Phân tích bộ nhiễm sắc thể (karyotype) ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐẶNG THỊ NHÂM PHÂN TÍCH BỘ NHIỄM SẮC THỂ (KARYOTYPE)
Ở NHỮNG CẶP VỢ CHỒNG SẢY THAI LIÊN TIẾP
VÀ SINH CON BỊ DỊ TẬT BẨM SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2011

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐẶNG THỊ NHÂM PHÂN TÍCH BỘ NHIỄM SẮC THỂ (KARYOTYPE)

1.3.3.1. Tần số giữa chuyển đoạn tƣơng hỗ và chuyển đoạn hòa hợp tâm 16
1.3.3.2. Tần số các kiểu rối loạn khác ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp
và sinh con bị dị tật bẩm sinh. 19
1.4. Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên
tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh ở Việt Nam 20
CHƢƠNG 2 - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu. 23
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 23
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 23
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu. 23
2.2.1. Lập hồ sơ bệnh án di truyền 23
2.2.2. Phƣơng pháp nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu ngoại vi để thu
hoạch cụm kỳ giữa, phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotype. 24
2.2.3. Xử lý số liệu 28
CHƢƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 29
3.1. Tuổi của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh . 29
3.2. Nghề nghiệp của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm
sinh 31
3.3. Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh
con bị dị tật bẩm sinh 33
3.4. Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giữa ngƣời vợ và ngƣời chồng ở các cặp vợ
chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh. 36
3.5. Các biểu hiện về rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp
và sinh con bị dị tật bẩm sinh. 37
3.6. Các kiểu chuyển đoạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và
sinh con bị dị tật bẩm sinh 43
3.6.1. Sự chuyển đoạn tƣơng hỗ giữa các nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng
mang nhiễm sắc thể chuyển đoạn 46
3.6.2. Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa các nhóm 49
3.7. Sự phân bố các kiểu rối loạn về số lƣợng nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng


DANH MỤC BẢNG

Bảng 1. Sự phân bố theo tuổi của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị
dị tật bẩm sinh. 29
Bảng 2. Sự phân bố về nghề nghiệp ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh
con bị dị tật bẩm sinh. 32
Bảng 3. Bảng thống kê tỷ lệ rối loạn NST ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và
sinh con bị dị tật bẩm sinh của một số tác giả. 35
Bảng 4. Sự phân bố các kiểu rối loạn cấu trúc NST ở các cặp vợ chồng sảy thai liên
tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh. 38
Bảng 5. Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn NST. 43
Bảng 6. Bảng thống kê tỷ lệ chuyển đoạn NST ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp
và sinh con bị dị tật bẩm sinh. 44
Bảng 7. Sự phân bố các kiểu karyotype về sự chuyển đoạn tương hỗ 47
Bảng 8. Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa các nhóm. 49
Bảng 9. Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn giữa các NST trong các nhóm 51
Bảng 10. Sự phân bố các rối loạn xảy ra ở cặp NST giới tính ở các cặp vợ chồng sảy
1
MỞ ĐẦU
Năm 1956 Tijo và Levan là người đầu tiên đã nuôi cấy tế bào thai người và
gây sốc nhược trương để làm cho các NST (NST) dàn đều trên tiêu bản đã phát hiện
chính xác số lượng NST của người là 46 chiếc gồm 23 cặp, trong đó 22 cặp NST
thường và 1 cặp NST giới tính (ở người nữ là XX, ở người nam là XY). Từ đó đến
nay, NST của người luôn là đề tài nghiên cứu của các nhà di truyền học trên nhiều
đối tượng và các bệnh lý lâm sàng khác nhau.
Những năm gần đây các phương pháp nuôi cấy mô và các kỹ thuật nhuộm
tiêu bản ngày càng phát triển và được cải tiến không ngừng, đặc biệt là kỹ thuật
nhuộm băng G (GTG) đã cho phép các nhà di truyền học phát hiện được chính xác
từng chiếc NST và những rối loạn cấu trúc của NST như mất đoạn, lặp đoạn,
chuyển đoạn, đảo đoạn…
Ở những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm
sinh có thể do nhiều nguyên nhân như nhiễm trùng, hocmon, các bệnh mãn tính, bất
thường tử cung, bất thường NST… Đặc biệt đối với thai sảy sớm (dưới 3 tháng
trong thời kỳ mang thai) thì phôi thai mang bất thường NST đóng vai trò chủ yếu
[11]. Trường hợp này nguyên nhân có thể do bố hoặc mẹ mang rối loạn NST cân
bằng dẫn đến không phân ly NST ở các cặp NST nào đó tạo nên những giao tử bất
thường và nguy cơ mang thai bất thường cao có thể chết trong thời kỳ bào thai hoặc
sinh ra những đứa trẻ dị tật bẩm sinh.
Ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh ra con bị dị tật bẩm sinh sẽ
tạo gánh nặng về tâm lý và kinh tế cho bệnh nhân, gia đình bệnh nhân và xã hội.
Xét nghiệm và phân tích NST ở những cặp vợ chồng này nhằm tìm ra nguyên nhân
gây sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh đồng thời đưa ra lời khuyên di
truyền góp phần chăm sóc sức khỏe sinh sản ở cộng đồng và xã hội.

