LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn
Văn Rực, Phó trưởng bộ môn Y sinh học – Di truyền, Đại học Y Hà Nội, người
thầy trực tiếp hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Ngô Giang Liên người đã tận tình góp ý
cũng như động viên, cổ vũ tinh thần cho tôi trong quá trình làm luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, các kỹ thuật viên tại Bộ môn Y sinh
học – Di truyền, Đại học Y Hà Nội đã chỉ bảo, động viên, tạo điều kiện tốt và giúp
đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn Tế bào – Mô phôi, Đại
học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, tạo điều
kiện để tôi hoàn thành bản luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè những
người đã luôn động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập để tôi hoàn
thành được bản luận văn này.
Tác giả
Đặng Thị Nhâm
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BrdU:
Bromodeoxyuridin
ISCN:
An International System for Human Cytogenetic Nomenclature
vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh.................................15
1.3.3.Tần số các kiểu chuyển đoạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai
và sinh con bị dị tật.............................................................................................16
1.3.3.1.Tần số giữa chuyển đoạn tương hỗ và chuyển đoạn hòa hợp tâm....17
1.3.3.2.Tần số các kiểu rối loạn khác ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và
sinh con bị dị tật bẩm sinh.............................................................................20
1.4.Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng sảy thai liên
tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh ở Việt Nam...............................................21
CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................23
2.1.Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................23
2.1.1.Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân......................................................................24
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ....................................................................................24
2.2.Phương pháp nghiên cứu..................................................................................24
2.2.1.Lập hồ sơ bệnh án di truyền......................................................................24
2.2.2.Phương pháp nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu ngoại vi để thu
hoạch cụm kỳ giữa, phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotype.........................24
2.2.3.Xử lý số liệu .............................................................................................28
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN..............................................................30
3.1.Tuổi của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh. .30
3.2.Nghề nghiệp của các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm
sinh...................................................................................................................32
3.3.Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh
con bị dị tật bẩm sinh......................................................................................34
3.4.Biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giữa người vợ và người chồng ở các cặp vợ
chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh...................................36
3.5.Các biểu hiện về rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp
và sinh con bị dị tật bẩm sinh..........................................................................38
3.6.Các kiểu chuyển đoạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử ở người mang chuyển đoạn tương hỗ
giữa NST số 3 và NST số 21........................................................................................9
Hình 2. Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của người mang chuyển đoạn hòa hợp
tâm t(14q;21q)............................................................................................................11
Hình 3. Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử của người mang chuyển đoạn hòa hợp
tâm t(21q;21q)............................................................................................................12
Hình 144. Karyotype của bệnh nhân Trương Thị Ng. 47XXX/46XX......................61
MỞ ĐẦU
Năm 1956 Tijo và Levan là người đầu tiên đã nuôi cấy tế bào thai người và
gây sốc nhược trương để làm cho các NST (NST) dàn đều trên tiêu bản đã phát hiện
chính xác số lượng NST của người là 46 chiếc gồm 23 cặp, trong đó 22 cặp NST
thường và 1 cặp NST giới tính (ở người nữ là XX, ở người nam là XY). Từ đó đến
nay, NST của người luôn là đề tài nghiên cứu của các nhà di truyền học trên nhiều
đối tượng và các bệnh lý lâm sàng khác nhau.
Những năm gần đây các phương pháp nuôi cấy mô và các kỹ thuật nhuộm
tiêu bản ngày càng phát triển và được cải tiến không ngừng, đặc biệt là kỹ thuật
nhuộm băng G (GTG) đã cho phép các nhà di truyền học phát hiện được chính xác
từng chiếc NST và những rối loạn cấu trúc của NST như mất đoạn, lặp đoạn,
chuyển đoạn, đảo đoạn…
Ở những cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm
sinh có thể do nhiều nguyên nhân như nhiễm trùng, hocmon, các bệnh mãn tính, bất
thường tử cung, bất thường NST… Đặc biệt đối với thai sảy sớm (dưới 3 tháng
trong thời kỳ mang thai) thì phôi thai mang bất thường NST đóng vai trò chủ yếu
[11]. Trường hợp này nguyên nhân có thể do bố hoặc mẹ mang rối loạn NST cân
bằng dẫn đến không phân ly NST ở các cặp NST nào đó tạo nên những giao tử bất
1.1. Lược sử nghiên cứu về nhiễm sắc thể người
Bộ NST người là đối tượng chính trong các nghiên cứu tế bào di truyền học
loài người. Các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu NST người từ cuối thế kỷ XIX
và được đánh dấu bằng công trình mở đầu của Walther Flemming (1882) [26]. Ông
đã quan sát NST của người ở các kỳ phân bào trên tiêu bản tươi, cắt mảnh lấy từ
tinh hoàn. Trong thời gian đó, NST của người là vấn đề được các nhà di truyền học
quan tâm, nghiên cứu và cũng là đề tài được đem ra tranh luận nhiều lần. Tuy nhiên
ở thời kỳ ấy do những hạn chế về kỹ thuật làm tiêu bản, mẫu vật không đáp ứng và
không phù hợp cho việc nghiên cứu chi tiết NST. Ở người, số lượng NST nhiều,
kích thước nhỏ và thường tập trung thành từng đám, với những kỹ thuật cắt mảnh,
cố định và nhuộm thông thường, các nhà di truyền tế bào chưa thể đếm chính xác
nên đã cho rằng trong nhân của tế bào người có 48 NST, gồm 23 cặp NST thường
và 1 cặp NST giới tính (Winiwarter. V, 1912; Painter, T.S, 1923; Levitsky, G.A,
1924) [49,57,75].
