Nghiên cứu những bất thường nhiễm sắc thể ở cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật - Pdf 26

Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRƢƠNG THỊ THÙY LINH
NGHIÊN CỨU NHỮNG BẤT THƢỜNG NHIỄM SẮC THỂ
Ở CẶP VỢ CHỒNG SẢY THAI LIÊN TIẾP
VÀ SINH CON BỊ DỊ TẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NộI - 2014
Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
học – Di truyền, Đại học Y Hà Nội đã chỉ bảo, động viên, tạo điều kiện tốt và giúp
đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Sinh học tế bào, Đại học
Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã dạy dỗ, tạo nền tảng kiến thức
cơ bản để tôi có thể tiếp cận kiến thức khoa học góp phần rất lớn vào việc học tập
và nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè những người đã luôn động
viên, khuyến khích, ủng hộ tôi, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho tôi trong suốt
quá trình học tập để và hoàn thành được bản luận văn này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Học viên Trương Thị Thuỳ Linh
Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BrdU:
Bromodeoxyuridin
cs :
Cộng sự
HHT:
Hòa hợp tâm
ISCN:
An International System for Human Cytogenetic Nomenclature
NST:
Nhiễm sắc thể
PHA:
Phytohemagglutinin

vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 13
1.4.3. Sự phân bố các kiểu rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy
thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 14
1.4.4. Nguy cơ sinh sản của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị
dị tật bẩm sinh mang rối loạn nhiễm sắc thể 23
1.5. Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên
tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh ở Việt Nam 28
CHƢƠNG 2 - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1. Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 31
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 31
2.2. Phương pháp nghiên cứu 31
Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
2.2.1. Lập hồ sơ bệnh án di truyền 31
2.2.2. Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotyp 31
2.2.3. Xử lý số liệu 34
CHƢƠNG 3 – KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 35
3.1. Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh
con bị dị tật bẩm sinh 35
3.2. Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giữa người vợ và người chồng có tiền sử sảy
thai liên tiếp và sinh con dị tật bẩm sinh 37
3.3. Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh
con bị dị tật bẩm sinh 39
3.3.1. Sự phân bố các kiểu rối loạn do chuyển đoạn tương hỗ ở các cặp vợ
chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 43
3.3.2. Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm ở các cặp vợ chồng sảy
thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh 45
3.3.3. Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể kiểu đảo đoạn 48
3.4. Nguy cơ sinh sản của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật

Bảng 11. Nguy cơ sinh sản của các cặp vợ chồng mang đảo đoạn NST số 9 63

Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử ở người mang chuyển đoạn tương hỗ
giữa NST số 3 và NST số 21. 8
Hình 2: Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của người mang chuyển đoạn hòa
hợp tâm giữa 2 NST khác cặp tương đồng 9
Hình 3: Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của người mang chuyển đoạn hòa
hợp tâm giữa 2 NST cùng cặp tương đồng 10
Hình 4: Tỷ lệ rối loạn NST ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con
bị dị tật bẩm sinh 35
Hình 5: Tỷ lệ rối loạn NST giữa người vợ và người chồng ở những cặp vợ chồng
sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh. 38
Hình 6: Karyotyp của người chồng mang chuyển đoạn tương hỗ 46,XY,t(9;11)(q34;q13) 43
Hình 7: Karyotyp của người chồng mang chuyển đoạn hòa hợp tâm 45,XY,t(13q;14q) 47
Hình 8: Karyotyp của người chồng mang NST đảo đoạn 46,XY,inv(9)(p12;q12) 49
Hình 9: Karyotyp của người vợ mang NST rối loạn phức tạp
46,XX,t(1;16)(q22;p13),t(12;15)(q15;q23) 52
Hình 10: Karyotyp của người vợ mang chuyển đoạn hòa hợp tâm 45,XX,t(13q;13q) 58
Hình 11: Sơ đồ gia hệ cặp vợ chồng có người vợ mang chuyển đoạn hòa hợp tâm
45,XX,t(14q;21q) 61 Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học

Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
2
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu NST và báo cáo về
những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh
mang rối loạn NST. Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều phòng
xét nghiệm di truyền tế bào như Viện nhi Trung ương, Viện Sản Trung ương,
phòng Di truyền tế bào bệnh viện Từ Dũ, bộ môn Y Sinh học – Di truyền trường
Đại học Y Hà Nội làm xét nghiệm và phân tích NST ở những cặp vợ chồng có
tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh góp phần trong chẩn đoán
và đưa ra những lời khuyên di truyền.
Sử dụng phương pháp xét nghiệm và phân tích bộ NST, chúng tôi thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu những bất thường NST ở cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh
con bị dị tật” với mục tiêu:
Phát hiện những bất thường của bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng
sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh.
Đưa ra những nguy cơ về sinh sản ở một số trường hợp rối loạn NST ở
những cặp vợ chồng này.
Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
3
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1. Lƣợc sử nghiên cứu về nhiễm sắc thể ngƣời
Bộ NST người là đối tượng chính trong các nghiên cứu tế bào di truyền học
loài người. Các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu NST người từ cuối thế kỷ XIX
và được đánh dấu bằng công trình mở đầu của Walther Flemming (1882) [33]. Ông
đã quan sát NST của người ở các kỳ phân bào trên tiêu bản tươi, cắt mảnh lấy từ
tinh hoàn. Trong thời gian đó, NST của người là vấn đề được các nhà di truyền học
quan tâm, nghiên cứu và cũng là đề tài được đem ra tranh luận nhiều lần. Tuy nhiên
ở thời kỳ ấy do những hạn chế về kỹ thuật làm tiêu bản, mẫu vật không đáp ứng và
không phù hợp cho việc nghiên cứu chi tiết NST. Ở người, số lượng NST nhiều,

Năm 1963, hội chứng mèo kêu, một hội chứng do bị mất đoạn nhánh ngắn của
NST số 5 (5p
-
), lần đầu tiên được phát hiện bởi Lejeune và cs [101].
Từ năm 1968 đến năm 1970, sự ra đời của các kỹ thuật nhuộm băng cho phép
các nhà di truyền học đánh giá chính xác tới từng chiếc NST trong bộ NST và phát
hiện rối loạn cấu trúc NST. Từ sau 1970 trở đi, lần lượt với các kỹ thuật nhuộm
băng Q, băng G, băng R, băng C, băng T, N và nhuộm băng có độ phân giải cao
NST, dùng BrdU (Bromodeoxyuridin) gắn vào ADN trên NST và nhuộm phân biệt
chromatit chị em đã mở ra thời kỳ phát triển mạnh mẽ của tế bào di truyền học
người ứng dụng các kỹ thuật băng để phát hiện các bất thường đặc trưng trên từng
NST ứng với các bệnh, tật, các hội chứng trong lâm sàng.
Từ năm 1980 đặc biệt là sau năm 1985 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, vượt bậc
của di truyền tế bào và di truyền phân tử ứng dụng trong nghiên cứu bộ gen loài
người. Trong di truyền tế bào thì việc nghiên cứu NST chủ yếu vẫn áp dụng các
phương pháp nhuộm băng NST.
1.2. Tiêu chuẩn và quy định quốc tế về đặc điểm bộ nhiễm sắc thể ngƣời
1.2.1. Tiêu chuẩn để xếp loại nhiễm sắc thể trong lập karyotyp.
Lúc đầu người ta chỉ căn cứ vào chiều dài của NST để đặt tên cho chúng từ 1
đến 23 theo thứ tự từ dài đến ngắn (công ước Denver 1960), nhưng ngay sau đó
cũng năm 1960 Patau không đồng ý và đề xuất thêm tiêu chuẩn vị trí phần tâm, sau
này được quốc tế chính thức chấp nhận.
Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
5
Chiều dài tương đối của NST: là tỷ lệ giữa chiều dài của một NST so với
chiều dài trung bình của cả bộ NST, tức chiều dài tổng cộng tất cả các NST của bộ
đơn bội có chứa NST X tính theo phần nghìn trong cùng một tế bào. Vị trí của phần
tâm được biểu hiện bằng chỉ số phần tâm, tức là tỷ lệ giữa chiều dài nhánh ngắn trên
tổng chiều dài của cả NST.

