin trên phạm vi rộng được chụp trong cùng
thời điểm và cùng điều kiện vật lý cho phép nhanh chóng rút ngắn thời gian thu
thập và xử lý thông tin cho quá trình thành lập và hiện chỉnh bản đồ.
- Ảnh viễn thám được chụp ở tỷ lệ nhỏ với những giải phổ khác nhau nên
tính chất tổng quát hóa tự nhiên về mặt hình học và quang học khách quan và chính
xác, phản ánh tính quy luật của các hiện tượng tự nhiên.
- Độ cao thu chụp của các vệ tinh lớn so với độ cao địa hình, do vậy vị trí
điểm bị xê dịch trên ảnh không đáng kể, chỉ quan tâm ở vùng núi khi vượt quá hạn
sai cho phép. Ngược lại, ảnh phủ một diện tích rộng nên sai số do độ cong quả đất
lớn, vì vậy phải có phương pháp xử lý thích hợp.
của ảnh và tỷ lệ bản đồ 1:M
b
. GSD càng nhỏ thì dung lượng thông tin trên ảnh
càng lớn; cho nên, dung lượng thông tin trên bản đồ càng phong phú.
Bình đồ ảnh là hình ảnh của miền thực địa được thực hiện bằng cách ghép và
cắt dán các tấm ảnh đơn và nắn theo mảnh bản đồ. Những tấm ảnh nắn được khử sai
số do góc nghiêng của ảnh gây ra, còn sai số của điểm ảnh do địa hình được hạn chế
tới mức tối thiểu phù hợp với độ chính xác của bản đồ. Cơ sở nắn ảnh, ghép ảnh là
các điểm khống chế được ghi trên bản gốc. Bình đồ ảnh mang các thông tin tối đa
bề mặt thực địa, là sản phẩm trung gian để thành lập hay hiện chỉnh bản đồ. Trong
trường hợp này, hình ảnh trên bình đồ ảnh được giải đoán và các yếu tố địa hình
được đo vẽ trực tiếp trên đó bằng các phương pháp trắc địa hoặc phương pháp đo vẽ
lập thể.
Bình đồ ảnh có hai khái niệm là bình đồ ảnh được thành lập thông qua công
tác nắn ảnh theo nguyên lý nắn ảnh vùng bằng phẳng và bình đồ ảnh trực giao được
thành lập theo nguyên lý ảnh trực giao. Ngày nay, bình đồ ảnh trực giao được thành
lập theo dây chuyền công nghệ đo ảnh số.
Bình đồ ảnh thường được sử dụng khi thành lập và hiện chỉnh bản đồ địa
hình, bản đồ chuyên đề, đôi khi có thể thay thế bản đồ trong công tác khảo sát thăm
dò. Trong chiến đấu, là tài liệu quan trọng giúp người chỉ huy trận đánh cũng như
bảo vệ mục tiêu quan trọng. Trong huấn luyện, bình đồ ảnh là tài liệu học tập.
Có thể nói thành lập bình đồ ảnh vệ tinh là quá trình xử lý, hiệu chỉnh hình
học ảnh vệ tinh ở cấp độ cao nhất, nhằm hiệu chỉnh hoặc khử ảnh hưởng của các
nguồn sai số đối với dữ liệu ảnh và hiệu chỉnh ảnh hưởng của chênh cao địa hình để
nhận được một tấm ảnh kết quả đảm bảo độ chính xác về mặt phẳng theo yêu cầu
kỹ thuật tương ứng với một tỷ lệ bản đồ đã xác định.
Thành lập bình đồ ảnh vệ tinh hiện nay được thực hiện bằng phương pháp số.
Quy trình này gồm các bước:
- Nhập ảnh số, và các thông tin bổ trợ
- Chọn phương pháp nắn, mô hình nắn và điểm khống chế nắn ảnh
nắn chỉnh ảnh được quy ước như sau:
- Mức 1A: ảnh hình vuông, về khuôn dạng là ảnh gốc đặc biệt do hãng SPOT
cung cấp, nó chỉ nhập được bằng một số phần mềm nhất định. Về hình học chưa xử
lý.
- Mức 1B: Nắn chỉnh hình học với sự hiệu chỉnh độ quay trái đất , độ cong
trái đất và sự thay đổi độ cao quỹ đạo vệ tinh. Độ chính xác vị trí tuyệt đối đạt được
khoảng 1.500m đối với ảnh chụp thẳng đứng.
