Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ở việt nam hiện nay - Pdf 10

Chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước sang
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
ở Việt Nam hiện nay Ngô Thị Ngọc Hương Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về các quy định của
pháp luật về vấn đề chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên. Nghiên
cứu thực trạng pháp luật về chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên:
Trình tự, thủ tục chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên; tổ chức
quản lý DNNN sang công ty TNHH một thành viên sau chuyển đổi; quyền lợi của
người lao động khi chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên; thực tiễn
chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên. Đưa ra kiến nghị nhằm đem
lại hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau chuyển đổi sang công ty TNHH một
thành viên và phương hướng tiếp theo sau chuyển đổi.

Keywords. Luật kinh tế; Chuyển đổi doanh nghiệp; Doanh nghiệp nhà nước; Công
ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Pháp luật Việt Nam Content
MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài:

lĩnh vực, địa bàn mà Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn điều lệ thì chuyển sang hình thức công
ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Trong các giải pháp trên thì việc chuyển DNNN
sang công ty TNHH một thành viên là một trong những giải pháp quan trọng và cần thiết
trong việc đổi mới DNNN. Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005 thì các DNNN phải
tiến hành chuyển đổi trước ngày 01 tháng 07 năm 2010, nhận thức được vai trò quan trọng
của công cuộc chuyển đổi mà Nhà nước đã ban hành rất nhiều Văn bản pháp luật quy định về
vấn đề này và cũng có rất nhiều bài viết liên quan đến việc chuyển đổi tuy nhiên các bài viết
chỉ đề cập đến một vài khía cạnh nhất định. Trên thực tế, mặc dù việc chuyển đổi đã xong tuy
nhiên những vấn đề tồn tại của các doanh nghiệp sau chuyển đổi đang còn nhiều vì vậy tôi
chọn đề tài “Chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước sang công ty Trách nhiệm hữu hạn một
thành viên ở Việt Nam hiện nay” nhằm nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến vấn
đề này để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2- Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về các quy định của
pháp luật về vấn đề chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên, đánh giá hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp sau chuyên đổi cũng như việc thực hiện chức năng, vai trò
của doanh nghiệp đối với nền kinh tế, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm đem lại hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp sau chuyển đổi sang công ty TNHH một thành viên và phương hướng
tiếp theo sau chuyển đổi.
3- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn tập chung nghiên cứu các quy định của pháp luật trong quá trình chuyển đổi
DNNN sang công ty TNHH một thành viên để từ đó đưa ra một số kiến nghị cho hoạt động
của DNNN sau khi chuyển đổi nhằm đem lại hiệu quả hơn cho hoạt động của các công ty.
4- Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu đó là:
Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa các văn bản pháp luật trước đây cũng như hiện
hành nhằm thấy được những ưu điểm cũng như hạn chế trong các văn bản pháp luật
Phương pháp phân tích tổng hợp: phân tích các quy định được dẫn giải trong các văn
bản pháp luật, tổng hợp các quy định của pháp luật quy định liên quan đến hoạt động chuyển
đổi và sau chuyển đổi để có được cái nhìn khái quát nhất.