Rối loạn số lượng NST gồm hai dạng: đa bội (polyploidy) và lệch bội
(aneuploidy).
* Đa bội thể: là hiện tượng tăng chẵn hoặc tăng lẻ cả bộ NST. Ví dụ: ở người
3n = 69 NST = thể tam bội (3n) thuộc dạng thể đa bội lẻ, 4n = 96 NST = thể tứ bội
(4n) thuộc dạng thể đa bội chẵn.
Ở người, các trường hợp đa bội phần lớn phôi thai chết ở giai đoạn trước
sinh, một vài trường hợp sống đến khi sinh hoặc sau sinh nhưng hầu hết là các
trẻ sơ sinh bị dị tật.
Một số trường hợp đa bội thể ở người:
- Đa bội thể ở người hầu hết quan sát thấy ở những thai sảy tự nhiên hoặc ở
một số thai sống sót vài giờ sau khi sinh hoặc ở phần lớn các khối u.
- Thể tam bội (3n) thuần (69,XXY hoặc 69,XYY) đã quan sát ở những thai sảy
tự nhiên hoặc ở một số thai sống sót vài giờ sau khi sinh.
- Thể khảm (3n/2n) hoặc (4n/2n) đứa trẻ có thể sống được vài năm nhưng
chậm phát triển trí tuệ và nhiều dị tật bẩm sinh khác: dị dạng mắt, thoát vị màng
tủy, dị tật tim, dị tật cơ quan sinh dục…
Karyotyp ở những đứa trẻ này là: 46,XY/69,XXY hoặc 46,XX/92,XXYY….
* Lệch bội: là hiện tượng số lượng NST của tế bào tăng lên hoặc giảm đi một
hoặc vài NST so với bộ NST lưỡng bội.
* Lệch bội NST thường
Ở người, hợp tử trisomi thuần NST thường có được tiếp tục phát triển hay
không, số lượng các dị tật và khả năng sống sót của thai ở bên trong hay bên ngoài
tử cung còn phụ thuộc vào trisomi về NST nào trong bộ NST. Trong số 22 cặp NST
thường, chỉ có trisomi nhóm D (13,14,15), trisomi 18 và trisomi 21 thai nhi có thể
sống ở bên ngoài tử cung, đặc biệt trisomi 21 có khả năng sống lâu hơn, thậm chí có
thể sống đến tuổi trưởng thành. Nhìn chung trisomi của nhóm A (1-3), nhóm B (4-
5) hoặc nhóm C (6-12), phôi thai thường chết ở giai đoạn sớm trong tử cung.
Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
7

Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
8
* Chuyển đoạn (Translocation): Chuyển đoạn là hiện tượng trao đổi các đoạn
của NST. Chuyển đoạn NST đã được xác định là hay gặp nhất trong rối loạn cấu
trúc của NST [86]. Có hai kiểu chuyển đoạn là chuyển đoạn tương hỗ (reciprocal
translocation) và chuyển đoạn hòa hợp tâm (Robertsonian translocation).
- Chuyển đoạn tương hỗ (reciprocal translocation): là hiện tượng trao đổi
đoạn giữa hai NST. Mỗi NST đứt một chỗ, trao đổi đoạn đứt cho nhau và hình
thành hai NST mới. Cả hai đều thay đổi hình thái nếu những đoạn trao đổi khác
nhau về kích thước. Người mang NST chuyển đoạn tương hỗ có kiểu hình bình
thường và trong bộ NST chứa 46 chiếc với 2 NST bất thường [30]. Trong quá trình
hình thành giao tử, hợp tử và sinh ra những đứa con hoặc là monosomi (thường
chết) hoặc trisomi hoặc có karyotype bình thường hoặc mang chuyển đoạn cân bằng
giống bố mẹ. Dưới đây là sơ đồ mô tả quá trình hình thành giao tử và hợp tử ở
những người mang chuyển đoạn tương hỗ giữa NST số 3 và NST số 21. Các trường
hợp chuyển đoạn tương hỗ khác cũng tương tự.