- Mức 2A: Nắn chỉnh hình học tiến hành theo phương pháp mô hình hoá vật
lý không sử dụng điểm khống chế từ ảnh mức 1B. Do không cải chính sai số dịch vị
điểm ảnh do chênh cao địa hình nên cần chọn mặt phẳng nắn trung bình của vùng
ảnh phủ. Độ chính xác của các tham số chụp ảnh. Ảnh được nắn về một lưới chiếu
bản đồ nào đó.
- Mức 2B: Nắn chỉnh hình học theo phương pháp mô hình hoá vật lý không
sử dụng điểm khống chế từ ảnh mức 1B có sử dụng điểm khống chế để chính xác
hoá mô hình. Dùng mô hình sau hiệu chỉnh để nắn ảnh cho độ chính xác cao hơn.
Độ chính xác mức nắn phụ thuộc vào độ chính xác điểm khống chế. Trong các điều
kiện tiêu chuẩn, khả năng đạt được độ chính xác định vị tuyệt đối đến 20m.
- Mức 3: Mức nắn này bao gồm các bước như mức nắn 2B nhưng có sử dụng
mô hình số độ cao (DEM) để loại trừ sai số dịch vị điểm ảnh do chênh cao địa hình.
Đây là mức nắn sử dụng khi nắn ảnh vùng núi và núi cao, yêu cầu bản đồ có độ
chính xác cao.
Độ chính xác của mức nắn 3 phụ thuộc vào độ chính xác điểm khống chế và chất
lượng DEM sử dụng, cao nhất đạt được độ chính xác tới 0.5 pixel. ảnh nắn mức 3 là
trực ảnh (orthoimage).
* Hiệu chỉnh hình học (nắn ảnh mức 1B)
Ảnh SPOT ở mức 1B thu được thông qua hiệu chỉnh hình học từ ảnh ở mức
1A. Hiệu chỉnh hình học bao gồm việc hiệu chỉnh ảnh hưởng của độ quay quả đất,
độ cong quả đất và sự thay đổi của các nguyên tố định hướng ngoài của hệ thống
Sensor.
* Nắn chỉnh ảnh SPOT ở mức 2 và mức 3
loại và lựa chọn có tính đến đặc thù của tư liệu ảnh. Sau đó ta chọn đặc tính phổ
hoặc cấu trúc cho phép phân biệt các lớp cần được tập hợp. Tiếp đến, ta chọn vùng
mẫu dựa vào kết quả của hai bước trên. Cuối cùng ta chọn lựa các phương pháp
phân loại. Có thể áp dụng nhiều cách phân loại khác nhau trong khuôn khổ tệp mẫu
và so sánh kết quả đạt được để lựa chọn cách phân loại tối ưu nhất. Thông thường,
người ta chọn phương pháp phân loại theo xác suất cực đại (Maximum likelihood)
để nhóm các pixel vào lớp mà xác suất của chúng thuộc vào lớp đó là lớn nhất.
9. Chương 3: Các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao độ chính xác bình đồ ảnh
vệ tinh
Các nguồn sai số ảnh hưởng đến độ chính xác bình đồ ảnh
Sai số trong quá trình thu nhận ảnh vệ tinh
Trong quá trình thu nhận, hình ảnh được tạo ra một cách liên tục theo sự
chuyển động của vệ tinh. Do sự chuyển động không ổn định của vệ tinh nên hình
ảnh thu được dễ bị méo. Hơn nữa, do các thay đổi của các góc định hướng hoặc do
quỹ đạo bay bị sai lệch nên hình ảnh méo hình. Ảnh hưởng này gây nên méo hình
đáng kể khi các hình ảnh có kích thước lớn hơn rất nhiều lần kích thước một pixel.
Các nguồn sai số gây méo hình này có thể gộp lại thành 2 nhóm: sai số nội tại của
bộ cảm biến thu chụp và sai số do tác động bên ngoài.
Sai số trong quá trình xử lý ảnh vệ tinh
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến độ chính xác của ảnh nắn trong quá trình xử
lý. Đó là các yếu tố xuất phát từ bản chất của thiết bị thu chụp như độ phân giải của
ảnh vệ tinh, mô hình sử dụng để nắn ảnh hay các yếu tố tham gia vào quá trình nắn
chỉnh hình học từ khâu ngoại nghiệp tới khâu nội nghiệp như độ chính xác tăng dày
khống chế ảnh (độ chính xác điểm khống chế ảnh và số lượng điểm, đồ hình bố trí
khống chế ảnh), độ chính xác mô hình số độ cao.