Những năm thuộc thập kỉ 50 của thế kỉ XX có những phát hiện quan trọng
khai sinh ra chuyên ngành di truyền tế bào người, bằng việc xử lý tế bào bằng sốc
nhược trương của Hsu, T.C (1952), Ford, C.E và Hamerton, J.L (1956) tiền xử lý tế
bào nuôi cấy bằng colchicine để tích lũy nhiều cụm kì giữa. Công trình của Tjio,
J.H và Levan (1956) kết hợp xử lý nhược trương và colchicine đã công bố nghiên
cứu xác định lại bộ NST 2n của người là 46 NST chứ không phải là 48 NST và
công trình này đã được Ford và Hamerton khẳng định [28].
Từ năm 1956 có nhiều phòng thí nghiệm tế bào di truyền được xây dựng để
nghiên cứu NST. Các công trình đầu tiên công bố các rối loạn NST liên quan với
bệnh là công trình của Lejeune (1958-1959) về hội chứng Down do thừa một NST
21 dạng trisomi 21, hội chứng Turner do tế bào cơ thể chỉ có 45 NST dạng 45,X
thiếu một NST giới tính X (Ford, 1959), hội chứng Klinefelter ở nam với 47 NST
3
1.2.1. Tiêu chuẩn để xếp loại nhiễm sắc thể trong lập karyotype.
Lúc đầu người ta chỉ căn cứ vào chiều dài của NST để căn cứ và đặt tên cho
chúng từ 1 đến 23 theo thứ tự từ dài đến ngắn (công ước Denver 1960), nhưng ngay
sau đó cũng năm 1960 Patau không đồng ý và đề xuất thêm tiêu chuẩn vị trí phần
tâm, sau này được quốc tế chính thức chấp nhận.
- Chiều dài tương đối của NST : đó là tỷ lệ giữa chiều dài của một NST so
với chiều dài của cả bộ NST trung bình, tức là chiều dài tổng cộng của tất cả các
NST thường của bộ đơn bội có chứa NST X tính theo phần nghìn trong cùng một
tế bào.
- Vị trí của phần tâm được biểu hiện bằng chỉ số phần tâm, tức là tỷ lệ giữa
chiều dài nhánh ngắn trên tổng chiều dài của cả NST.
Ngoài ra còn có một số tiêu chuẩn chi tiết khác vận dụng cho các NST có
nhánh ngắn rất ngắn (NST tâm đầu) và các vệ tinh của chúng, NST Y có đặc thù
riêng.
1.2.2. Phân loại nhiễm sắc thể
Ở người bộ NST 2n = 46 trong đó có 22 cặp NST thường (autochromosome)
và 1 cặp NST giới tính (sex chromosome). Dựa vào đặc điểm hình thái như độ dài,
vị trí tâm động người ta sắp xếp các NST thành từng nhóm. 46 NST người được
chia thành 7 nhóm, kí hiệu là A, B, C, D, E, F và G trên nguyên tắc dài trước ngắn
sau, nếu các NST bằng nhau thì tâm giữa đặt trước, tâm lệch đặt sau.
• Nhóm A có 3 cặp NST có kích thước lớn nhất, gọi tên từ số 1 đến 3, cặp số 1
tâm giữa, cặp số 2 tâm lệch, cặp số 3 tâm giữa.
• Nhóm B có 2 cặp NST số 4 và 5. Các NST này có kích thước lớn và đều có
tâm lệch.