Hình 1: Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử ở ngƣời mang chuyển đoạn tƣơng
hỗ giữa NST số 3 và NST số 21.
- Chuyển đoạn hòa hợp tâm (Robertsonian translocation): Chuyển đoạn hòa hợp
tâm là do phần tâm của hai NST hợp nhất hình thành và hay gặp nhất là sự chuyển
đoạn giữa các NST tâm đầu số 13,14,15 (nhóm D), số 21,22 (nhóm G) bao gồm là sự
Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
9
chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D) hoặc giữa nhóm D với nhóm G
(D/G) hoặc giữa nhóm G với nhóm G (G/G). Nhìn chung trong quần thể, chuyển đoạn
hòa hợp tâm chiếm tỷ lệ khoảng 1,23% ở trẻ sơ sinh còn sống [15].
Ở những người mang chuyển đoạn hòa hợp tâm trong bộ NST có 45 chiếc
thiếu 2 NST tâm đầu và thay vào đó 1 NST tâm giữa có kích thước lớn nếu là sự

sẽ tạo ra hợp tử mang NST lặp đoạn (trisomi từng phần) hoặc NST thiếu một đoạn
có liên quan (monosomi từng phần)….Ở người hay gặp trisomi một phần nhánh dài
hoặc monosomi một phần nhánh dài hoặc nhánh ngắn của NST số 18 (nhóm E).
Đảo đoạn (
I
n
v
e
r
sio
n)
: Kết quả đảo đoạn khi hai điểm đứt gãy xảy ra trong
một nhiễm sắc thể và mảnh đứt gãy quay ngược 180
0
trước khi được chèn trở lại.
Đảo đoạn mang tâm động (pericentric) nếu nó liên quan đến tâm động. Đảo đoạn
không mang tâm động (paracentric) chỉ liên quan đến một nhánh của một nhiễm
sắc thể, hay ngoài tâm động. Đảo đoạn là tái sắp xếp cân bằng, nhưng người mang
đảo đoạn quanh tâm và ngoài tâm động đều có nguy cơ tạo giao tử với nhiễm sắc
thể không cân bằng bổ sung [5].
Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
11
Đảo đoạn có thể ở trạng thái đồng hợp tử hoặc dị hợp tử. Khi ở trạng thái đồng
hợp tử thì đảo đoạn thường gây ảnh hưởng chết cho cơ thể do làm thay đổi vị trí của
các gen (hiệu ứng vị trí) và đứt gãy nhiễm sắc thể sẽ dẫn tới gây chết. Khi ở trạng
thái dị hợp tử thì đảo đoạn gây nên một số thay đổi về di truyền và tế bào, do đó
người ta có thể dễ dàng phát hiện ra đoạn đảo. Khi có đảo đoạn ngoại tâm sẽ không
làm thay đổi vị trí hai vế, còn khi có đảo đoạn quanh tâm sẽ dẫn đến thay đổi vế của
nhiễm sắc thể, có thể biến nhiễm sắc thể tâm cận mút (acrocentrric chromosome)

1.4. Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên
tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh trên thế giới
1.4.1. Tần số rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và
sinh con bị dị tật bẩm sinh
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng sảy thai là do bố
mẹ mang rối loạn NST, đặc biệt là những trường hợp sảy thai sớm. Khoảng 60%
trường hợp sảy thai liên tiếp trước tuần thứ 20 của thai là do rối loạn NST ở phôi
thai [22]. Các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh có tỷ lệ
mang rối loạn NST lớn hơn so với tỉ lệ rối loạn NST trong dân số nói chung
Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
12
(khoảng <0,55%) [16,37,52,53,17,78]. Sau đây là một số ghi nhận về nghiên cứu
tần số rối loạn NST ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con dị tật:
CU Diedrich và cs (1983) khi phân tích truyền tế bào ở 136 cặp vợ chồng có
tiền sử sảy thai hai lần trở lên đã phát hiện 15 trường hợp (chiếm tỷ lệ 11%) có rối
loạn NST [28].
Báo cáo của J.P. Fryns và cs (1984) trong 1068 cặp vợ chồng có tiền sử sảy
thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh được phân tích NST có 59 trường hợp
mang rối loạn NST (chiếm 5,5%) [40].
Một nghiên cứu khác của Kroshikina VG và cs (1984) trong 202 cặp vợ
chồng sảy thai liên tiếp được xét nghiệm NST thì tỷ lệ các cặp mà một trong hai
người có rối loạn NST là 2,5% [51].
Năm 1998 Fryns JP và cs khi phân tích NST của 1743 cặp vợ chồng sảy thai
liên tiếp đã phát hiện 5,34% trong số họ mang rối loạn NST [39].
Khi tiến hành làm xét nghiệm NST cho 61 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai
liên tiếp từ hai lần trở lên. Jiang J. và cs (2001) đã phát hiện 7 cặp vợ chồng có một
trong hai người bị rối loạn NST (chiếm tỷ lệ 11,5%) [49].
M. Azim (2003) sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G phân tích NST của 300 cặp vợ
chồng có tiền sử sảy thai từ 2 lần trở lên. Kết quả cho thấy có 16 cặp (vợ hoặc chồng)