Thực nghiệm và các kết quả
Mục đích và nội dung thực nghiệm
* Mục đích
Thực nghiệm nắn ảnh vệ tinh SPOT5 Panchromatic độ phân giải 2,5m và
QUICKBIRD đen trắng độ phân giải 0,6m sử dụng các mô hình vật lý và mô hình
30’đến 106
0
15’ kinh độ Đông.
Đánh giá tư liệu:
- Điểm khống chế: Số lượng điểm KC trong thực nghiệm là 32 điểm. Các
điểm KC đo bằng phương pháp GPS. Tọa độ và độ cao được tính toán trong hệ tọa
độ VN2000. Độ chính xác đo KC về mặt phẳng
0,2m và về độ cao
0,4m.
- Mô hình số địa hình (DEM): Trong thực nghiệm sử dụng DEM thành lập từ
kết quả số hoá các yếu tố của bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25 000 có sẵn ở khu vực này.
Độ cao địa hình vùng núi khoảng 70m còn ở vùng đồng bằng khoảng 2-5m.
- Tư liệu ảnh vệ tinh: Thực nghiệm tiến hành với ảnh vệ tinh SPOT5 Pan độ
phân giải 2.5m có số hiệu 270308 (10/11/2002), góc nghiêng chụp ảnh +13,8.
Kết quả thực nghiệm:
- Phương án 8 điểm khống chế: Sai số TPTB vị trí điểm M
xy
=
2.17m.
- Phương án 9 điểm khống chế: Sai số TPTB vị trí điểm M
xy
=
1.62m.
- Phương án 12 điểm khống chế: Sai số TPTB vị trí điểm M
xy
=
46’ kinh độ Đông.
Đánh giá tư liệu:
- Điểm khống chế : Số lượng điểm KC trong thực nghiệm là 24 điểm. Các
điểm KC đo bằng phương pháp GPS. Tọa độ và độ cao được tính toán trong hệ tọa
độ VN2000. Độ chính xác đo KC về mặt phẳng
0.2m và về độ cao
0.4m.
- Mô hình số địa hình (DEM): Trong thực nghiệm sử dụng DEM thành lập từ
kết quả số hoá các yếu tố của bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25 000 có sẵn ở khu vực này.
Độ cao địa hình khu vực thực nghiệm vùng núi khoảng 200m còn ở vùng đồng bằng
khoảng 1m.
- Tư liệu ảnh vệ tinh: Thực nghiệm tiến hành với ảnh vệ tinh SPOT5 - Pan độ
phân giải 2.5m có số hiệu 271308/5 (23/12/2003), góc nghiêng chụp ảnh -21.
Các trường hợp thực nghiệm:
- Thực nghiệm trên vùng không có điểm KC có độ cao trung bình 1m.
Sai số TPTB vị trí điểm: M
xy
=
3.24m.
- Thực nghiệm trên vùng không có điểm KC có độ cao trung bình 50m.
Sai số TPTB vị trí điểm: M
xy
=
4.02m.
Nhận xét:
Khi tăng dày khống chế trên ảnh đơn khu vực địa hình tương đối bằng phẳng
0.2m và về độ cao
0.4m.
- Mô hình số địa hình (DEM): Trong thực nghiệm sử dụng DEM thành lập từ
kết quả số hoá các yếu tố của bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25 000 có sẵn ở khu vực này.
Độ cao địa hình khu vực thực nghiệm H
min
= 1m; H
max
= 600m.
- Tư liệu ảnh vệ tinh: Thực nghiệm tiến hành trên khối ảnh gồm 4 cảnh:
270308 (11/10/02), góc nghiêng +13; 270309 (20/10/03), góc nghiêng +258;
271308 và 271309 (23/12/03), góc nghiêng -210.
Các trường hợp thực nghiệm:
- Phương án 1: số lượng điểm KC là 36 điểm.
Sai số TPTB vị trí điểm: M
xy
=
3.74m.
- Phương án 2: số lượng điểm KC là 32 điểm.
