Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRẦN CÚC ÁNH
NGHIÊN CỨU BỘ NHIỄM SẮC THỂ Ở NHỮNG CẶP
VỢ CHỒNG VÔ SINH NGUYÊN PHÁT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRẦN CÚC ÁNH


Luận văn Thạc sỹ Khoa học

Trần Cúc Ánh Cao học K18-Sinh học
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Lược sử nghiên cứu về nhiễm sắc thể người 3
1.2. Các cơ chế gây rối loạn nhiễm sắc thể người 4
1.2.1. Rối loạn số lượng 4
1.2.2. Rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể 8
1.3. Tình hình nghiên cứu vô sinh 10
1.3.1. Một số khái niệm về vô sinh 10
1.3.2. Nguyên nhân vô sinh do người vợ 10
1.3.2.1. Các nguyên nhân không do yếu tố di truyền 10
1.3.2.2. Nguyên nhân do yếu tố di truyền 13
1.3.3. Nguyên nhân vô sinh do người chồng 13
1.3.3.1. Các nguyên nhân không do yếu tố di truyền 13
1.3.3.2. Nguyên nhân do yếu tố di truyền 16
1.4. Tình hình nghiên cứu nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên
phát 17
1.4.1. Trên thế giới 17

3.5.1. Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở người vợ trong các cặp vợ chồng vô
sinh nguyên phát 42
3.5.1.1. Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở người vợ 42
3.5.1.2. Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể thường ở người vợ 45
3.5.2. Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở người chồng trong các cặp vợ chồng
vô sinh nguyên phát 52
3.5.2.1. Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở người chồng 52
3.5.2.2. Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể thường ở người chồng 57
KẾT LUẬN 60
KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………….63
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Luận văn Thạc sỹ Khoa học

Trần Cúc Ánh Cao học K18-Sinh học
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Sự phân bố theo tuổi của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 32
Bảng 2. Sự phân bố về nghề nghiệp của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 36
Bảng 3. Tỷ lệ rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát của một
số tác giả trên thế giới 39
Bảng 4. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng vô sinh
nguyên phát 42
Bảng 5. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở người vợ 43
Bảng 6. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể thường ở người vợ 45
Bảng 7. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở người chồng 52
Bảng 8. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể thường ở người chồng 55

Luận văn Thạc sỹ Khoa học

Trần Cúc Ánh 1 Cao học K18-Sinh học
MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống của mỗi con người, gia đình và con cái là nguồn hạnh phúc
chính đáng và là động lực của sự trường tồn nòi giống. Khi một cặp vợ chồng không
thể thực hiện được chức năng sinh sản thì họ phải đối mặt với nhiều áp lực của gia đình
và xã hội. Chẩn đoán và điều trị ở những cặp vợ chồng hiếm muộn là vấn đề mang lại
tính nhân văn rất lớn, mang lại hạnh phúc cho các cá nhân, gia đình và có ý nghĩa xã
hội sâu sắc. Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới (WHO), một cặp vợ chồng gọi là
vô sinh khi sống cùng nhau trong vòng một năm và không dùng biện pháp tránh thai
nào mà vẫn không có con. Theo thống kê của các tác giả trên thế giới, tỷ lệ vô sinh
chiếm khoảng 15% các cặp vợ chồng [39]. Ở Việt Nam theo thống kê từ những năm
80, có khoảng 7-10% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ bị vô sinh. Hiện nay, vô
sinh chiếm tỷ lệ 12-13% tổng số các cặp vợ chồng, tương đương với gần 1 triệu cặp vợ
chồng [10].
Vậy vô sinh ở các cặp vợ chồng này là do người vợ hay người chồng? Từ xưa
kể cả các nước phát triển, người ta cho rằng nguyên nhân vô sinh thường do người vợ.

phương pháp điều trị thích hợp để đưa ra những lời khuyên di truyền cho các bệnh
nhân này.
Với mong muốn góp phần nhỏ vào công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản và giữ
gìn hạnh phúc gia đình cho các cặp vợ chồng, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát” nhằm mục tiêu:
Phát hiện các trường hợp rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô
sinh nguyên phát Luận văn Thạc sỹ Khoa học

