Phân tích bộ nhiễm sắc thể (karyotype) ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh - Pdf 10


0
Phân tích bộ nhiễm sắc thể (karyotype) ở
những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh
con bị dị tật bẩm sinh Đặng Thị Nhâm
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Chuyên ngành:Sinh học thực nghiệm; Mã số: 60 42 30
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Rực
Năm bảo vệ: 2011

Abstract. Trình bày tổng quan về Bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai
liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh: Lược sử nghiên cứu về nhiễm sắc thể người;
Tiêu chuẩn và qui định quốc tế về đặc điểm bộ nhiễm sắc thể người; Tình hình
nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và
sinh con bị dị tật bẩm sinh trên thế giới; Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở
những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh ở Việt Nam.
Trình bày các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu: Lập hồ sơ bệnh án di
truyền; Phương pháp nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu ngoại vi để thu hoạch
cụm kỳ giữa, phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotype; Xử lý số liệu. Trình bày kết
quả và thảo luận: Tuổi của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật
bẩm sinh; Nghề nghiệp của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật
bẩm sinh; Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và
sinh con bị dị tật bẩm sinh; Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giữa người vợ và
người chồng ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh;
Các biểu hiện về rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và
sinh con bị dị tật bẩm sinh; Các kiểu chuyển đoạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ
chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh; Sự phân bố các kiểu rối loạn
về số lượng nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật

những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh”
2
2. Mục tiêu của đề tài
Phát hiện các trường hợp rối loạn NST ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và
sinh con bị dị tật bẩm sinh.
3. Đối tượng nghiên cứu
Từ tháng 10 năm 2009 đến tháng 10 năm 2011, tổng số 350 cặp vợ chồng
(700 trường hợp) có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh từ các
bệnh viện Phụ sản Trung Ương, bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Khoa sản bệnh viện
Bạch Mai…. đã gửi đến bộ môn Y sinh học – Di truyền , trường Đại học Y Hà Nội
yêu cầu xét nghiệm NST
4. Tính cấp thiết của đề tài
Sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh là một vấn đề không ít các cặp
vợ chồng gặp phải và để lại tâm lý nặng nề, bất hành cho gia đình và xã hội.
Nhiều nghiên cứu đã đưa ra tỷ lệ bất thường nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng
có hoàn cảnh nói trên.
Việc tìm ra căn nguyên của sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh sẽ
giúp cho các bác sỹ di truyền, bác sỹ sản khoa tư vấn di truyền và có những biện
pháp giảm thiểu tỷ lệ sinh con dị tật
Vì vậy tiến hành đề tài nghiên cứu với mục tiêu là phát hiện các trường hợp
rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị
tật bẩm sinh là cần thiết.
5. Bố cục luận văn
Luận văn dày 66 trang kể cả phụ lục, 75 tài liệu tham khảo. Trong đó có 10
bảng, 12 hình
Đặt vấn đề 1,5 trang, tổng quan tài liệu 20 trang. Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu 5 trang. Kết quả và bàn luận 31 trang. Kết luận 1 trang. Tài liệu tham

sau, nếu các NST bằng nhau thì tâm giữa đặt trước, tâm lệch đặt sau.

4
 Nhóm A có 3 cặp NST có kích thước lớn nhất, gọi tên từ số 1 đến 3, cặp số 1
tâm giữa, cặp số 2 tâm lệch, cặp số 3 tâm giữa.
 Nhóm B có 2 cặp NST số 4 và 5. Các NST này có kích thước lớn và đều có
tâm lệch.
 Nhóm C có 7 cặp từ số 6 đến 12 có chiều dài trung bình. NST X cũng được
xếp vào nhóm này. Tất cả đều tâm gần giữa và khó phân biệt.
 Nhóm D có 3 cặp từ số 13 đến 15 gồm các NST có nhánh ngắn rất ngắn, gần
như không đáng kể gọi là các NST tâm đầu (acrocentric). Tất cả 3 cặp NST
này đều có vệ tinh ở nhánh ngắn.
 Nhóm E có 3 cặp 16, 17,18 tương đối ngắn. NST số 16 tâm giữa, 17 và 18
tâm lệch.
 Nhóm F có 2 cặp NST 19 và 20, ngắn và có tâm giữa.
 Nhóm G có 2 cặp 21 và 22, kích thước ngắn và tâm đầu, có vệ tinh. NST Y
cũng được xếp vào nhóm này nhưng không có vệ tinh.
Các rối loạn về bộ nhiễm sắc thể người
Rối loạn số lượng
* Đa bội thể: là hiện tượng tăng chẵn hoặc tăng lẻ cả bộ NST. Ví dụ: ở người 3n =
69 NST = thể tam bội (3n) thuộc dạng thể đa bội lẻ, 4n = 96 NST = thể tứ bội (4n)
thuộc dạng thể đa bội chẵn.
Ở người, các trường hợp đa bội phần lớn phôi thai chết ở giai đoạn trước
sinh, một vài trường hợp sống đến khi sinh hoặc sau sinh nhưng hầu hết là các sơ
sinh bị dị tật.
* Lệch bội: là hiện tượng số lượng NST của tế bào tăng lên hoặc giảm đi một hoặc
vài NST so với bộ NST lưỡng bội.
Rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể
* Mất đoạn (deletion): là hiện tượng NST bị đứt rời ra một hoặc nhiều đoạn, đoạn
bị đứt rời ra không có tâm sẽ tiêu biến đi hoặc gắn sang NST khác, phần còn lại

