Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc
Trần Viết Dương
Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Chuyên ngành: Triết học; Mã số: 602280
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thái Sơn
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Làm rõ những vấn đề lý luận chung về nguồn lực con người trong sự nghiệp
công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH). Phân tích thực trạng phát triển trạng nguồn
lực con người tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 1997 - 2009, từ đó rút ra bài học kinh
nghiệm và những kết quả đạt được, những thiếu sót, hạn chế của việc xây dựng, phát triển
nguồn lực con người ở tỉnh Vĩnh Phúc và tìm ra nguyên nhân của vấn đề trên. Đề xuất một
số phương hướng, giải pháp cụ thể giúp công tác dự báo, phát triển nguồn lực con người
cho sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010 - 2015 đạt hiệu quả cao hơn.
Keywords. Triết học; Lực lượng sản xuất; Nguồn nhân lực; Công nghiệp hóa; Hiện đại
hóa; Vĩnh Phúc
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Vấn đề con người, bản chất con người, nguồn lực con người luôn được các nhà tư
tưởng trong lịch sử triết học quan tâm nghiên cứu. Trong triết học Mác- Lênin, vấn đề con
người, bản chất con người và giải phóng con người được coi là đối tượng nghiên cứu trọng
tâm. Việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề này để tạo cơ sở nền tảng lý luận cho phương pháp
nhận thức và giải quyết vấn đề phát triển nguồn lực con người trong công cuộc đổi mới và
xây dựng đất nước hiện nay nhằm thực hiện hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá,
lý nguồn lực con người; cản trở tới sự phát triển bền vững của Vĩnh Phúc hiện nay.
Để góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận khoa học và tổng kết thực tiễn Vĩnh Phúc
về phát triển nguồn lực con người, đồng thời trên cơ sở thực trạng với hoàn cảnh tự nhiên,
dân cư v.v Vĩnh Phúc với những biểu hiện đặc thù trong việc phát triển nguồn lực con
người. Thêm vào đó, do ảnh hưởng của nền kinh tế còn đang chập chững trên những bước
chuyển đổi, của quá trình CNH, HĐH và giao thương kinh tế với nước ngoài đang diễn ra
mạnh mẽ nên vấn đề phát triển nguồn lực con người ở Vĩnh Phúc cũng đang trải qua
những thay đổi sâu sắc, đòi hỏi phải nắm bắt kịp thời để đưa ra những giải pháp khả thi.
Một số khâu trong đào tạo nguồn lực con người đang bị buông lỏng hoặc biến đổi theo
hướng tiêu cực dẫn đến chất lượng sản phẩm đầu ra sút giảm. Một số ban ngành ở địa
phương vẫn chưa có chủ trương nhất quán trong việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực
của mình. Điều này đã và đang gây ra ngáng trở không ít tới sự phát triển nguồn lực con
2
người ở nước ta và ở Vĩnh Phúc nói riêng. Chính vì thế mà nghiên cứu tìm ra quy luật của
mối quan hệ giữa thực hiện CNH, HĐH và phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu
cầu phát triển bền vững, bước đầu xây dựng cơ sở lý luận và đề xuất giải pháp thực hiện
thắng lợi các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Vĩnh Phúc đến năm 2015, tầm
nhìn 2020 do Nghị quyết Tỉnh ủy lần thứ XIV, XV đề ra; chúng tôi chọn vấn đề Phát triển
nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc làm
đề tài luận văn Thạc sỹ Triết học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển của xã hội. Thực tiễn
chứng minh rằng, sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia phụ thuộc nhiều vào đầu tư,
khai thác có hiệu quả nguồn lực con người. Do đó vấn đề con người, nguồn nhân lực, phát
triển nguồn lực con người là đối tượng thu hút quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa
học; đặc biệt là trong giai đoạn triển khai, đẩy mạnh và đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp
CNH, HĐH.
Có thể kể những công trình nghiên cứu trực tiếp về con người, nguồn lực con người đã
được xã hội hóa thành công trình nghiên cứu khoa học, sách, bài viết đăng trên tạp chí và
ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay. Tiến sĩ Nguyễn Thanh (2005): Phát triển
nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia.