Trần Cúc Ánh 3 Cao học K18-Sinh học
Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lược sử nghiên cứu về nhiễm sắc thể người
Bộ NST người là đối tượng chính trong các nghiên cứu tế bào di truyền học loài
người. Các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu NST người từ cuối thế kỷ XIX. Năm
1842, Nageli phát hiện ra NST và được đánh dấu bằng công trình mở đầu của Walther
Flemming (1882) [24]. Ông đã quan sát NST của người ở các kỳ phân bào trên tiêu bản
tươi, cắt mảnh lấy từ tinh hoàn. Trong thời gian đó, NST của người là vấn đề được các
nhà di truyền học quan tâm, nghiên cứu và cũng là đề tài được đem ra tranh luận nhiều
lần. Tuy nhiên ở thời kỳ ấy do những hạn chế về kỹ thuật làm tiêu bản, mẫu vật không
đáp ứng và không phù hợp cho việc nghiên cứu chi tiết NST. Ở người, số lượng NST
nhiều, kích thước nhỏ và thường tập trung thành từng đám, với những kỹ thuật cắt
mảnh, cố định và nhuộm thông thường, các nhà di truyền tế bào chưa thể đếm chính
xác nên đã cho rằng trong nhân của tế bào người có 48 NST, gồm 23 cặp NST thường
và 1 cặp NST giới tính [37] [58]
Những năm thuộc thập kỉ 50 của thế kỉ XX có những phát hiện quan trọng khai

bệnh, tật, các hội chứng trong lâm sàng.
Từ năm 1980 đặc biệt là sau năm 1985 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, vượt bậc
của di truyền tế bào lâm sàng và di truyền phân tử ứng dụng trong nghiên cứu bộ gen
loài người. Trong di truyền tế bào thì việc nghiên cứu NST chủ yếu vẫn áp dụng các
phương pháp nhuộm băng NST để phát hiện các rối loạn cấu trúc: mất đoạn, lặp đoạn,
đảo đoạn và chyển đoạn…
1.2. Các cơ chế gây rối loạn nhiễm sắc thể người
1.2.1. Rối loạn số lượng
Rối loạn số lượng NST gồm hai dạng: đa bội (polyploidy) và lệch bội
(aneuploidy).
* Đa bội thể:
Là hiện tượng tăng chẵn hoặc tăng lẻ cả bộ NST. Ví dụ: ở người 3n = 69 NST =
Luận văn Thạc sỹ Khoa học

Trần Cúc Ánh 5 Cao học K18-Sinh học
thể tam bội (3n) thuộc dạng thể đa bội lẻ, 4n = 96 NST = thể tứ bội (4n) thuộc dạng thể
đa bội chẵn.
Cơ chế: có 3 cơ chế dẫn đến hiện tượng đa bội:
- Thụ tinh của các giao tử bất thường:
Bình thường, sau 2 lần phân chia của quá trình giảm phân, mỗi giao tử được tạo
thành chứa bộ NST đơn bội (n). Đôi khi, vì một nguyên nhân nào đó, các NST không
phân ly, cả hai bộ NST đi vào một giao tử, tạo nên giao tử bất thường chứa 2n NST
Thụ tinh của giao tử bình thường (n) với giao tử bất thường (2n) tạo hợp tử tam
bội (3n).
Thụ tinh của 2 giao tử, cả 2 đều bất thường (2n) tạo ra hợp tử tứ bội (4n)
- Sự phân chia bất thường của hợp tử:
Đôi khi trong các lần phân chia sớm bộ NST 2n của hợp tử nhân đôi nhưng tế
bào chất không phân chia theo nên hình thành các tế bào 4n, sau đó các tế bào này tiếp
tục phân chia tạo nên các phôi bào 4n, phát triển thành cơ thể tứ bội (4n).
Trong các lần phân chia sớm của hợp tử 2n có sự phân chia không đồng đều