Sai số TPTB vị trí điểm: M
xy
=
3.80m.
- Phương án 3: số lượng điểm KC là 18 điểm.
Sai số TPTB vị trí điểm: M
xy
phẳng
0.2m và về độ cao
0.4m.
- Mô hình số địa hình (DEM): Trong thực nghiệm sử dụng DEM thành lập
từ kết quả số hoá các yếu tố của bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 25 000 có sẵn ở khu vực.
Độ cao địa hình vùng núi khoảng 1200m còn ở vùng đồng bằng khoảng 1m.
- Tư liệu ảnh vệ tinh: Thực nghiệm tiến hành với ảnh vệ tinh SPOT5 - Pan độ
phân giải 2.5m có số hiệu 271307/5 (23/12/2003) và 271308/5 (23/12/2003), góc
nghiêng chụp ảnh -21.
Các trường hợp thực nghiệm:
- Trường hợp sử dụng DEM25 và DEM50 với cảnh 271308 có địa hình bằng
phẳng, độ cao trung bình H = 1-5m; với các phương án điểm KC là 17 điểm, 12
điểm , 9 điểm và 6 điểm. Kết quả sai số tại các điểm kiểm tra được thể hiện trong
phụ lục số 4.
- Trường hợp sử dụng DEM25 và DEM50 với cảnh 271307 có địa hình
chênh cao lớn, H
min
= 1m; H
max
= 1200m; với các phương án điểm KC là 12 điểm,
9 điểm và 6 điểm. Kết quả sai số tại các điểm kiểm tra được thể hiện trong phụ lục
số 4.
Nhận xét:
Với địa hình bằng phẳng khi nắn ảnh sử dụng DEM 25 và DEM 50 sai số
vị trí điểm kiểm tra trên ảnh xê dịch trong khoảng
3m đến
Đối với mô hình hàm hữu tỷ bậc 1, SSTP các điểm kiểm tra giảm dần khi số
lượng điểm KC tăng dần và đều
1.2m ( 2 pixel). Với trường hợp 9 điểm KC
SSTP các điểm kiểm tra lớn nhất, điều này có thể lý giải do điểm kiểm tra K08-
4100-KT01 có sai số lớn nhất do nằm ở vùng núi và ở góc cảnh ảnh. Khi sử dụng số
lượng điểm KC từ 11 điểm trở lên SSTP các điểm kiểm tra ổn định hơn.
Khi sử dụng 8 hay 9 điểm KC, mô hình RFM chỉ có các hệ số RPC bậc 1 và
bậc 2. Qua SSTP các điểm kiểm tra cho thấy áp dụng mô hình RFM bậc 1 và bậc 2
khi sử dụng 8 hay 9 điểm KC cho kết quả là tương đương nhau. Nhưng khi số điểm
KC tăng từ 12 điểm trở lên thì mô hình RFM bậc 2 lại cho kết quả tốt hơn so với
mô hình RFM bậc 1.
Đối với mô hình RFM bậc 3, khi sử dụng 8 hay 9 điểm KC thì sai số vị trí
điểm KC sau bình sai đều không có do chưa đủ số điểm KC cần thiết. Các phương
án 11, 12 hay 13 điểm, SSTP các điểm kiểm tra sau bình sai giảm dần và đều nhỏ
hơn so với các giá trị này nhận được từ kết quả bình sai với mô hình RFM bậc 1 và
bậc 2 (
1.05m). Khi sử dụng 12 điểm KC trở lên SSTP ổn định và
0.85m.
Do điểm KC trong cảnh ảnh thực nghiệm chỉ có 18 điểm nên không thể tiến hành
một số phương án khác để khẳng định thêm.
Theo đồ thị sai số, SSTP trong các phương án bình sai cảnh ảnh theo mô
hình RFM các bậc khác nhau hầu như không vượt quá
1.2m (2 pixel) và các mô
hình RFM bậc cao hơn cho SSTP thấp hơn rất rõ ràng, nhất là khi số lượng điểm
KC tăng từ 11 điểm trở lên. Có thể giải thích là do phân bố điểm KC và điểm kiểm
tra đối với số lượng điểm từ 11 điểm trở lên trên cảnh ảnh đều hơn, xen kẽ nhau
cũng liên quan tới đồ hình bố trí điểm KC thực địa và chất lượng ảnh sau khi nắn.