Tác giả đã luận giải rõ phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của sự
nghiệp CNH, HĐH, đồng thời nêu lên một số thực trạng về phát triển nguồn nhân lực có
chất lượng, trên cơ sở đó đưa ra một số định hướng chủ yếu trong phát triển nguồn nhân
lực cho CNH, HĐH ở nước ta hiện nay
Luận án Tiến sĩ Triết học của nghiên cứu sinh Trần Kim Hải (Học viện An ninh,
1998): Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
đã phân tích từ góc độ về hiện trạng, yêu cầu và những vấn đề đang đặt ra trong sử dụng
nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở nước ta. Theo đó, nguồn nhân lực hiện có còn chưa đáp
ứng được những yêu cầu và đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH. Vì vậy, quá trình khai thác,
sử dụng cần phải được đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với việc nâng cao chất lượng
của nguồn nhân lực. Phải coi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một nội dung, một
tiền đề cơ bản để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho CNH, HĐH. Luận án
khẳng định, những vấn đề bức xúc nhất của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
nước ta là mở rộng quy mô đào tạo trên cơ sở đa dạng hoá các nguồn vốn, điều chỉnh cơ
cấu đào tạo, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu
nguồn nhân lực theo hướng CNH, HĐH, đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và
chuyên gia, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em Tất cả phải hướng tới mục tiêu cung cấp
nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi khắt khe của
thị trường sức lao động trong nước và quốc tế, phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước. GS.TS Trần Côn: Chủ nghĩa Mác- Lênin và vấn đề con người, xây dựng con
4
người mới. (Kỷ yếu Toạ đàm Khoa học -Trung tâm Đào tạo, Bồi dưõng giảng viên lý luận
chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội). Giáo sư đã phân tích một cách khoa học bản chất con
người dựa trên lý luận và lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin; về vị trí của vấn đề xây
dựng con người mới trong xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển; về phương hướng xây dựng
con người mới trong điều kiện của cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại. TS.Nguyễn
Văn Thành (2008): Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế;
những giải pháp mà các tác giả đề cập để áp dụng vào từng địa phương cho phù hợp với
hoàn cảnh từng vùng, từng miền đòi hỏi cần có những công trình nghiên cứu khác phù
hợp.
Tuy nhiên, qua thu thập tài liệu phục vụ việc thực hiện luận văn, chúng tôi chưa thấy
có nghiên cứu nào trực tiếp đề cập đến vấn đề Phát triển nguồn lực con người trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc với những đặc thù riêng của nó.
Luận văn kế thừa thành tựu nghiên cứu của những công trình trên, đặc biệt là nhứng ý
tưởng và giá trị khoa học quý giá của chúng sẽ được phát triển hơn lên trong luận văn này;
giúp luận văn tiếp tục nghiên cứu, cập nhật, phân tích, đánh giá thêm thực trạng vấn đề
phát triển nguồn lực con người trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (đặc biệt từ khi tách khỏi tỉnh
Vĩnh Phú từ năm 1997 đến nay). Luận văn cũng đề xuất những phương hướng, giải pháp
cụ thể để công tác phát triển nguồn nhân lực con người có tính hiệu quả, góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành thắng lợi mục tiêu, kế hoạch của sự nghiệp
CNH, HĐH ở tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2015 như Nghị quyết Tỉnh ủy lần thứ XIV (2005)
đề ra.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích của luận văn
+ Phân tích thực trạng nguồn lực con người trong sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnh Vĩnh
Phúc giai đoạn 1997-2009.
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu
CNH, HĐH ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010 - 2015.
* Nhiệm vụ của luận văn
+ Luận văn tổng kết thực trạng nguồn lực con người tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn
1997 - 2009, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và những kết quả đạt được, những thiếu sót,
hạn chế của việc xây dựng, phát triển nguồn lực con người ở tỉnh Vĩnh Phúc và tìm ra
nguyên nhân của vấn đề trên.