Năm 1983 ALippman-Hand đã phân tích NST của 347 người (trong đó có
170 cặp vợ chồng và 7 người vợ) có tiền sử sảy thai liên tiếp từ hai lần trở lên. Kết
quả là phát hiện có 8 người vợ và 4 người chồng mang rối loạn NST [14].
Phân tích NST của 391 cặp vợ chồng sinh con mắc bệnh Down, Stoll.C và
cs (1998) đã phát hiện được 7 người (5 người mẹ và 2 người bố) mang NST chuyển
đoạn hòa hợp tâm [88].
Năm 2005, Dubey và cs kiểm tra NST của 742 cặp vợ chồng có tiền sử sảy
thai liên tiếp. 31 trường hợp đã được phát hiện mang rối loạn NST, trong đó 24 nữ
và 7 nam với tỉ lệ nữ: nam là 2,1:1 [30].
Nghiên cứu kết quả sinh sản của 11.971 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp, Flyn H
và cs (2013) phân tích NST và phát hiện có 278 trường hợp rối loạn NST trong đó 176
người vợ (tương đương 63%) và 102 người chồng (tương đương với 37%) [34].
Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
14
Cũng trong năm 2013, Ali karaman và Pasa Ulug phân tích NST của 158 cặp
vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp đã phát hiện các trường hợp rối loạn NST bao
gồm 13 nữ (8,22%) và 7 nam (4,43%) [13].
Ngoài những trường hợp rối loạn NST xảy ra ở người vợ hoặc người chồng ở
những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con dị tật, chúng tôi còn ghi nhận một
số kết quả nghiên cứu mà cả hai vợ chồng đều mang rối loạn NST sau:
Khi nghiên cứu cặp vợ chồng 25 tuổi với tiền sử 2 lần sảy thai liên tiếp P.R
Scarbrough và cs (1984) với phương pháp nhuộm băng G đã phát hiện sự có mặt
của chuyển đoạn NST số 13 (thuộc nhóm D) với NST số 14 (thuộc nhóm D) ở
người chồng, karyotyp của người chồng là 45,XY,t(13q;14q). Phân tích NST của
người vợ phát hiện chuyển đoạn tương hỗ giữa NST số 7 và NST số 13, karyptyp là
46,XX,t(7;13)(p21;q22). Theo tác giả thì xác suất để cặp vợ chồng này có 1 con
mang NST cân bằng hoặc mang NST bình thường là 4/48. Xác suất này có thể được
cải thiện trong trường hợp có chọn các tế bào mầm [78].
Ahonadreza Zarifian và cs (2012) đã báo cáo 1 trường hợp cặp vợ chồng với