phôi bào khác nhau được hình thành: một có 47 NST, một có 45 NST. Hai phôi bào
này tiếp tục phân chia tạo nên cơ thể có hai dòng tế bào lệch bội 47/45. Nếu dòng tế
bào có 45 NST không có khả năng sống, cơ thể chỉ có một dòng tế bào có 47 NST.
+ Nếu hiện tượng không phân ly xảy ra ở lần phân cắt thứ hai của hợp tử sẽ tạo
ra ba dòng tế bào có số lượng NST là 47/46/45. Dòng tế bào 45 NST không có khả
năng sống nên cơ thể ở dạng khảm với 2 dòng tế bào 47/46 NST. Nếu hiện tượng
không phân ly xảy ra nhiều lần trong quá trình phân cắt sẽ tạo cơ thể khảm phức tạp
hơn.
- Thất lạc nhiễm sắc thể:
Trong chu kỳ tế bào, ở kỳ sau nếu một NST nào đó không bám được vào thoi vô
sắc, không di chuyển được về cực tế bào, nằm lơ lửng ở tế bào chất, rồi bị tiêu biến đi,
do vậy một tế bào con bị thiếu một NST. Quá trình này có thể xảy ra trong quá trình
Luận văn Thạc sỹ Khoa học

Trần Cúc Ánh 7 Cao học K18-Sinh học
giảm phân hoặc xảy ra trong quá trình phân cắt của hợp tử, có thể xảy ra với NST
thường hoặc NST giới tính.
* Lệch bội nhiễm sắc thể thường
Ở người, hợp tử trisomy thuần NST thường có được tiếp tục phát triển hay
không, số lượng các dị tật và khả năng sống sót của thai ở bên trong hay bên ngoài tử
cung còn phụ thuộc vào trisomy về NST nào trong bộ NST. Trong số 22 cặp NST
thường, chỉ có trisomy nhóm D (13,14,15), trisomy 18 và trisomy 21 thai nhi có thể
sống ở bên ngoài tử cung, đặc biệt trisomy 21 có khả năng sống lâu hơn, thậm chí có
thể sống đến tuổi trưởng thành. Nhìn chung trisomy của nhóm A (1-3), nhóm B (4-5)
hoặc nhóm C (6-12), phôi thai thường chết ở giai đoạn sớm trong tử cung.
Những dòng tế bào hoặc hợp tử monosomy NST thường, nhìn chung không có
khả năng phát triển và thường chết ở giai đoạn sớm.
* Lệch bội nhiễm sắc thể giới tính
Trường hợp trisomy thuần NST giới tính, thai nhi có thể phát triển được đến
tuổi trưởng thành, nhưng thường có các bất thường, dị tật ở cơ quan sinh dục và một số

dục, hay gặp trong số đó là NST X hình vòng. Ví dụ: Hội chứng Turner: 46,Xr(Xq).
* Chuyển đoạn (Translocation):
Chuyển đoạn NST được xác định là hay gặp nhất trong rối loạn cấu trúc của
NST [22]. Có hai kiểu chuyển đoạn là chuyển đoạn tương hỗ (reciprocal translocation)
và chuyển đoạn hòa hợp tâm (Robertsonian translocation).
- Chuyển đoạn tương hỗ (reciprocal translocation): là hiện tượng trao đổi đoạn
giữa hai NST. Mỗi NST đứt một chỗ, trao đổi đoạn đứt cho nhau và hình thành hai
NST mới. Cả hai đều thay đổi hình thái nếu những đoạn trao đổi khác nhau về kích
thước.
- Chuyển đoạn hòa hợp tâm (Robertsonian translocation): Chỉ xảy ra đối với
các NST tâm đầu. Chuyển đoạn hòa hợp tâm là do phần tâm của hai NST hợp nhất
hình thành và hay gặp nhất là sự chuyển đoạn giữa các NST tâm đầu số 13,14,15
Luận văn Thạc sỹ Khoa học

Trần Cúc Ánh 9 Cao học K18-Sinh học
(nhóm D), số 21,22 (nhóm G) bao gồm là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với
nhóm D (D/D) hoặc giữa nhóm D với nhóm G (D/G) hoặc giữa nhóm G với nhóm G
(G/G)
Ở những người mang chuyển đoạn hòa hợp tâm trong bộ NST có 45 chiếc thiếu
2 NST tâm đầu và thay vào đó 1 NST tâm giữa có kích thước lớn nếu là sự chuyển
đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D) hoặc 1 NST có kích thước trung bình
tâm lệch nếu là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với các NST nhóm G (D/G)
hoặc 1 NST kích thước nhỏ tâm giữa nếu là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm G với
các NST nhóm G (G/G) [42].
* Lặp đoạn (duplication)
Là hiện tượng một đoạn nào đó của NST được nhân đôi lên. Lặp đoạn xảy ra khi
2 NST tương đồng ghép đôi với nhau không tương xứng trong kỳ đầu của phân bào
giảm phân, có sự đứt của 2 NST và trao đổi đoạn giữa 2 đoạn khác nhau của 2 NST
trong cặp tương đồng. Trong trường hợp này có 2 NST bị thay đổi cấu trúc, nhưng
không mất đi hoặc tăng thêm vật liệu di truyền trong tế bào. Khi các NST trong cặp