+ Đề xuất một số phương hướng, giải pháp cụ thể giúp công tác dự báo, phát triển
nguồn lực con người cho sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010 - 2015
đạt hiệu quả cao hơn.
địa phương trong giai đoạn tới, đặc biệt là giai đoạn 2010 - 2015 nhằm tiếp tục có những
bước phát triển ổn định, bền vững trong kinh tế - xã hội cho tỉnh Vĩnh Phúc.
7
* Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn được sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo cho
công tác giảng dạy chuyên đề nguồn nhân lực, phát triển nguồn lực con người trong CNH,
HĐH của giảng viên trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn còn được sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn lực con người ở tỉnh Vĩnh Phúc, là cơ sở cho việc
xây dựng hệ thống chính sách phát triển nguồn lực con người của Tỉnh trong sự nghiệp
CNH, HĐH trong năm năm, mười năm tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận, luận văn gồm 2
chương, 5 tiết:
Chƣơng 1. Một số vấn đề chung về nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.
Chƣơng 2. Thực trạng và phương hướng, giải pháp cơ bản phát triển nguồn lực con
người ở Vĩnh Phúc giai đoạn 2010 - 2015.
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN LỰC CON NGƢỜI
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Tính tất yếu của phát triển nguồn lực con ngƣời trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay
tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng được hiểu
trên hai mặt là số lượng và chất lượng. Như vậy theo khái niệm này, có một số người được
tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là những người không
có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu
cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…
Từ hai nhóm quan niệm trên về nhân lực và nguồn nhân lực, có thể nhìn từ góc độ triết
học hiểu nguồn lực con người là tổng hoà thể lực và trí lực; tồn tại trong toàn bộ lực
lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao
động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật
chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
Như vậy, phát triển nguồn lực con người với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến
vấn đề chất lượng nguồn lực con người và khía cạnh xã hội của nguồn lực con người của
mỗi quốc gia. Nguồn lực con người chất lượng cao là khái niệm để chỉ một người lao động
cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể
9
theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học,
cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề). Do đó, phát triển nguồn lực con người là phát triển
con người cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã
hội, về đạo đức, tình cảm và tâm hồn trong sáng tạo ra nguồn lực con người chất lượng
cao; có thể không cần đông về số lượng, nhưng cần có chất lượng. Khi chuyển dần sang
nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức trong toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, nguồn lực con
người đặc biệt là nguồn lực con người có chất lượng ngày càng thể hiện vai trò quyết định
của nó. Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng
nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản là áp dụng công nghệ mới, phát
triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn lực con người. Trong đó, động
lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững là con người, đặc biệt là nguồn
lực con người có chất lượng, tức là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng,
kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo để trở thành “nguồn vốn - vốn con
người, vốn nhân lực”. Bởi trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết
mục tiêu này cần CNH, HĐH rút ngắn bằng cách CNH gắn với HĐH, chứ không thể lặp đi
tuần tự như chủ nghĩa tư bản đã làm.
Như vậy, chỉ tính từ Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đến Đại hội Đảng lần thứ XI
(2011), quan niệm về tầm quan trọng của nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
trong CNH, HĐH của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng có tính khoa học cao, tính mục
tiêu và nhân văn cụ thể, sâu sắc; tạo cơ sở để xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân
lực nói chung, phát triển con người Việt Nam toàn diện nói riêng trong sự nghiệp CNH,
HĐH.
Muốn công cuộc đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp CNH - HĐH ở Việt Nam thành công
(đến năm 2020 và đến giữa thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại)
thì vai trò của nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là rất lớn.
Thế giới và Việt Nam đang chuyển sang nền kinh tế tri thức - nền kinh tế dựa trên
động lực là sáng tạo cái mới về tri thức và sáng tạo cái mới về khoa học kỹ thuật. Như
vậy, sự phát triển của xã hội chủ yếu dựa trên nền tảng văn minh về trí tuệ của con người.