5
• Nhóm C có 7 cặp từ số 6 đến 12 có chiều dài trung bình. NST X cũng được
xếp vào nhóm này. Tất cả đều tâm gần giữa và khó phân biệt.
-
Thể khảm (3n/2n) hoặc (4n/2n) đứa trẻ có thể sống được vài năm nhưng
chậm phát triển trí tuệ và nhiều dị tật bẩm sinh khác: dị dạng mắt, thoát vị
màng tủy, dị tật tim, dị tật cơ quan sinh dục…
Karyotype ở những đứa trẻ này là:
46,XY/69,XXY hoặc 46,XX/92,XXYY
* Lệch bội: là hiện tượng số lượng NST của tế bào tăng lên hoặc giảm đi một hoặc
vài NST so với bộ NST lưỡng bội.
* Lệch bội NST thường
Ở người, hợp tử trisomi thuần NST thường có được tiếp tục phát triển hay
không, số lượng các dị tật và khả năng sống sót của thai ở bên trong hay bên ngoài
tử cung còn phụ thuộc vào trisomi về NST nào trong bộ NST. Trong số 22 cặp NST
thường, chỉ có trisomi nhóm D (13,14,15), trisomi 18 và trisomi 21 thai nhi có thể
sống ở bên ngoài tử cung, đặc biệt trisomi 21 có khả năng sống lâu hơn, thậm chí có
thể sống đến tuổi trưởng thành. Nhìn chung trisomi của nhóm A (1-3), nhóm B (45) hoặc nhóm C (6-12), phôi thai thường chết ở giai đoạn sớm trong tử cung.
Những dòng tế bào hoặc hợp tử monosomi NST thường, nhìn chung không
có khả năng phát triển và thường chết ở giai đoạn sớm.
* Lệch bội NST giới tính
Trường hợp trisomi thuần NST giới tính, thai nhi có thể phát triển được đến
tuổi trưởng thành, nhưng thường có các bất thường, dị tật ở cơ quan sinh dục và một
số tính trạng khác bất thường, dị tật.
Chỉ có trường hợp monosomi NST giới X là có khả năng sống đến tuổi
trưởng thành nhưng có những biểu hiện rối loạn phát triển hình thái của cơ thể, về
cơ quan sinh dục và có thể chậm phát triển trí tuệ.
* Thể khảm lệch bội: NST thường và giới tính tức là cá thể có từ hai hoặc nhiều
8
nhau về kích thước. Người mang NST chuyển đoạn tương hỗ có phenotype hoàn
toàn bình thường và trong bộ NST chứa 46 chiếc với 2 NST bất thường. Trong quá
trình hình thành giao tử, hợp tử và sinh ra những đứa con hoặc là monosomi
(thường chết) hoặc trisomi hoặc có karyotype bình thường hoặc mang chuyển đoạn
cân bằng giống bố mẹ. Dưới đây là sơ đồ mô tả quá trình hình thành giao tử và hợp
tử ở những người mang chuyển đoạn tương hỗ.
Hình 1. Sơ đồ hình thành giao tử và hợp tử ở người mang chuyển đoạn tương
hỗ giữa NST số 3 và NST số 21.
- Chuyển đoạn hòa hợp tâm (Robertsonian translocation): Chuyển đoạn hòa
9
hợp tâm là do phần tâm của hai NST hợp nhất hình thành và hay gặp nhất là sự
chuyển đoạn giữa các NST tâm đầu số 13,14,15 (nhóm D), số 21,22 (nhóm G) bao
gồm là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D) hoặc giữa nhóm
D với nhóm G (D/G) hoặc giữa nhóm G với nhóm G (G/G). Nhìn chung trong quần
thể, chuyển đoạn hòa hợp tâm chiếm tỷ lệ khoảng 1,23% ở trẻ sơ sinh còn sống
[14].
Ở những người mang chuyển đoạn hòa hợp tâm trong bộ NST có 45 chiếc
thiếu 2 NST tâm đầu và thay vào đó 1 NST tâm giữa có kích thước lớn nếu là sự
chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D) hoặc 1 NST có kích thước
trung bình tâm lệch nếu là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với các NST
nhóm G (D/G) hoặc 1 NST kích thước nhỏ tâm giữa nếu là sự chuyển đoạn giữa các
NST nhóm G với các NST nhóm G (G/G).
12
giữa hai điểm đứt quay ngược 1800 rồi nối lại, do đó một số gen bị đảo ngược thứ
tự so với đoạn ban đầu. Có ba kiểu đảo đoạn: đảo đoạn ngoài tâm, đảo đoạn quanh
tâm đối xứng, đảo đoạn quanh tâm không đối xứng.