hoặc sảy thai và sinh con bị dị tật bẩm sinh

6
Tiêu chuẩn loại trừ
Những cặp vợ chồng có tiền sử mắc các bệnh mãn tính (viêm gan siêu vi
trùng, bệnh đái đường…) hoặc có tiếp xúc với các loại hóa chất độc, thuốc bảo vệ
thực vật, nghiện rượu hoặc thuốc lá… hoặc những cặp vợ chồng đang mang thai
nhưng bị tai nạn lao động hoặc giao thông v v.…
Phương pháp nghiên cứu.
- Lập hồ sơ bệnh án di truyền
- Nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu ngoại vi theo phương pháp của
Hungerford D.A. (1965) [39].
- Phương pháp nhuộm băng theo Seabright M (1971) [65].
- Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotype: theo tiêu chuẩn
ISCN (2005) [67].
- Xử lý số liệu : bằng chương trình Microsoft Excel 2007.
Kết quả
Trong thời gian từ tháng 10 năm 2009 đến tháng 10 năm 2011, tổng số 350
cặp vợ chồng (700 trường hợp) có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm
sinh được thăm khám lâm sàng tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương, bệnh viện Phụ
sản Hà Nội, Khoa sản bệnh viện Bạch Mai…đã gửi đến bộ môn Y sinh học – Di
truyền, trường Đại học Y Hà Nội yêu cầu xét nghiệm NST, phân tích và lập
karyotype, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Tuổi của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh
Tổng số 350 cặp vợ chồng (700 trường hợp) có tiền sử sảy thai liên tiếp và
sinh con bị dị tật bẩm sinh. Trong đó:
- Tuổi của người vợ thấp nhất là 19 tuổi, cao nhất là 40 tuổi, trung bình 28,94  4,3
- Tuổi của người chồng thấp nhất là 23 tuổi, cao nhất là 50 tuổi, trung bình 33  6.

7

chồng.
Các biểu hiện về rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và
sinh con bị dị tật bẩm sinh.
Khi phân tích NST của 350 cặp vợ chồng (700 trường hợp) chúng tôi phát
hiện trong số 24 trường hợp mang rối loạn NST có 21 trường hợp (chiếm tỷ lệ
87,5%) có biểu hiện rối loạn về cấu trúc và 3 trường hợp (chiếm tỷ lệ 12,5%) là rối
loạn về số lượng ở cặp NST giới tính và ở thể khảm với hai dòng tế bào. Trong 21
trường hợp rối loạn về cấu trúc có 19 trường hợp là chuyển đoạn, 1 trường hợp mất
đoạn và 1 trường hợp đảo đoạn.

Các kiểu chuyển đoạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh
con bị dị tật bẩm sinh
Khi phân tích NST ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị
tật bẩm sinh chúng tôi đã phát hiện có 19 trường hợp mang chuyển đoạn trong đó:
- 11 trường hợp chuyển đoạn tương hỗ bao gồm 6 người vợ và 5 người chồng.
- 8 trường hợp chuyển đoạn hòa hợp tâm bao gồm 6 người vợ và 2 người chồng.
Sự chuyển đoạn tương hỗ giữa các nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng mang
nhiễm sắc thể chuyển đoạn
Trong số 21 cặp vợ chồng có biểu hiện về rối loạn cấu trúc mà chúng tôi phát
hiện được thì rối loạn cấu trúc kiểu chuyển đoạn tương hỗ xảy ra ở 11 cặp vợ chồng
(hoặc ở người vợ hoặc ở người chồng) chiếm tỷ lệ 52,38% tổng số các rối loạn cấu
trúc. Đó là sự chuyển đoạn xảy ra giữa 2 NST khác cặp tương đồng.
Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa các nhóm
Trong 8 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm có 4 trường hợp có kiểu
chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D: t(D/D) trong đó phát hiện 3