Nền kinh tế tri thức được hình thành trên nền tảng phát triển các ngành nghề mới như công
nghệ sinh học, công nghệ năng lượng mới, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông
tinv.v Điều này đòi hỏi phải đào tạo, phát triển và nâng cao trình độ nhân lực cho các
ngành nghề này.
Phát triển nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH là xu hướng phát triển của
các nước trên thế giới. Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của Việt Nam để thực hiện
mục tiêu xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. CNH, HĐH
không chỉ là xây dựng kinh tế, mà còn là quá trình biến đổi cách mạng sâu sắc các lĩnh
vực của đời sống xã hội làm cho xã hội phát triển lên một trạng thái mới về chất. Sự thành
công của CNH, HĐH đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định, phải có những nguồn lực
11
cần thiết như nguồn lực con người, vốn tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật
Các nguồn lực này quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia vào sự nghiệp CNH, HĐH ở
những mức độ khác nhau đối với toàn bộ quá trình; trong đó nhân lực là nguồn lực quan
trọng nhất nên phải đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Nói cách khác nguồn lực con
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG VÀ PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP
CƠ BẢN PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƢỜI
Ở VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
2.1. Thực trạng phát triển nguồn lực con ngƣời ở tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.1. Điều kiện lịch sử - tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành và
phát triển nguồn nhân lực tỉnh Vĩnh Phúc
Đặc điểm lịch sử - tự nhiên của tỉnh Vĩnh Phúc
Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.2. Thực trạng nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
2.1.2.1. Mục tiêu phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2015: Hầu hết thanh
niên từ 15 - 18 tuổi tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục vào trung học phổ thông, bổ túc
trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề; 100% học sinh tiểu học,
50% học sinh trung học cơ sở được học tập và hoạt động cả ngày ở trường; đa số các
trường mầm non và phổ thông đạt chuẩn quốc gia. 100% trường tiểu học dạy tiếng nước
ngoài, dạy tin học; 100% học sinh trung học cơ sở được học tiếng nước ngoài, học tin học
có chất lượng. Đạt trên 350 sinh viên/1 vạn dân; trên 65% lao động được qua đào tạo.
100% cán bộ quản lý, cán bộ hành chính, sự nghiệp, cán bộ chuyên trách, công chức cấp
xã đạt chuẩn theo qui định. Phấn đấu đến năm 2015 đạt tỷ lệ 09 bác sỹ/1 vạn dân; 700-800
cán bộ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ; có đội ngũ cán bộ chuyên môn giỏi ở các lĩnh vực chủ
yếu. Có khoảng 500 - 600 cán bộ quản lý, công chức có trình độ ngoại ngữ có thể làm việc
trực tiếp với người nước ngoài.
Định hướng đến năm 2020: Có sự thay đổi căn bản và toàn diện về chất lượng nguồn
nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của quá trình đô thị hoá, hội nhập kinh tế quốc
tế và nền kinh tế tri thức. Tất cả học sinh được học tập và hoạt động cả ngày ở trường, các
trường đều đạt chuẩn theo qui định của Nhà nước. Đạt tỷ lệ 11 bác sỹ/1 vạn dân. Cơ bản
đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ ngoại ngữ để có thể làm việc, giao tiếp với người
nước ngoài. Phát triển đội ngũ cán bộ chuyên môn giỏi ở tất cả các lĩnh vực. Có đội ngũ
qua thực tiễn; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, con đường đã lựa chọn;
hăng hái thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước; phấn
khởi, nêu cao tinh thần trách nhiệm, vượt mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đa số
cán bộ giữ gìn được phẩm chất đạo đức, có lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với quần
chúng, được quần chúng tín nhiệm. 14
2.1.2.3. Đánh giá thực trạng và xu hướng phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh
Phúc
Đánh giá về quy mô, cơ cấu và sự chuyển dịch cơ cấu lao động
Đánh giá về trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của người lao động
Đánh giá về trình độ học vấn, chuyên môn của ngƣời lao động
Xu hƣớng phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Phúc
Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh như vậy, khẳng định Vĩnh Phúc đang trên đà phát
triển theo hướng CNH, HĐH, nhưng vấn đề đặt ra đòi hỏi Vĩnh Phúc phải có nguồn nhân
lực đáp ứng với xu thế hội nhập, đây chính là nguồn nhân lực chất lượng cao trong nền
kinh tế mở, quyết định sự thành công và rút ngắn quá trình CNH, HĐH của Vĩnh Phúc với
xu hướng phát triển nguồn lực con người theo hướng:
Một là: Xác định việc xây dựng nguồn lực con người là động lực để phát triển xã hội,
đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Hai là: Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Tỉnh phải nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển
nhanh, bền vững.