- Đảo đoạn ngoài tâm: hai chỗ đứt ở cùng một nhánh của NST và đoạn đảo
không chứa tâm, NST không thay đổi hình thái.
- Đảo đoạn quanh tâm đối xứng: hai chỗ đứt ở hai nhánh và cách đều tâm,
NST không thay đổi hình thái.
- Đảo đoạn quanh tâm không đối xứng: hai chỗ đứt ở hai nhánh, khoảng cách
tâm không đều nhau, NST có cấu trúc lại và thay đổi hình thái.
1.3. Tình hình nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng có tiền sử
sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh trên thế giới
1.3.1. Tần số rối loạn nhiễm sắc thể trong những cặp vợ chồng sảy thai liên
tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh
U Diedrich và cs (1983) nghiên cứu di truyền tế bào ở 136 cặp vợ chồng với
tiến sử sảy thai hai lần trở lên. Các tác giả đã phát hiện 15 trường hợp (chiếm tỷ lệ
11%) có bất thường NST [23].
Báo cáo của J.P. Fryns và cs (1984) khi phân tích NST trong 1068 cặp với
tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh ra con bị dị tật bẩm sinh. Trong tổng số 1068 cặp
được nghiên cứu, có 59 trường hợp mang bất thường NST (chiếm 5,5%) [32].
Một nghiên cứu khác trên 202 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp được thực hiện
bởi Kroshikina VG và cs năm 1984 cho thấy tỷ lệ các cặp mà một trong hai người
có rối loạn NST là 2,5% [44].
Năm 1998 Fryns JP và Buggenhout GV khi phân tích NST của 1743 cặp vợ
chồng sảy thai liên tiếp các tác giả đã phát hiện 5,34% trong số họ mang bất thường
NST [33].
14
1.3.2. Tần số rối loạn nhiễm sắc thể giữa người bố hoặc người mẹ ở những cặp
vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh
Năm 1981 Claude Stoll đã phân tích NST của 122 cặp vợ chồng có tiền sử
sảy thai liên tiếp từ ba lần trở lên. Sử dụng phương pháp nhuộm băng R các tác giả
đã phát hiện 5 người nữ và 1 người nam mang chuyển đoạn NST t(2;17), t(5;9),
t(11;12),t(17;22) và t(13q14q) [19].
Năm 1983 A.Lippman-Hand đã phân tích NST của 177 cặp vợ chồng có tiền
sử sảy thai liên tiếp từ hai lần trở lên. Kết quả chỉ ra rằng số phụ nữ mang rối loạn
NST chiếm tỷ lệ nhiều hơn nam giới [13].
J.P. Fryns và cs (1984) đã phân tích NST trong 1068 cặp với tiền sử sảy thai
liên tiếp và sinh ra con bị dị tật bẩm sinh. Các tác giả đã phát hiện trong số những
người mang NST chuyển đoạn thì chuyển đoạn hòa hợp tâm xảy ra ở nữ cao hơn ở
nam còn chuyển đoạn tương hỗ thì ngược lại xảy ra ở nam cao hơn ở nữ [32].
Phân tích NST của 391 cặp vợ chồng sinh con mắc bệnh Down Stoll.C và cs
(1998) đã phát hiện được 7 cặp bố mẹ (5 người mẹ và 2 người bố) mang NST
chuyển đoạn hòa hợp tâm [62].
M. Azim (2003) sử dụng kỹ thuật nhuộm băng G phân tích NST ở cả hai vợ
chồng của 300 cặp có hai hoặc nhiều hơn hai lần sảy thai tự nhiên. Tác giả phát hiện
thấy có 5 trường hợp mang đảo đoạn bao gồm: 1 trường hợp bố mẹ mang đảo đoạn
quanh tâm NST số 16, 3 người mẹ và 1 người bố mang đảo đoạn NST số 9 [16].
Theo Razied Dehghani Firoozabadi và cs (2006): Phân tích NST của 88 cặp
vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp cho thấy số phụ nữ mang bất thường về NST
nhiều hơn đáng kể so với nam giới [59].
Một báo cáo khác của Franssen M T M và cs (2007) khi nghiên cứu về vai
trò của bất thường cấu trúc NST ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp từ 2 lần trở
lên. Các tác giả cũng cho biết bất thường NST ở người vợ cao hơn ở người chồng
16
Theo A L Zarina và cs (2006) sảy thai tự nhiên là một hiện tượng phổ biến
chiếm tỉ lệ 1/8 các trường hợp mang thai. Các tác giả cũng cho biết gần 5% các
trường hợp sảy thai là do bố mẹ mang rối loạn NST chuyển đoạn cân bằng [72].
