Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ
chồng vô sinh nguyên phát
Trần Cúc Ánh
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm; Mã số: 60 42 30
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Rực
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Lược sử nghiên cứu về nhiễm sắc thể người. Nghiên cứu cơ chế gây rối loạn
nhiễm sắc thể người: rối loạn số lượng; rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể. Khái quát về tình
hình nghiên cứu vô sinh và tình hình nghiên cứu nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô
sinh nguyên phát ở Việt Nam và trên thế giới. Trình bày và đánh giá các kết quả đạt
được: Tuổi của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát; Nghề nghiệp của các cặp vợ
chồng vô sinh nguyên phát; Tần số rối loạn nhiễm sắc thể của các cặp vợ chồng vô sinh
nguyên phát; Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên
phát.
Keywords: Nhiễm sắc thể; Bệnh vô sinh nguyên phát; Rối loạn nhiễm sắc thể; Sinh
học thực nghiệm Content
MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống của mỗi con người, gia đình và con cái là nguồn hạnh phúc chính đáng
và là động lực của sự trường tồn nòi giống. Khi một cặp vợ chồng không thể thực hiện được
chức năng sinh sản thì họ phải đối mặt với nhiều áp lực của gia đình và xã hội. Chẩn đoán và
điều trị ở những cặp vợ chồng hiếm muộn là vấn đề mang lại tính nhân văn rất lớn, mang lại
hạnh phúc cho các cá nhân, gia đình và có ý nghĩa xã hội sâu sắc
bất thường tinh tế đặc trưng trên từng NST ứng với các bệnh, tật, các hội chứng trong lâm sàng,
phát hiện các rối loạn cấu trúc: mất đoạn, lặp đoạn, đảo đoạn và chyển đoạn…
1.2. Các cơ chế gây rối loạn nhiễm sắc thể ở ngƣời
1.2.1. Rối loạn số lượng
*Đa bội thể
Là hiện tượng tăng chẵn hoặc tăng lẻ cả bộ NST. Ví dụ: ở người 3n = 69 NST = thể tam
bội (3n) thuộc dạng thể đa bội lẻ, 4n = 96 NST = thể tứ bội (4n) thuộc dạng thể đa bội chẵn.
Cơ chế:
- Thụ tinh của các giao tử bất thường
- Sự phân chia bất thường của hợp tử
- Sự thụ tinh kép hoặc xâm nhập của tế bào cực
*Lệch bội:
Là hiện tượng số lượng NST của tế bào tăng lên hoặc giảm đi một hoặc vài NST so với
bộ NST lưỡng bội
Cơ chế
- Nhiễm sắc thể không phân ly trong giảm phân
- Nhiễm sắc thể không phân ly trong quá trình phân cắt của hợp tử
- Thất lạc nhiễm sắc thể
1.2.2. Rối loạn cấu trúc
*Mất đoạn (Deletion)
Là hiện tượng NST bị đứt rời ra một hoặc nhiều đoạn, đoạn bị đứt rời ra không có tâm sẽ
tiêu biến đi hoặc gắn sang NST khác, phần còn lại mang tâm trở lên ngắn hơn bình thường. Có 2
kiểu mất đoạn: mất đoạn cuối và mất đoạn giữa.
Một số trường hợp có biểu hiện chậm phát triển trí tuệ và rối loạn cơ quan sinh dục, hay
gặp trong số đó là NST X hình vòng. Ví dụ: Hội chứng Turner: 46,Xr(Xq).
* Chuyển đoạn (Translocation):
Chuyển đoạn NST được xác định là hay gặp nhất trong rối loạn cấu trúc của NST. Có hai
kiểu chuyển đoạn là chuyển đoạn tương hỗ (reciprocal translocation) và chuyển đoạn hòa hợp
tâm (Robertsonian translocation).
* Lặp đoạn (duplication)
1.3.3. Nguyên nhân vô sinh do người chồng
- Các nguyên nhân không do yếu tố di truyền: Tinh hoàn không xuống bìu, viêm tinh hoàn; giãn
tĩnh mạch tinh, bất thường hormone sinh dục; tắc nghẽn đường sinh dục, do nhiễm khuẩn; Các
vấn đề nội tiết; do tuổi; nghề nghiệp …
- Nguyên nhân do yếu tố di truyền: Ở mức độ tế bào hay gặp nhất ở nam là hội chứng
Klinefelter. Mức độ phân tử hay gặp nhất là mất đoạn nhỏ trên NST Y xảy ra ở ba vùng AZFa,
AZFb, AZFc
1.4. Tình hình nghiên cứu nhiễm sắc thể của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
1.4.1. Trên thế giới
1.4.2. Ở Việt Nam Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 6 năm 2012, tổng số 187 cặp vợ chồng (374 trường hợp)
trong đó tuổi ở người vợ thấp nhất là 21 tuổi, cao nhất là 44 tuổi và tuổi của người chồng thấp
nhất là 22 tuổi, cao nhất là 51 tuổi, được chẩn đoán lâm sàng là vô sinh nguyên phát từ các bệnh
viện Phụ sản Trung ương, bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Khoa sản bệnh viện Bạch Mai… đã gửi
đến bộ môn Y sinh học – Di truyền, trường đại học Y Hà Nội yêu cầu xét nghiệm NST
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn đối tượng
- Các cặp vợ chồng kết hôn ít nhất trong vòng 1 năm (≥1 năm) mà chưa có con lần nào.