người vợ, người chồng hoàn toàn bình thường.
Vô sinh không rõ nguyên nhân là các trường hợp vô sinh mà thăm khám lâm
sàng và làm các xét nghiệm kinh điển ở cả vợ và chồng vẫn không phát hiện được
nguyên nhân khả dĩ có thể quan sát được [23].
1.3.2. Nguyên nhân vô sinh do người vợ
1.3.2.1. Các nguyên nhân không do yếu tố di truyền
* Nguyên nhân do cổ tử cung
Nhờ chất nhầy ở cổ tử cung và cấu trúc bình thường của cổ tử cung giúp tinh
trùng bơi qua dễ dàng. Nếu vì một lý do nào đó gây ảnh hưởng tới chất nhầy hoặc cấu
trúc cổ tử cung làm cho tinh trùng khó sống sót và không thể bơi qua được sẽ làm cho
tỷ lệ có thai giảm. Tiền sử có đốt lạnh hay đốt điện cổ tử cung làm phá hủy các tế bào
tiết chất nhầy, tiền sử nạo thai, sẩy thai, tổn thương cổ tử cung sau sinh gây chít hẹp
hoặc hở cổ tử cung. Viêm nhiễm cổ tử cung làm ảnh hưởng tới khả năng sống của tinh
trùng.
Luận văn Thạc sỹ Khoa học

Trần Cúc Ánh 11 Cao học K18-Sinh học
* Nguyên nhân do tử cung và ống dẫn trứng
Phụ nữ có tiền sử về nhiễm trùng sinh dục như viêm cổ tử cung, ống dẫn trứng
làm chít hẹp hoặc tắc ống dẫn trứng do đó trứng không thể di chuyển vào buồng tử
cung. Phụ nữ trước đây có đặt vòng, nạo thai, sẩy thai hoặc thai ngoài tử cung cũng có
thể làm thay đổi cấu trúc bình thường của tử cung và ống dẫn trứng như dính buồng tử
cung hoặc tắc ống dẫn trứng. Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác như dị dạng tử
cung, u xơ tử cung, phẫu thuật vùng chậu, viêm vùng chậu, viêm ruột thừa…
* Hội chứng đa nang buồng trứng hay còn gọi là hội chứng Stein-Leventhal
Đây là bệnh gây ra do tình trạng rối loạn nội tiết và là một trong những nguyên
nhân gây vô sinh do không rụng trứng hay rối loạn phóng noãn. Bệnh thường xuất hiện
vào tuổi dậy thì nhưng cũng có thể xuất hiện vào tuổi từ 20 đến 25. Những phụ nữ bị
buồng trứng đa nang thường là những người có sự gia tăng bất thường về nồng độ
Testosterone và LH, những chất này sẽ làm gián đoạn quá trình phát triển của nang

(u sinh prolactin của tuyến yên) gây vô kinh.
Các vấn đề về nội tiết tố khác: Mặc dù có trứng để thụ tinh, nhưng do rối loạn
nội tiết mà các nội tiết tố trong cơ thể nữ giới không thể cung cấp môi trường thích hợp
cho trứng sống sót và trưởng thành.
* Tuổi của người phụ nữ:
Tuổi tác là một trong những yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh sản
của nữ giới. Khả năng thụ thai ở phụ nữ đạt ngưỡng cao nhất ở tuổi từ 20-24, giảm dần
khi ngoài 35 tuổi và càng giảm nhanh khi đạt tuổi 40. Sở dĩ có sự suy giảm này là do
sự giảm về số lượng cũng như chất lượng của trứng khi nữ giới ngoài tuổi 35.
* Các yếu tố về lối sống, công việc
- Tình trạng quá béo phì (Chỉ số khối cơ thể - BMI ≥ 23) hoặc quá gầy (BMI ≤
18) thường bị chứng không rụng trứng và nếu có rụng trứng sẽ ít có khả năng thụ thai.
- Hút thuốc lá và uống rượu : tuy ít gặp ở nữ giới, đặc biệt là nữ giới Việt Nam,
tuy nhiên, một số nghiên cứu chứng minh các chất này có liên quan đến tình trạng vô
Luận văn Thạc sỹ Khoa học