2

Bộ NST người là đối tượng chính trong các nghiên cứu tế bào di truyền học
loài người. Các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu NST người từ cuối thế kỷ XIX
và được đánh dấu bằng công trình mở đầu của Walther Flemming (1882) [26]. Ông
đã quan sát NST của người ở các kỳ phân bào trên tiêu bản tươi, cắt mảnh lấy từ
tinh hoàn. Trong thời gian đó, NST của người là vấn đề được các nhà di truyền học
quan tâm, nghiên cứu và cũng là đề tài được đem ra tranh luận nhiều lần. Tuy nhiên
ở thời kỳ ấy do những hạn chế về kỹ thuật làm tiêu bản, mẫu vật không đáp ứng và
không phù hợp cho việc nghiên cứu chi tiết NST. Ở người, số lượng NST nhiều,
kích thước nhỏ và thường tập trung thành từng đám, với những kỹ thuật cắt mảnh,
cố định và nhuộm thông thường, các nhà di truyền tế bào chưa thể đếm chính xác
nên đã cho rằng trong nhân của tế bào người có 48 NST, gồm 23 cặp NST thường
và 1 cặp NST giới tính (Winiwarter. V, 1912; Painter, T.S, 1923; Levitsky, G.A,
1924) [49,57,75].
Những năm thuộc thập kỉ 50 của thế kỉ XX có những phát hiện quan trọng
khai sinh ra chuyên ngành di truyền tế bào người, bằng việc xử lý tế bào bằng sốc
nhược trương của Hsu, T.C (1952), Ford, C.E và Hamerton, J.L (1956) tiền xử lý tế
bào nuôi cấy bằng colchicine để tích lũy nhiều cụm kì giữa. Công trình của Tjio,
J.H và Levan (1956) kết hợp xử lý nhược trương và colchicine đã công bố nghiên
cứu xác định lại bộ NST 2n của người là 46 NST chứ không phải là 48 NST và
công trình này đã được Ford và Hamerton khẳng định [28].
Từ năm 1956 có nhiều phòng thí nghiệm tế bào di truyền được xây dựng để
nghiên cứu NST. Các công trình đầu tiên công bố các rối loạn NST liên quan với
bệnh là công trình của Lejeune (1958-1959) về hội chứng Down do thừa một NST
21 dạng trisomi 21, hội chứng Turner do tế bào cơ thể chỉ có 45 NST dạng 45,X

4
thiếu một NST giới tính X (Ford, 1959), hội chứng Klinefelter ở nam với 47 NST
trong đó có ba NST giới XXY (Jacobs và Strong, 1959) [41].
Từ năm 1956 đến năm 1960 là thời kỳ còn khó khăn của nghiên cứu tế bào di
truyền học người các nghiên cứu đều mới chỉ phân biệt được các rối loạn số lượng

sau đó cũng năm 1960 Patau không đồng ý và đề xuất thêm tiêu chuẩn vị trí phần
tâm, sau này được quốc tế chính thức chấp nhận.
- Chiều dài tương đối của NST : đó là tỷ lệ giữa chiều dài của một NST so
với chiều dài của cả bộ NST trung bình, tức là chiều dài tổng cộng của tất cả các
NST thường của bộ đơn bội có chứa NST X tính theo phần nghìn trong cùng một
tế bào.
- Vị trí của phần tâm được biểu hiện bằng chỉ số phần tâm, tức là tỷ lệ giữa
chiều dài nhánh ngắn trên tổng chiều dài của cả NST.
Ngoài ra còn có một số tiêu chuẩn chi tiết khác vận dụng cho các NST có
nhánh ngắn rất ngắn (NST tâm đầu) và các vệ tinh của chúng, NST Y có đặc thù
riêng.
1.2.2. Phân loại nhiễm sắc thể
Ở người bộ NST 2n = 46 trong đó có 22 cặp NST thường (autochromosome)
và 1 cặp NST giới tính (sex chromosome). Dựa vào đặc điểm hình thái như độ dài,
vị trí tâm động người ta sắp xếp các NST thành từng nhóm. 46 NST người được
chia thành 7 nhóm, kí hiệu là A, B, C, D, E, F và G trên nguyên tắc dài trước ngắn
sau, nếu các NST bằng nhau thì tâm giữa đặt trước, tâm lệch đặt sau.
 Nhóm A có 3 cặp NST có kích thước lớn nhất, gọi tên từ số 1 đến 3, cặp số 1
tâm giữa, cặp số 2 tâm lệch, cặp số 3 tâm giữa.
 Nhóm B có 2 cặp NST số 4 và 5. Các NST này có kích thước lớn và đều có
tâm lệch.