9
trường hợp ở người vợ và 1 trường hợp ở người chồng. 3 trường hợp có kiểu
chuyển đoạn giữa NST nhóm D với NST nhóm G: t(D/G) trong đó 2 trường hợp
xảy ra ở người vợ và 1 trường hợp ở người chồng. 1 trường hợp có kiểu chuyển

Kiến nghị:
Sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh có thể do rất nhiều nguyên
nhân. Về mặt di truyền có thể do phía bố mẹ hoặc phía thai, vì vậy cần phải tìm hiểu
tiếp các nguyên nhân như phân tích NST từ tế bào dịch ối hoặc tế bào gai rau hoặc
phân tích ADN ở những cặp bố mẹ có karyotype bình thường. Hy vọng những kết
quả này sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo.
References :
Tiếng Việt
1. Trịnh Văn Bảo, Phan Thị Hoan, Trần Thị Thanh Hương, Hoàng Thị Ngọc Lan,
Trần Đức Phấn, Đoàn Thị Kim Phượng, Nguyễn Văn Rực (2002), “Phân tích kết
quả xét nghiệm di truyền tế bào tại bộ môn Y Sinh học – Di truyền – trường đại học
Y Hà Nội”, Tạp chí di truyền và ứng dụng – Hội di truyền học Việt Nam, tr 70-78.
2. Phan Thị Hoan (2005), “Phân tích NST và nếp vân da của hai gia đình sinh hai
con hội chứng Down”, Tạp chí nghiên cứu y học, 34(2), 5-12.
3. Phan Xuân Khôi (2002), Nghiên cứu tình hình thai chết lưu trong tử cung tại viện
bảo vệ bà mẹ trẻ sơ sinh trong 2 năm 1999-2000, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ
chuyên khoa cấp II, ĐH Y Hà Nội.
4.Nguyễn Văn Rực (2002), “Phát hiện NST chuyển đoạn ở một số cặp vợ chồng sảy
thai liên tiếp và sinh con dị tật bằng phương pháp nhuộm băng G”, Tạp chí di truyền
và ứng dụng – Hội di truyền học Việt Nam, tr 51-56.
5. Nguyễn Văn Rực (2004), Nguyên cứu đặc điểm karyotype, kiểu hình của trẻ
Down và karyotype của bố mẹ, Luận án tiến sĩ y học, ĐH Y Hà Nội.
6. Nguyễn Văn Rực (2006), “Đặc điểm karyotype ở những cặp vợ chồng sảy thai
liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh”, Tạp chí nghiên cứu y học, 46(6).

11
7. Nguyễn Văn Rực (2006), “Nguy cơ bất thường về sinh sản ở một số cặp vợ
chồng mang NST chuyển đoạn cân bằng”, Tạp chí nghiên cứu y học Phụ trương,
40(1).
8. Nguyễn Văn Rực, Phạm Đức Phùng, Nguyễn Thị Phượng (2006), “Nghiên cứu

19. Claude Stoll (1981), “Cytogenetics findings in 122 couples with recurrent
abortions”, Human Genetics, 57(1), 101-103.
20. Cyril Cyrus et al (2006), “Faminial robertsonian translocation 13;21 in a Down
syndrome – Patient with XYY/XY mosaicism”, Int. J. Hum. Genet, 6(4), pp. 291-
295.
21. Davalos IP, Rivas F, Ramnos AL, et al (2000), “1nv (9) (p24q13) in three sterile
brothers”, Ann Genet, 43, 51-4.
22. Dubey.S et al (2005), “Cytogenetic causes for recurrent spontaneous abortions –
An experience of 742 couples (1484 cases)”, Indian Journal of Human Genetics,
11(2), 94 – 98.
23. Diedrich.U et al (1983), “Chromosome anomalies in 136 couples with a history
of recurrent abortions”, Biomedical and Life Sciences, Human Genetics, 65(1), pp.
48-52.
24. Doborah WH, Susan CE, Reuben BY. et al (1978), “Cytogentics of recurrent
abortions”, Fertil Steril, 29, 414-177.