- Có sức khỏe bình thường và rất mong muốn có con.
- Quan hệ tình dục bình thường và không dùng biện pháp tránh thai nào.
- Không tiếp xúc với các loại hóa chất (chất độc hóa học và các hóa chất bảo vệ thực vật…), các
chất đồng vị phóng xạ…
- Không nghiện rượu, thuốc lá.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Các cặp vợ chồng mắc các bệnh mãn tính (viêm gan siêu vi trùng, bệnh đái tháo đường…) và
các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục: ở người vợ (viêm lộ tuyến cổ tử cung, viêm tắc vòi trứng,
tử cung dị dạng…); ở người chồng (viêm tinh hoàn, giãn tĩnh mạch tinh…)
3.2. Nghề nghiệp của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Trong tổng số 187 cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát đã được xét nghiệm, phân tích NST
và lập karyotype bao gồm: cán bộ viên chức (CBVC), công nhân, làm ruộng, bộ đội, lao động tự
do.
Các cặp vợ chồng trong nghiên cứu của chúng tôi thuộc các nhóm nghề khác nhau nhưng
nhìn chung đều không phải tiếp xúc với các chất đồng vị phóng xạ, các loại hóa chất độc hại, các
thuốc bảo vệ thực vật. Những bệnh nhân này đã được chỉ định xét nghiệm di truyền để xác định
xem họ có bị rối loạn ở mức độ NST hay không, mà những bất thường này có thể là nguyên nhân
gây vô sinh ở các cặp vợ chồng.
3.3. Tần số rối loạn NST ở các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Trong số 187 cặp vợ chồng (374 trường hợp) vô sinh nguyên phát được xét nghiệm NST,
phân tích và lập karyotyp chúng tôi phát hiện có 41 cặp vợ chồng (vợ hoặc chồng) có biểu hiện
rối loạn NST (chiếm tỷ lệ 10,96%), 146 cặp vợ chồng (chiếm tỷ lệ 89,04%) có karyotyp bình
thường (46, XX hoặc 46, XY).
3.4. Tần số rối loạn NST giữa ngƣời vợ và ngƣời chồng ở các cặp vợ chồng vô sinh nguyên
phát
Tổng số 41 cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát có biểu hiện rối loạn NST (ở người vợ
hoặc ở người chồng), trong đó chúng tôi phát hiện có 13 trường hợp người vợ (chiếm 3,48%) và
28 trường hợp người chồng (chiếm 7,48%).
Như vậy tần số rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát thường
gặp ở người chồng hơn người vợ.
3.5. Các biểu hiện rối loạn NST ở các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Khi phân tích NST của 187 cặp vợ chồng (374 trường hợp) chúng tôi phát hiện trong số
41 trường hợp mang rối loạn NST thì:
33 trường hợp (chiếm tỷ lệ cao 80,49%) có biểu hiện rối loạn NST giới tính gồm 25
trường hợp ở người chồng và 8 trường hợp ở người vợ.
8 trường hợp (chiếm tỷ lệ 19,51%) có biểu hiện rối loạn NST thường, bao gồm 3 trường
hợp ở người chồng và 5 trường hợp ở người vợ.
Như vậy rối loạn nhiễm sắc thể giới tính hay gặp hơn rối loạn nhiễm sắc thể thường.
3.5.1. Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở người vợ trong các cặp vợ chồng vô sinh nguyên
del(Y)(q11.2)
Như vậy, trong các rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở người chồng thì hay gặp nhất là hội
chứng Klinefelter thể thuần và thể khảm.
1.5.2.2. Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể thường ở người chồng
Chúng tôi phát hiện được 3 trường hợp ở người chồng mang rối loạn NST thường bao
gồm:
2 trường hợp chuyển đoạn hòa hợp tâm có karyotyp là: NST 45, XY, t(13q;15q); 45, XY,
t(14q;21q)
1 trường hợp chuyển đoạn tương hỗ giữa NST số 1 và NST số 2 karyotyp là 46,XY,
t(1;2)(p22;q21)
KẾT LUẬN
Kết luận 1. Trong tổng số 187 cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát chúng tôi phát hiện được 41
cặp vợ chồng (có vợ hoặc chồng) có biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể (chiếm tỷ lệ 10,96%)
Kết luận 2. Trong số 41 trường hợp có rối loạn nhiễm sắc thể thì người chồng có 28 trường hợp
(68,29%) và người vợ có 13 trường hợp (0,71%). Như vậy rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ
chồng vô sinh nguyên phát thường hay gặp ở người chồng hơn so với người vợ.
Kết luận 3. Trong các rối loạn nhiễm sắc thể thì rối loạn nhiễm sắc thể giới tính có 33 trường
hợp (người vợ hay gặp là hội chứng Turner, còn người chồng hay gặp là hội chứng Klinefelter)
và 8 trường hợp rối loạn nhiễm sắc thể thường. Như vậy rối loạn nhiễm sắc thể giới tính hay gặp
hơn rối loạn nhiễm sắc thể thường.
KIẾN NGHỊ
Kiến nghị 1. Việc xét nghiệm NST đối với những cặp vợ chồng vô sinh là cần thiết để phát hiện
ra các rối loạn NST, tìm nguyên nhân vô sinh và tư vấn di truyền
Kiến nghị 2. Những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát không có biểu hiện rối NST nên phải xét
nghiệm ở mức độ phân tử để phát hiện mất đoạn nhỏ (Microdeletion) trên NST X hoặc Y.
References