Trần Cúc Ánh 13 Cao học K18-Sinh học
sinh. Hút thuốc lá hoặc uống cà phê làm giảm khả năng thụ thai và sớm mãn kinh.
- Nghề nghiệp: một số nghề thường xuyên tiếp xúc với tia xạ, hóa chất độc hại,
xăng – dầu, các loại thuốc nhuộm – in, nhiệt độ cao, thuốc trừ sâu … cũng là yếu tố
ảnh hưởng đến khả năng thụ thai của nữ giới.
- Thuốc và trị liệu: các loại thuốc chống trầm cảm, thuốc hóa trị liệu ung thư, và
một số loại thuốc kháng sinh, … có khả năng tăng nguy cơ vô sinh – hiếm muộn nữ.
- Căng thẳng tâm lý (stress) : áp lực trong công việc cũng như những căng thẳng
xoay quanh vấn đề muộn con có thể làm ảnh hưởng đến quan hệ vợ chồng, nghiêm
trọng hơn nữa có thể gây lãnh cảm, làm giảm tần suất giao hợp. Những điều này không
những không có lợi trong điều trị vô sinh – hiếm muộn mà còn góp phần ảnh hưởng
đến tình trạng vô sinh – hiếm muộn.
1.3.2.2. Nguyên nhân do yếu tố di truyền
Các nguyên nhân di truyền ở mức độ tế bào gây vô sinh ở nữ giới thường là do

Theo WHO, GTMT xảy ra ở 11,7% nam giới có tinh dịch đồ bình thường và ở
25,4% nam giới có tinh dịch đồ bất thường. Hơn 80% trường hợp GTMT không bị
hiếm muộn nhưng 35%-40% nam giới hiếm muộn nguyên phát bị GTMT, 69%-81%
nam giới hiếm muộn thứ phát bị bệnh này.
* Do bất thường hormon sinh dục:
Là tình trạng mất cân bằng giữa các hormon hướng sinh dục (gonadotropin) như
LH, FSH, hormon sinh dục (androgen) như testosteron, vv… hoặc thụ cảm của
androgen tại tinh hoàn không bình thường gây ra hiện tượng rối loạn chu trình hoạt
động tình dục và sinh tinh. Thiểu năng nội tiết hướng sinh dục gây giảm nồng độ LH
và FSH trong máu, hậu quả làm giảm quá trình sinh tinh một phần hoặc hoàn toàn.
* Tắc nghẽn đường sinh dục:
KCTT, tinh hoàn và FSH bình thường là dấu hiệu nghĩ tới tắc nghẽn đường sinh
dục. Tắc nghẽn ống sinh dục bẩm sinh và sau khi thắt ống dẫn tinh là phổ biến, nhưng
sau những nguyên nhân nhiễm các bệnh như lao, lậu cầu là những nguyên nhân thường
Luận văn Thạc sỹ Khoa học

Trần Cúc Ánh 15 Cao học K18-Sinh học
gặp [34]
* Do nhiễm khuẩn:
Nhiễm khuẩn sinh dục có thể là nguyên nhân gấy vô sinh nam giới. Mắc các
bệnh truyền qua đường sinh dục, nhất là viêm mào tinh hoàn hay viêm tinh hoàn có thể
dẫn đến vô sinh của nam giới.
* Do chấn thương tinh hoàn:
Làm đứt các ống sinh tinh, có thể gây teo tinh hoàn về sau, các phẫu thuật vùng bẹn có
thể làm tổn thương mạch máu nuôi tinh hoàn hoặc thừng tinh [13].
* Nguyên nhân miễn dịch:
Vô sinh do nguyên nhân miễn dịch được phát hiện tới 3% các trường hợp, phát
hiện 10% tinh trùng di động được bao phủ bởi kháng thể. Rất khó để xác định những
ảnh hưởng của kháng thể này tới vô sinh. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng “kháng thể -
dương tính” làm cho việc thụ thai giảm hơn những trường hợp không có vấn đề miễn