Ba là: xu hướng phát triển nguồn lực con người đòi hỏi đáp ứng hội nhập khu vực và
thế giới.
Nói tóm lại, yếu tố con người là yếu tố quyết định về chất của quá trình CNH, HĐH,
đồng thời đó cũng là mục tiêu hướng tới của quá trình này. Để thực hiện hiệu quả CNH,
HĐH ở Vĩnh Phúc, Tỉnh cần lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho
việc phát triển nhanh, bền vững. nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng
cao làm yêu tố nền tảng, chủ thể tham gia vào quá trình CNH, HĐH. Đây là nguồn lực
an ninh quốc gia, an sinh xã hội và an toàn môi trường;
Mục tiêu và định hƣớng phát triển
1) Tỉnh phấn đấu về cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2020 và có cơ cấu
kinh tế công nghiệp, dịch vụ chiếm từ 93-95% (nông nghiệp còn 7%).
2) Đến năm 2020 mức sống vật chất, văn hóa tinh thần của người dân Vĩnh Phúc phải
đạt ít nhất tương đương với các chỉ tiêu định lượng của nền kinh tế cả nước.
Những tiềm năng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển
Trong tiến trình phấn đấu xây dựng Vĩnh Phúc trở thành một tỉnh công nghiệp trước
năm 2020 và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI, là một
quyết tâm lớn của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, quyết tâm trên là hoàn toàn
có cơ sở, bởi Vĩnh Phúc là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển toàn diện bền
vững trong tương lai.
16
Chính sách thu hút đầu tƣ của tỉnh:
Những năm qua nền kinh tế của Vĩnh Phúc có bước phát triển nhanh, ngoài những yếu
tố thuận lợi về điều kiện tự nhiên, con người và lao động, cơ sở hạ tầng thì một yếu tố đặc
biệt quan trọng khác để đẩy nhanh quá trình phát triển, đó là những định hướng đúng đắn
của tỉnh, đã có nhiều chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn. Để có sự phát triển bền vững và giữ
được tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, tỉnh Vĩnh Phúc đang tập trung cao độ các nguồn
lực để đầu tư hoàn thành các công trình hạ tầng kỹ thuật thiết yếu của 9 trục kinh tế và đô
thị, trọng tâm là Vĩnh Yên và Phúc Yên. Ngoài ra tỉnh còn triển khai nhiều dự án tạo mọi
điều kiện thuận lợi, thông thoáng cho các nhà đầu tư, tạo cơ hội thành công của doanh
nghiệp trên đất Vĩnh Phúc. Những chính sách trên cũng có thể coi là tiềm năng của Vĩnh
Phúc cho sự phát triển trong tương lai.
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, phát huy vai trò nền tảng của nền kinh tế. Bảo đảm
đủ các yếu tố cơ bản của một tỉnh công nghiệp vào năm 2015, trở thành tỉnh công nghiệp
nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Bốn là, đẩy mạnh cải cách hành chính, khắc phục triệt để tình trạng cồng kềnh biên
chế trong khối các cơ quan hành chính sự nghiệp và xã hội hóa nhu cầu nhân lực.
Năm là, tập trung đầu tư đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề, công nhân kỹ thuật
trình độ cao cho một số ngành kinh tế mũi nhọn, khắc phục sớm tình trạng thiếu lao động
có trình độ kỹ thuật cho các khu cụm công nghiệp, cho xuất khẩu lao động.