- Để đảm bảo độ chính xác của ảnh sau khi nắn cần nâng cao độ chính xác xác
định điểm KCA trên ảnh vệ tinh và đo đạc điểm KCA ngoại nghiệp. Cụ thể là phải
chú trọng chất lượng việc chọn điểm KCA phục vụ nắn ảnh.
* Sử dụng mô hình vật lý để nắn ảnh vệ tinh SPOT5
- Số lượng điểm khống chế tối thiểu từ 9 điểm đến 12 điểm KC ở vùng bằng
phẳng (độ cao trung bình 1-5m), sử dụng DEM thành lập từ bản đồ địa hình tỷ lệ
1:25 000 thì bình đồ ảnh có thể đạt độ chính xác ở tỷ lệ 1:10 000.
- Số lượng điểm khống chế tối thiểu là 12 điểm KC ở vùng có chênh cao lớn
(H
min
= 1m, H
max
=1200m), sử dụng DEM thành lập từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25 000
thì bình đồ ảnh có thể đạt độ chính xác ở tỷ lệ 1:10 000 và DEM thành lập từ bản đồ
địa hình tỷ lệ 1:50 000 thì bình đồ ảnh chỉ đạt độ chính xác ở tỷ lệ 1:25 000.
Các trường hợp trên kết quả chỉ có thể đạt được khi các điểm được phân bố
đều trên ảnh và có các điểm kiểm tra xen kẽ các điểm KC.
Nếu các điểm KC không thể bố trí đều trên ảnh thì kết quả chỉ đạt độ chính
xác cho thành lập bình đồ ảnh tỷ lệ 1:25 000 và nhỏ hơn.
- Đối với khối ảnh vệ tinh với địa hình bằng phẳng số lượng điểm KC sử dụng
tối thiểu 8 điểm/cảnh ảnh trong khối, phân bố rải đều trên thì kết quả đạt được độ
chính xác để thành lập bình đồ ảnh tỷ lệ 1:10 000.
* Sử dụng mô hình hàm hữu tỷ nắn ảnh vệ tinh QUICKBIRD bậc Tiêu chuẩn
- Khi sử dụng 8 hay 9 điểm KC, mô hình RFM chỉ có các hệ số RPC bậc 1
và bậc 2 và cho kết quả sai số vị trí điểm sau khi nắn là tương đương nhau.
- Số lượng điểm khống chế tối thiểu từ 11 điểm đến 13 điểm KC ở vùng có
chênh cao lớn (H
min
= 1m, H
chênh cao địa hình nên sử dụng DEM có độ chính xác cao như thành lập từ công
nghệ đo vẽ lập thể ảnh hàng không, công nghệ LIDAR
References :
1. Nguyễn Xuân Lâm (2006), Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu một số giải
pháp kỹ thuật xử lý ảnh viễn thám độ phân giải cao cho mục đích thành lập bản
đồ chuyên đề tỷ lệ 1 :10 000 và lớn hơn.
2. Tổng cục Địa chính (2002), Quy trình hiện chỉnh bản đồ địa hình bằng ảnh vệ
tinh, Hà nội.
3. Cao Xuân Triều, Tăng Quốc Cương (2007), Tìm hiểu và đánh giá về mô hình
hàm số hữu tỷ: Các phương pháp và ứng dụng, Bài báo, Đặc san Viễn thám và
Địa tin học số 2 (4/2007), Trung tâm Viễn thám.
4. Nguyễn Hà Phú và nnk (2007), Thành lập trực ảnh tỷ lệ 1:5 000 bằng tư liệu ảnh
vệ tinh độ phân giải siêu cao, Dự án SXTN, Trung tâm Viễn thám.
5. Institut Geographique National (2006), Block Adjustments Software, IGN
ESPACE, Toulouse, France.
6. Institut Geographique National (2001), Logiciel DELTAMULTI, Manuel
Utilisateur Version 1.0, IGN ESPACE, Toulouse, France.
7. SPOT IMAGE (2002), Spot Satellite Geometry Handbook, Toulouse, France.
8. Space Imaging (2003), RPC Block Adjustment Certification of PCI Geomatica
OrthoEngine 9.0.
9. Philip Cheng, Thierry Toutin, Yun Hang, Matthew Wood, Quickbird- Geometric
Correction, Path and Block Processing and Data Fusion, Bài báo.
22