Phân tích NST tế bào máu ngoại vi ở cả hai bố và mẹ của 260 cặp vợ chồng
sảy thai liên tiếp từ 2 lần trở lên được thực hiện bởi Simona Farcas và cs (2007).
Kết quả cho thấy trong tổng số 260 cặp này các trường hợp bất thường NST kiểu
chuyển đoạn chiếm 2,88% [63].
1.3.3.1. Tần số giữa chuyển đoạn tương hỗ và chuyển đoạn hòa hợp tâm
Năm 1984 J.P. Fryns và cs đã báo cáo kết quả phân tích NST trong 1068 cặp
với tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh ra con bị dị tật bẩm sinh. Có 33 trường hợp
mang chuyển đoạn tương hỗ (chiếm tỷ lệ 3,09%) và 20 trường hợp mang chuyển
đoạn hòa hợp tâm (chiếm tỷ lệ 1,87%) [32].
Mauro Campana và cs (năm 1986) nghiên cứu 5445 cặp vợ chồng có sảy thai
tự nhiên liên tiếp. Kết quả 5% trong số những cặp vợ chồng này có một trong hai
người vợ hoặc chồng mang chuyển đoạn cân bằng, trong đó chuyển đoạn tương hỗ
chiếm 2/3 và chuyển đoạn hòa hợp tâm chiếm 1/3 [52].
Phân tích NST và lập karyotype ở 445 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên
tiếp, Fortuny và cs (1988) đã phát hiện trong các cặp vợ chồng mang rối loạn NST
kiểu chuyển đoạn có 16 cặp mang chuyển đoạn tương hỗ và 3 cặp mang chuyển
đoạn hòa hợp tâm [30].
Jiang J. và cs năm 2001 đã tiến hành làm xét nghiệm NST cho 61 cặp vợ
chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp từ hai lần trở lên. Các tác giả phát hiện 1 trường
hợp mang chuyển đoạn tương hỗ và 5 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm
[42].
Năm 2007 khi Simona Farcas và cs phân tích NST của 260 cặp vợ chồng có
tiền sử sảy thai liên tiếp . Kêt quả trong tổng các trường hợp bất thường NST kiểu
391 cặp vợ chồng có con mắc bệnh Down được Stoll.C và cs (1998) phân
18
tích NST. Các tác giả đã phát hiện được 7 cặp bố mẹ mang NST chuyển đoạn hòa
hợp tâm cân bằng giữa NST số 14 (nhuộc nhóm D) và NST số 21 (thuộc nhóm G).
Karyotype ở những người mẹ là 45,XX,t(14q;21q) và ở những người bố là
45,XY,t(14q;21q) [62].
Phân tích NST trong một gia đình mang thai lần thứ nhất có con gái bình
thường, lần thứ 2 bị sảy và lần thứ 3 sinh được một trẻ trai mắc bệnh Down. Cyril
cyrus và cs (2006) phát hiện ở người vợ có karyotype bình thường là 46,XX, chồng
là người bình thường nhưng mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 13
(thuộc nhóm D) với NST số 21 (thuộc nhóm G), karyotype của chồng là
45,XY,t(13q;21q) [20].
Ngoài rối loạn cấu trúc kiểu chuyển đoạn giữa 2 NST như trên, đã có một số
báo cáo về chuyển đoạn NST phức tạp sau đây:
Ulrike A Mau và cs (2000) đã báo cáo kết quả phân tích NST trong một gia
đình có một trẻ mắc bệnh Down do chuyển đoạn với karyotype là
46,XY,t(15q;21q). Người bố có karyotype bình thường 46, XY, người mẹ mang
NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 15 (thuộc nhóm D) với NST số 21
(thuộc nhóm G) và đảo đoạn quanh tâm NST số 21, karyotype là
45,XX,t(15q;21q),inv(21)(q21.1q22.1) [70].
Một trường hợp rối loạn NST cân bằng phức tạp bao gồm NST số 9, 14 và
13 ở người phụ nữ với tiền sử sảy thai liên tiếp được Sei Kwang Kim và cs (2001)
nghiên cứu. Phân tích NST cho thấy karyotype của chồng bình thường, karyotype
của vợ mang rối loạn NST cân bằng phức tạp bao gồm NST 9, 14 và 13, có 3 điểm
đứt: 9p21.2, 14q21 và 13q12.2, karyotype của vợ là 46,XX,t(9;14;13)
(p21.2,q21;q12.2) [64].
Năm 2009 Priya A.Iyer và cs đã báo cáo về một trường hợp ở người phụ nữ