Sáu là, tuyên truyền rộng rãi chính sách thu hút nhân tài của tỉnh Vĩnh Phúc.
Bảy là, tăng cường quản lý nhà nước trong công tác đào tạo nguồn nhân lực.
Nhu cầu về nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh Vĩnh Phúc thời
gian qua đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển nguồn lực. Thực tế này đòi hỏi, tỉnh cần tăng
cường mở rộng xã hội hoá trong đào tạo nguồn nhân lực, nhất là ở trình độ đại học, cao
đẳng, bằng cách xây dựng những quy chế, quy định chặt chẽ về chức năng của các cơ sở
đào tạo, trên cơ sở đó quản lý tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực trên địa bàn của Tỉnh
đáp ứng yêu cầu về nguồn lực này cả về số lượng và chất lượng góp phần đẩy mạnh CNH,
HĐH
Sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải
phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Việc thực hiện
đồng bộ các giải pháp triển, sẽ góp phần khắc phục tình trạng thiếu nguồn nhân lực và
nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo đà thắng lợi trong sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh Vĩnh
Phúc.
18
KẾT LUẬN
Sự nghiệp CNH, HĐH ở đất nước ta đề ra mục tiêu “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân
chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ
rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt
Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao
hơn trong giai đoạn sau” [26, tr.103]. Để đạt được mục tiêu đó “điều quyết định là ở con
3. Luận văn phân tích các xu hướng vận động và phát triển của nguồn nhân lực ở tỉnh
Vĩnh Phúc trong điều kiện cuộc công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Tỉnh và quá
trình phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện nay. Việc
xác định đúng các xu hướng vận động và phát triển nguồn nhân lực này, giúp chính quyền
địa phương có cơ sở để xây dựng những giải pháp phù hợp, có tác dụng tạo nguồn lực,
đồng thời tạo ra động lực to lớn để vừa giải phóng, khơi dậy các tiềm năng của nguồn lực,
vừa hạn chế những tác động tiêu cực ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành và phát triển
nguồn nhân lực của tỉnh.
4. Phân tích thực trạng về số lượng, cơ cấu, chất lượng của nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh
Phúc trong quá trình CNH, HĐH. Từ đó đưa ra những đánh giá tổng hợp chung về nguồn
nhân lực này của Tỉnh. Nhìn chung nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Phúc vẫn còn thiếu, chất
lượng thấp, mất cân đối về cơ cấu bậc đào tạo, cơ cấu ngành nghề và sử dụng chưa hợp lý.
Từ thực trạng đó, luận văn làm rõ các nguyên nhân cơ bản, các vấn đề đang nảy sinh và đề
xuất các giải pháp chung và các giải pháp cấp bách để tỉnh Vĩnh Phúc tham khảo, xây
dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực phù hợp với quá trình CNH, HĐH của tỉnh.
Hiện nay, sự nghiệp CNH, HĐH nền kinh tế - xã hội của nước ta đòi hỏi cần có một
nguồn nhân lực chất lượng phù hợp. Đây là thời cơ lớn, thách thức lớn và cũng là triển
vọng lớn để nền kinh tế Việt Nam phát triển, đủ sức hội nhập với nền kinh tế khu vực và
thế giới. Phát triển nguồn nhân lực cũng là một vấn đề lý luận mới mẻ, rộng mở đang rất
cần được tiếp tục nghiên cứu. Luận văn sẽ cũng tiếp tục mở rộng phạm vi nghiên cứu về
vấn đề này.
Một số khuyến nghị với tỉnh Vĩnh Phúc:
Thứ nhất: Xây dựng và thành lập mạng lưới đào tạo nguồn nhân lực từ các cấp, đặc
biệt là mạng lưới đào tạo nghề dựa trên nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn phát triển nông
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và quản lý xã hội.