6
 Nhóm C có 7 cặp từ số 6 đến 12 có chiều dài trung bình. NST X cũng được
xếp vào nhóm này. Tất cả đều tâm gần giữa và khó phân biệt.
 Nhóm D có 3 cặp từ số 13 đến 15 gồm các NST có nhánh ngắn rất ngắn, gần
như không đáng kể gọi là các NST tâm đầu (acrocentric). Tất cả 3 cặp NST
này đều có vệ tinh ở nhánh ngắn.
 Nhóm E có 3 cặp 16, 17,18 tương đối ngắn. NST số 16 tâm giữa, 17 và 18
tâm lệch.

tử cung còn phụ thuộc vào trisomi về NST nào trong bộ NST. Trong số 22 cặp NST
thường, chỉ có trisomi nhóm D (13,14,15), trisomi 18 và trisomi 21 thai nhi có thể
sống ở bên ngoài tử cung, đặc biệt trisomi 21 có khả năng sống lâu hơn, thậm chí có
thể sống đến tuổi trưởng thành. Nhìn chung trisomi của nhóm A (1-3), nhóm B (4-
5) hoặc nhóm C (6-12), phôi thai thường chết ở giai đoạn sớm trong tử cung.
Những dòng tế bào hoặc hợp tử monosomi NST thường, nhìn chung không
có khả năng phát triển và thường chết ở giai đoạn sớm.
* Lệch bội NST giới tính
Trường hợp trisomi thuần NST giới tính, thai nhi có thể phát triển được đến
tuổi trưởng thành, nhưng thường có các bất thường, dị tật ở cơ quan sinh dục và một
số tính trạng khác bất thường, dị tật.
Chỉ có trường hợp monosomi NST giới X là có khả năng sống đến tuổi
trưởng thành nhưng có những biểu hiện rối loạn phát triển hình thái của cơ thể, về
cơ quan sinh dục và có thể chậm phát triển trí tuệ.

8
* Thể khảm lệch bội: NST thường và giới tính tức là cá thể có từ hai hoặc nhiều
dòng, hay gặp nhất là một dòng tế bào lưỡng bội và một dòng tế bào lệch bội hoặc
là thừa một NST (trisomi) hoặc là thiếu một NST (monosomi).
* Lệch bội phức tạp – (lệch bội kép): trong tế bào của cơ thể có dư 2 NST ở hai cặp
tương đồng khác nhau (thông thường là một cặp NST thường và một cặp NST giới
tính).
1.2.3.2. Rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể
* Mất đoạn (deletion): là hiện tượng NST bị đứt rời ra một hoặc nhiều đoạn, đoạn
bị đứt rời ra không có tâm sẽ tiêu biến đi hoặc gắn sang NST khác, phần còn lại
mang tâm trở lên ngắn hơn bình thường. Mất đoạn gồm các dạng: mất đoạn cuối
đơn, mất đoạn cuối kép, mất đoạn giữa.
Sự mất đoạn NST tức là sự mất đi vật liệu di truyền và tùy theo mức độ tổn
thương nhiều hay ít mà ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của phôi thai, hoặc thai nhi
sinh ra với nhiều dị tật. Ở người tần số gặp mất đoạn rất hiếm. Ví dụ: hội chứng