13
25. Enrique C et al (1991), “Chromosome rearrangements among couples with
pregnancy losses and other adverse reproductive outcomes”, American Journal of
Medical Genetics, 41(3), pp. 279-281.
26. Flemming,W. (1982), In Zellsubstanz, Kern und Zellteilure, Volgel, Leipzig.
27. Figen Celepa et al (2006), “The frequency of chromosomal abnormalities in
patients with reproductive failure”, European Journal of Obstetrics & Gynecology
127(1), PP. 106-109.
28. Ford, C.E; Hamerton, J.L. (1956), “The chromosome of man”, Nature, 178,
1020-1023.
29. Ford, C.E. et al (1959), “A sex chromosome anormaly in a case of gonadal
dysgenesis (Turner’s sundrome)”, The Lancet I, 711 – 713.
30. Fortuny.A et al (1988), “Detection of balanced chromosome rearrangements in
445 with repeated abortion and cytogenetic prenatal testing in carriers”, Fertility

abortions”, Chinese Medical Journal, 114(2).
43. Kajji T. Ohama K, Niikawa N, et al (1973), “Banding analysis of normal
karvotypes in spontaneous abortion”, Am J Hum Genet, 25, 539-47
44. Kroshikina VG et al (1984), “Cytogenetic study of married couples with
recurrent spontaneous abortions” , 18(3), 229-30.
45. Kim SR, Shaffer LG (2002), “Robertsonian translocations: mechanisms of
formation, aneuploidy, and uniparental disomy and diagnostic considerations”.
Genet Test, 6, 163-8.

15
46. Lakshmi Rao et al (2005), “Chromosome inversions and a novel chromosome
insertion associated with recurrent miscarriages in South India”, Archives of
Gyneconogy and Obstetrics, 272(4), 273-277.
47. Lewis.B.V and Ridler.M.A.C (1977), “Recurrent abortion associated with a
balanced 22;22 translocation, or isochromosome 22q in a monozygous twin”.
Biomedical and Life Sciences, Human Genetics, Vol.37, No.1, pp. 81-85.9.
48. Levine, H. (1971), Clinical cytogenetics. Little, Brown and company, Boston.
49. Levitsky,G.A.(1924), Materielle Grundlagen ger vererbung. Kiew.Staat –
sverlag.
50. Lippman HA. Veremans M (1983), “Balanced translocatmons among couples
with two or more spontaneous abortions: are male and females equally likely to be
carriers?”, Hum Genet, 63, 252-7.
51. Lyberatou ME, Grigorti KP, Retzepopoulouz. et al (1983), “Cytogenetics of
recurrent abortions”, Clin Genet, 23, 294-7.
52. Mauro Campana et al (1986), “Role of chromosome aberrations in recurrent
abortion: A study of 269 balanced translocation”, American Journal of Medical
Genetics, 24(2), pp. 341-356.
53. MoorheadPS et al (1960), “Chromosome preparations of leukocytes cultured
from human peripheral blood”, Expcell Res, 20, 613-616.
54. Micheles VV, Medrano C, Venue VL. et al (1982), “Chromosome

65. Seabright. M. (1971), A rapid banding technique for human chromosomes. The
Lancet 2. 971.

17
66. Stephenson MD, Awartani KA, Robinson WP (2002), “Cytogenetic analysis of
miscarriages from couples with recurrent miscarriage: a case-control study”, Hum
Reprod, 17, 446-51.
67. Shaffer L.G et al (2005), ISCN: an International for Human Cytogenetic
Nomenclature. S. Karger, Basel.
68. Tavokina.L.V et al (2007). “The most frequent chromosomal abnormalities in
karyotypes of patients with reproductive disorders”, Cytology and Genetics, 41(4),
237-242.
69. Teo SH, Tan M, Knight L, et al (1995). “Pericentric inversion 9-Incidence and
clinical significance”, Ann Acad Med Singapore, 24, 302-4.
70. Ulrike A Mau et al (2000), “Familial Robertsonian translocation 15;21 and rare
paracentric inv(21): unexpected re-inversion in a child with translocation trisomi
21”, European Journal of Human Genetics, 8, 815-819.
71. Usha R. Dutta et al (2010), “Cytogenetic abnormalities in 1162 couples with
recurrent miscarriages in Southern region of India: report and review”, Medicien
Journal of Assisted Reproduction and Genetics, 28(2), 145-149.
72. Zarina A L et al (2006), “Unbalanced Chromosomal Translocation: A Cause of
Recurrent Spontaneous Abortion”, Med J Malaysia, Vol 61, No 2.
Tiếng Pháp
73. Lejeune, J.; Gautier, M. and Turpin, R. (1959). “Étude des chromosomes
somatiques de neuf enfants mogoliens”. Compt. Rent. Acad. Sci. 248, 1721 – 1722.
74. Lejeune. J. et al (1963). Trois cas de délétion partielle du bras court d’un
chromosome 5.C.K.Acad.Sci.(Paris)257:3098.

18
75. Von Winiwarter, H. (1912). “Étude sur la spermatogenes humaine. I. Cellule ge


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status