* Tuổi của bệnh nhân:
Tuổi của bệnh nhân vô sinh nam liên quan đến độ tuổi xây dựng gia đình và rõ
ràng tuổi tác có ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tinh trùng. Tuổi càng cao thì số
lượng tinh trùng càng giảm, nên những người lớn tuổi thường ITT hơn là KCTT.
Như vậy, có rất nhiều nguyên nhân đã được xác định gây nên vô sinh nam giới.
Tuy nhiên, theo Krausz, khoảng 70% các trường hợp vô sinh nam giới là tìm thấy
nguyên nhân, còn lại 30% các trường hợp chưa tìm thấy nguyên nhân và được xem là
tự phát. Trong hầy hết các trường hợp chưa rõ nguyên nhân thường do bất thường di
truyền, đặc biệt bất thường ở mức độ phân tử [33].
1.3.3.2. Nguyên nhân do yếu tố di truyền
Bất thường di truyền nói chung và bất thường NST nói riêng được coi là một
trong những nguyên nhân gây ITT hoặc KCTT, đôi khi do không được chẩn đoán xác
định nên đôi khi được xếp váo nhóm KCTT không rõ nguyên nhân.
Trong các nguyên nhân do bất thường NST, thường gặp nhất là hội chứng
Luận văn Thạc sỹ Khoa học

Trần Cúc Ánh 17 Cao học K18-Sinh học
Klinefelter và các biến thể của hội chứng này. Hội chứng Klinefelter do nguyên nhân
có thêm một NST X trong bộ NST ở nam giới (47, XXY). Có thể gặp một số dạng
khác như thể khảm 47, XXY/46, XY; hoặc 48, XXXY; 48,XXYY, vv…
Ngoài nguyên nhân do rối loạn NST thì rối loạn di truyền ở mức độ phân tử
cũng gây vô sinh ở nam giới hay gặp nhất là mất đoạn nhỏ trên NST Y xảy ra ở ba
vùng AZFa, AZFb, AZFc gây rối loạn trong quá trình sinh tinh ở các mức độ khác
nhau từ không sản sinh trùng hay sản sinh được ít và rất ít tinh trùng [85]. Ngoài ra còn
do các đột biến gen trên các NST khác như: đột biến gen CFRT trên nhánh dài NST số
7 gây u nang [34], đột biến trên đoạn gen KALIG-1 ở nhánh ngắn (Xp22.3) gây hội
chứng di truyền liên kết NST X [16], mất đoạn gần nhánh dài của NST số 15 ở băng
q11-q13 gây hội chứng Prader-Willi… Nam giới bị hội chứng này thường vô sinh do
không có quá trình sinh tinh [3]
1.4. Tình hình nghiên cứu nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh

Marchina và cs (2007) nghiên cứu 470 cặp vợ chồng vô sinh (940 trường hợp)
phát hiện có 2,55% quang sai NST gồm thay đổi số lượng và cấu trúc NST thường và
NST giới tính ở một trong hai vợ hoặc chồng [46]
Nghiên cứu 290 cặp vợ chồng (580 trường hợp) Smogavec và cs (2009) phân
tích NST và lập karyotyp ở các cặp vợ chồng này đã phát hiện được 87 trường hợp
(chiếm tỷ lệ 15%) vợ hoặc chồng có bất thường NST [76]
Rosenbusch (2010) đã phân tích sự di truyền bất thường của 430 cặp vợ chồng
(860 trường hợp). Kết quả tác giả đã phát hiện được 28 trường hợp bất thường về NST
(chiếm tỷ lệ 3,26%) [70]
Theo một nghiên cứu khác trên 80 cặp vợ chồng (160 trường hợp) vô sinh
nguyên phát của Butnariu và cs (2010), đã phát hiện có 20 trường hợp (vợ hoặc chồng)
mang rối loạn NST (chiếm tỷ lệ 12,5%) [18]
Năm 2011, G.M Tiboni và cs, nghiên cứu 1146 cặp vợ chồng vô sinh (2292
trường hợp). Các tác giả đã phát hiện ra có 35 trường hợp (vợ hoặc chồng) mang bất

Trích đoạn Tần số rối loạn nhiễm sắc thể giữa người vợ và người chồng Các kiểu rối loạn nhiễm sắc thể ở người vợ và người chồng Phương pháp nghiên cứu Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể thường ở người chồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status