10
thể, chuyển đoạn hòa hợp tâm chiếm tỷ lệ khoảng 1,23% ở trẻ sơ sinh còn sống
[14].
Ở những người mang chuyển đoạn hòa hợp tâm trong bộ NST có 45 chiếc
thiếu 2 NST tâm đầu và thay vào đó 1 NST tâm giữa có kích thước lớn nếu là sự
chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D) hoặc 1 NST có kích thước
trung bình tâm lệch nếu là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với các NST
nhóm G (D/G) hoặc 1 NST kích thước nhỏ tâm giữa nếu là sự chuyển đoạn giữa các
NST nhóm G với các NST nhóm G (G/G).
Những người mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm thì có phenotype bình
thường nhưng trong quá trình hình thành giao tử, hợp tử và sinh ra những đứa con
hoặc là monosomi (thường chết trong thời kỳ bào thai) hoặc có bộ NST bình thường
hoặc mang chuyển đoạn hòa hợp tâm giống như bố mẹ, hoặc mang chuyển đoạn
không cân bằng (chết trong thời kỳ bào thai hoặc sinh ra bị dị tật bẩm sinh) [50].

Hình 2. Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của ngƣời mang chuyển đoạn hòa
hợp tâm t(14q;21q). 11

Hình 3. Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của ngƣời mang chuyển đoạn hòa
hợp tâm t(21q;21q).
* Lặp đoạn (duplication) là hiện tượng một đoạn nào đó của NST được nhân đôi
lên. Lặp đoạn xảy ra khi 2 NST tương đồng ghép đôi với nhau không tương xứng
trong kỳ đầu của phân bào giảm phân, có sự đứt của 2 NST và trao đổi đoạn giữa 2
đoạn khác nhau của 2 NST trong cặp tương đồng. Trong trường hợp này có 2 NST
bị thay đổi cấu trúc, nhưng không mất đi hoặc tăng thêm vật liệu di truyền trong tế
bào. Khi các NST trong cặp tương đồng này phân ly nhau trong giảm phân sẽ tạo ra

Một nghiên cứu khác trên 202 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp được thực hiện
bởi Kroshikina VG và cs năm 1984 cho thấy tỷ lệ các cặp mà một trong hai người
có rối loạn NST là 2,5% [44].
Năm 1998 Fryns JP và Buggenhout GV khi phân tích NST của 1743 cặp vợ
chồng sảy thai liên tiếp các tác giả đã phát hiện 5,34% trong số họ mang bất thường
NST [33].

13
Khi tiến hành làm xét nghiệm NST cho 61 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai
liên tiếp từ hai lần trở lên. Jiang J. và cs (2001) đã phát hiện 7 cặp vợ chồng (chiếm
tỷ lệ 11,5%) có một trong hai người bị rối loạn NST [42].
M. Azim năm 2003 đã sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G phân tích NST ở cả
hai vợ chồng của 300 cặp có hai hoặc nhiều hơn hai lần sảy thai tự nhiên. Kết quả
cho thấy có 16 cặp (chiếm tỷ lệ 5,3%) có bất thường NST ở một trong hai vợ hoặc
chồng [16].
Nghiên cứu ở 742 cặp vợ chồng (1484 trường hợp) có tiền sử sảy thai liên
tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh. Dubey và cs (2005) phân tích NST và lập
karyotype ở những cặp vợ chồng này đã phát hiện được 31 trường hợp ( chiếm tỷ lệ
2%) có bất thường về NST [22].
Lakshmi Rao và cs (2005) đã phân tích NST tổng số 160 cặp với tiền sử sảy
thai liên tiếp sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G. Kết quả phát hiện 18 trường hợp
mang rối loạn NST chiếm 11,25% tổng số các cặp nghiên cứu [46].
Năm 2006 Figen Celepa và cs đã phân tích NST của 645 cặp ( 1290 trường
hợp) có tiền sử sảy thai liên tiếp. Kết quả tìm thấy có 25 trường hợp (chiếm tỷ lệ
3,86%) mang bất thường NST [27].
Theo Razied Dehghani Firoozabadi và cs năm 2006: Phân tích NST của 88
cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp. Kết quả cho thấy 12.5% trong số họ mang
bất thường NST [59].
L.V.Tavokina và cs (2007) đã phát hiện 46 trường hợp (10,95%) có
karyotype mang rối loạn NST khi phân tích NST của 210 cặp vợ chồng có vấn đề

Một báo cáo khác của Franssen M T M và cs (2007) khi nghiên cứu về vai
trò của bất thường cấu trúc NST ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp từ 2 lần trở