trúc NST [30].
Raizied Dehghani và cs (2006) khi phân tích di truyền tế bào của các cặp vợ
chồng có tiền sử sảy thai tái phát đã phát hiện 6 trường hợp rối loạn số lượng và 5
trường hợp rối loạn cấu trúc NST [75].
Cũng trong năm 2006, Figen Celapa và cs khi phân tích NST của 645 cặp vợ
chồng đã phát hiện 25 trường hợp mang rối loạn NST, trong đó rối loạn cấu trúc
chiếm 3,7% và rối loạn về số lượng chiếm 0.15% [32].
L.V Tavokina và cs (2007) khi nghiên cứu các bệnh nhân rối loạn sinh sản đã
phát hiện 46 trường hợp mang rối loạn NST trong đó rối loạn cấu trúc NST chiếm
89,13%, rối loạn số lượng NST chiếm 10,87% [52].
Năm 2008, Hossem Mozdarani và cs khi phân tích NST của các cặp vợ
chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh đã phát hiện có 21 trường hợp
mang rối loạn NST trong đó có 4 trường hợp là rối loạn số lượng, 17 trường hợp là
rối loạn về cấu trúc [46].
Feaza Abdel Mogib và cs (2011) phân tích tế bào các cặp vợ chồng có tiền
sử sảy thai ít nhất 2 lần ở bệnh viện Nhi, đại học Mansoura, Ai Cập đã phát hiện 9
Luận văn thạc sĩ khoa học
Trương Thị Thuỳ Linh Cao học K20 - Sinh học
16
trong 73 cặp vợ chồng mang rối loạn NST, trong đó 7 trường hợp là rối loạn cấu
trúc và 2 trường hợp là rối loạn về số lượng NST [31].
1.4.3.2. Sự phân bố các kiểu rối loạn nhiễm sắc thể về cấu trúc
Năm 1982, Micheles VV, Medrano C và cs nghiên cứu bất thường NST ở
220 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp đã phát hiện các trường hợp rối loạn cấu trúc
NST, trong đó chủ yếu là chuyển đoạn hòa hợp tâm 8 trường hợp (3,6%), đảo đoạn
5 trường hợp [61].
Diedrich U và cs (1983) khi nghiên cứu những bất thường NST ở 136 cặp vợ
chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp đã phát hiện 15 trường hợp rối loạn NST trong đó
có 11 trường hợp rối loạn cấu trúc NST bao gồm: 9 trường hợp chuyển đoạn, 1
trường hợp mất đoạn và 1 trường hợp lặp đoạn [28].

loạn NST, phần lớn là chuyển đoạn tương hỗ cân bằng [95].
Năm 2012, Feaza Abdel Mogib và cs đã phát hiện 7 trường hợp mang rối
loạn NST về cấu trúc trong 73 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai ít nhất 2 lần. Trong
đó có 3 trường hợp là chuyển đoạn tương hỗ, 1 trường hợp chuyển đoạn hòa hợp
tâm, 2 trường hợp đảo đoạn và 1 trường hợp mất đoạn [31].
Ali karaman và Pasa Ulug (2013) khi phân tích NST của 158 cặp vợ chồng
có tiền sử sảy thai liên tiếp đã phát hiện 20 trường hợp rối loạn cấu trúc NST bao
gồm: 7 trường hợp chuyển đoạn tương hỗ, 7 trường hợp chuyển đoạn hòa hợp tâm,
4 trường hợp đảo đoạn gồm tâm động, 2 trường hợp đảo đoạn ngoài tâm [13].
Theo báo cáo của Flyn H và cs (2013) thì từ 1/1992 đến 1/2001 đã có 11.971
cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp được phân tích NST. Trong nghiên cứu này, các tác
giả đã ghi nhận 278 trường hợp rối loạn cấu trúc NST. Trong đó các kiểu rối loạn
được phân bố như sau: 177 trường hợp mang chuyển đoạn tương hỗ (chiếm 64%),
43 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm (chiếm 15%), 21 trường hợp đảo
đoạn NST gồm tâm động (chiếm 8%), 21 trường hợp đảo đoạn NST không gồm
tâm động (chiếm 8%), và 16 trường hợp rối loạn khác [34].
1.4.3.3. Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn tương hỗ
Theo Zarina A L và cs thì chuyển đoạn tương hỗ chiếm 0.2% trong dân số.
Tuy nhiên ở những cặp vợ chồng sảy thai trên 3 lần ở 3 tháng đầu thì tỉ lệ này có thể
tăng tới 9.2% [99].

Trích đoạn Nguy cơ sinh sản của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật Nguy cơ sinh sản ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status