Thứ hai: Thành lập các trung tâm mang tính hệ thống từ cấp tỉnh đến các địa phương
trong tỉnh với chức năng nhiệm vụ thu thập và phổ biến rộng rãi thông tin thị trường lao
động phục vụ mọi thành phần kinh tế, mọi đối tượng trong tỉnh. Những thông tin trong các
lĩnh vực này phải mang tính dự báo, tính định hướng về nhu cầu lao động.
Thứ ba: Tỉnh nên giao cho một cơ quan cấp Sở làm đầu mối, chịu trách nhiệm tổng
7. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2002), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc 2001,
Nxb. Thống kê, Hà Nội.
8. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2003), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc 2002,
Nxb. Thống kê, Hà Nội.
21
9. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2004), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc 2003,
Nxb. Thống kê, Hà Nội.
10. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2005), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc 2004,
Nxb. Thống kê, Hà Nội.
11. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2006), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc 2005,
Nxb. Thống kê, Hà Nội.
12. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2007), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc 2006,
Nxb. Thống kê, Hà Nội.
13. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2008), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc 2007,
Nxb. Thống kê, Hà Nội.
14. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2009), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc 2008,
Nxb. Thống kê, Hà Nội.
15. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2010), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc 2009,
Nxb. Thống kê, Hà Nội.
16. Cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2010), Dân số và việc làm tỉnh Vĩnh Phúc 2009-2010,
Vĩnh Phúc.
17. Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực giai đoạn
CNH, HĐH Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Phạm Tất Dong (2008), “Xã hội học tập và nguồn nhân lực ở Việt Nam”, Tạp chí
Cộng sản, (18), tr.162.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.21.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (Khoá VIII).
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khoá VIII),
tại Thành phố Hồ Chí Minh 22/3/2003.
33. Phạm Hảo, Võ Xuân Tiền, Mai Đức Lộc (2000), Tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một số tỉnh miền Trung, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
34. Dũng Hiếu (2006), “Hậu WTO: Giải bài toán chất lượng nguồn nhân lực”,
VnEconmy tháng 11/2006.
35. Trần Đình Hoan (1996), “Phương hướng cơ bản giải quyết việc làm ở nước ta hiện
nay”, Tạp chí Cộng sản, (1).
36. Lê Huy Hoàng (2001), "Xây dựng chính sách xã hội tạo sự công bằng, bình đẳng
trong việc phát huy nguồn lực sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay", Triết
học, (9), tr.5-8.
23
37. Hồ Chí Minh về Cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội (1976),
Nxb. Sự thật, Hà Nội.
38. Lê Hồng Khánh (2003), “Vấn đề công bằng xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ
ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (8), tr.54-57.
39. Ngọc Lan (2004), “Tâm lý của người nông dân Việt Nam: Một số vấn đề cần lưu ý
trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực”, Tạp chí Khoa học Xã hội, (3).
40. Thái Thị Bạch Liên (2002), “Tìm đâu nhân tài?”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, (25),
13/8/2002, tr.48.
41. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 38, Nxb. Chính trị quốc, Hà Nội, tr.430.
42. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr.474-475.
43. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 11, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr.11.
44. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 19, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr.333.
45. C.Mác và Ăngghen (1996), Toàn tập, tập 23, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr.269.
và Ph. Ăngghen, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
64. Nguyễn Thái Sơn (2006), Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị ở
Việt Nam hiện nay, Đề tài NCKH, 06/2006.
65. Nguyễn Thái Sơn (2009), Một số mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam, Đề tài NCKH, 09.06.
66. Sở Lao động Thương binh và Xã hội Vĩnh Phúc (2005), Tổng hợp kết quả thực hiện
chương trình qốc gia xóa đói giảm nghèo, việc làm giai đoạn 2001 - 2005, Vĩnh
Phúc.
67. Sở Nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc (2010), Những vấn đề đặt ra đối phát triển nông
thôn Vĩnh Phúc hiện nay.
68. Nguyễn Văn Tài (2004), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố
con người”, Triết học, (11).
69. Nguyễn Văn Tài (2001), Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp
hoá và hiện đại hoá Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.77-88.