15
lên. Các tác giả cũng cho biết bất thường NST ở người vợ cao hơn ở người chồng
[31].
Simona Farcas và cs (2007) khi phân tích NST tế bào máu ngoại vi ở cả hai
bố và mẹ của 260 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp. Các tác giả đã phát hiện được ở
người nam mang NST chuyển đoạn chiếm tỷ lệ 1,53%, người nữ mang NST chuyển
đoạn chiếm tỷ lệ 4,23% [63].
1.3.3. Tần số các kiểu chuyển đoạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai
và sinh con bị dị tật
Chuyển đoạn NST được ghi nhận là kiểu rối loạn cấu trúc NST hay gặp nhất
ở những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp ở giai đoạn sớm và sinh con bị dị
tật bẩm sinh [63].
Phân tích NST trên 136 cặp vợ chồng với tiền sử sảy thai 2 lần trở lên. U
Diedrich và cs (1983) đã chỉ ra rằng chuyển đoạn của NST số 1,7 hoặc 22 thì có
nhiều khả năng dẫn đến sảy thai. Trong khi đó chuyển đoạn ở những NST khác ví
dụ: NST số 5, 9, 14, 21 thì có nhiều khả năng sinh ra những đứa trẻ dị tật [23].
A.Lippman-Hand (1983) đã phân tích NST của 177 cặp vợ chồng có tiền sử
sảy thai liên tiếp từ hai lần trở lên. Kết quả chỉ ra rằng 2-3% các cặp vợ chồng có
tiền sử sảy thai sớm mang chuyển đoạn cân bằng [13].
Fortuny và cs (1988) đã phân tích NST và lập karyotype ở 445 cặp vợ chồng
có tiền sử sảy thai liên tiếp. Trong tổng số các cặp nghiên cứu các tác giả đã phát
hiện 19 cặp vợ chồng (chiếm tỷ lệ 4,2%) mang NST chuyển đoạn [30].
M. Azim năm 2003 đã sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G phân tích NST ở cả
hai vợ chồng của 300 cặp có hai hoặc nhiều hơn hai lần sảy thai tự nhiên. Kết quả
cho thấy có 7 trường hợp mang rối loạn NST kiểu chuyển đoạn [16].
Razied Dehghani Firoozabadi M.D và cs (2006): Phân tích NST của 88 cặp
vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp kết quả cho thấy 2,27% trong số họ mang rối

17
chuyển đoạn có 9 trường hợp mang chuyển đoạn tương hỗ (chiếm 1,73%) và 6
trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm (chiếm 1.15%) [63].
A L Zarina và cs (2006) cho biết chuyển đoạn tương hỗ chiếm 0,2% trong
dân số. Tuy nhiên ở những cặp vợ chồng có nhiều hơn 3 lần sảy thai ở 3 tháng đầu
tiên thì tỷ lệ này có thể tăng tới 9,2% [72].
Usha R. Dutta (2010) và cs đã phân tích NST của 1162 cặp vợ chồng có tiền
sử sảy thai liên tiếp ở vùng phía nam Ấn độ. Nghiên cứu này chỉ ra rằng phần lớn
các trường hợp bất thường được tìm thấy là chuyển đoạn tương hỗ cân bằng. Trong
78 trường hợp bất thường có 3 loại chuyển đoạn giữa các cặp NST lần đầu tiên
được phát hiện bao gồm (3;14), (18;22) và (X;22) [71].
Trong rối loạn cấu trúc NST kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm có chuyển đoạn
giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D), chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với
các NST nhóm G (D/G) hoặc chuyển đoạn giữa các NST nhóm G với các NST
nhóm G (G/G). Dưới đây là một số các nghiên cứu về chuyển đoạn hòa hợp tâm ở
những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh.
Khi nghiên cứu một cặp vợ chồng 25 tuổi với tiền sử 2 lần sảy thai liên tiếp.
PR Scarbrough và cs (1984) thực hiện băng G trên tế bào của người chồng phát hiện
sự có mặt của chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 13 (thuộc nhóm D) với NST
số 14 (thuộc nhóm D), karyotype của chồng 45,XY,t(13q;14q). Phân tích NST của
người vợ phát hiện chuyển đoạn tương hỗ cân bằng giữa NST số 7 và NST số 13,
karyotype là 46,XX,t(7;13)(p21;q22) [61].
Một cặp vợ chồng 41 tuổi có tiền sử 11 lần sảy thai liên tiếp được Anil
Biricik và cs (2004) phân tích NST và lập karyotype. Kết quả người chồng mang
NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 15 (thuộc nhóm D) với NST số 15
(thuộc nhóm D), karyotype là 45,XY,t(15q;15q), người vợ có karyotype bình
thường 46,XX [14].

18
391 cặp vợ chồng có con mắc bệnh Down được Stoll.C và cs (1998) phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status