Về mặt kinh tế thì với việc chuyển đổi những DNNN mà nhà nước cần nắm giữ 100%
vốn sang công ty TNHH một thành viên nhằm mục đích đổi mới tổ chức quản lý, cơ chế hoạt
động, tạo ra sự bình đẳng trong đầu tư kinh doanh với các loại hình doanh nghiệp khác.
DNNN trở thành một thực thể kinh tế độc lập, có quyền tự chủ trong kinh doanh và tự chịu
trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh của mình. Như vậy, DNNN sẽ hoạt động có hiệu quả
hơn mà không phải phụ thuộc vào các mệnh lệnh hành chính. DNNN có vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân khi mà nắm giữ một lượng tài sản khổng lồ của đất nước, nguồn
nhân lực có trình độ cao, việc hoạt động có hiệu quả hay không của DNNN có vai trò quan
trọng đối với sự phát triển của đất nước. Hơn nữa, bước vào xu hướng hội nhập kinh tế quốc
tế bằng việc gia nhập WTO thì Việt Nam phải tạo nên một “sân chơi” bình đẳng cho các
doanh nghiệp đó là một yêu cầu chung, như vậy việc chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH
một thành viên là một việc làm cần thiết.
1.3- Quá trình chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên
Việc chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên là là một nhiệm vụ vô
cùng quan trọng nhưng đồng thời nó cũng là nhiệm vụ rất khó khăn trong quá trình phát triển
kinh tế-xã hội của nước ta, bằng chứng là nó đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước, hàng loạt các văn bản pháp luật quy định về vấn đề này đã được ban hành tạo
ra cơ sở pháp lý cho quá trình chuyển đổi. Tiêu biểu phải kể đến một số Nghị định cụ thể:
Ngày 14/09/2001 Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2001/NĐ-CP về chuyển đổi DNNN,
doanh nghiệp tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội thành Công ty TNHH một thành. Sau
một thời gian thực hiện thì nghị định số 95/2006/NĐ-CP (08/9/2006) của Chính phủ về
chuyển đổi Công ty Nhà nước thành Công ty TNHH một thành ra đời thay thế Nghị định
63/2001/NĐ-CP. Và để hoàn thành công việc chuyển đổi thì nghị định số 25/2010/NĐ-CP
(19/3/2010) về chuyển đổi công ty Nhà nước thành Công ty TNHH một thành viên và tổ chức
quản lý Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu được ban hành thay thế
các nghị định truớc đó về chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên. Sự ra đời
của Nghị định 25/2010/NĐ-CP của Chính phủ đã đưa ra những quy định mới, tạo sự thuận
tiện, dễ dàng hơn cho các DNNN trong quá trình chuyển đổi sang công ty TNHH một thành
viên, nhằm thực hiện đúng với lộ trình chuyển đổi mà Luật doanh nghiệp đã quy định và phù
hợp với cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO của nước ta.

quyền lợi của người lao động Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp
lý cho người lao động khi chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên.
2.4 Thực tiễn chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên
2.4.1 Những kết quả đạt được trong quá trình chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một
thành viên:
Có thể nói việc chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên là một bước
trong quá trình đổi mới DNNN, một giải pháp trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế quốc
gia.
Trong thời gian qua, hệ thống pháp lý tạo điều kiện cho việc đổi mới DNNN đã đạt
được những kết quả nhất định đó là:
Thiết lập một hệ thống khung pháp lý tương đối đồng bộ theo hướng tạo môi trường bình
đẳng, không phân biệt giữa các thành phần kinh tế, giảm thiểu các thủ tục khi gia nhập thị
trường; hoàn thiện tổ chức quản lý, quản trị doanh nghiệp. Đã xây dựng và phê duyệt các đề
án tổng thế sắp xếp, đổi mới DNNN phù hợp với vai trò của khu vực nhà nước trong cơ chế
thị trường làm cơ sở cho các Bộ ngành, địa phương thực hiện được tốt hơn.
Báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới và Phát triển doanh nghiệp cho biết, hiệu quả hoạt
động, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước được nâng lên; cơ bản đáp ứng được
nhu cầu thiết yếu cho quốc phòng, an ninh; là một trong những công cụ quan trọng để Nhà
nước điều tiết vĩ mô. Nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã xây dựng được đội ngũ lao
động kỹ thuật với trình độ tay nghề cao; góp phần quan trọng xây dựng các kết cấu hạ tầng
kinh tế-xã hội, các dự án trọng điểm của Nhà nước phục vụ chiến lược phát triển kinh tế-xã
hội dài hạn của đất nước, những dự án lớn hoặc có ý nghĩa chính trị và hiệu quả xã hội lớn
mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không làm hoặc không đủ khả năng
làm. Năng lực, trình độ của nhiều cán bộ quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ,
công nhân kỹ thuật được nâng lên, chuyên nghiệp hơn. Mô hình tổ chức và phương thức lãnh
đạo của tổ chức đảng trong doanh nghiệp nhà nước được đổi mới phù hợp hơn với điều kiện
doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường; tổ chức đảng trong doanh nghiệp nhà nước
đóng góp thiết thực vào hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bảo
đảm quyền lợi hợp pháp, nâng cao thu nhập cho người lao động.
Việc chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên đã hoàn thành, các DNNN

cụ thể. Nghị định 25/2010/NĐ-CP cũng quy định: "Mỗi công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên được chuyển đổi từ công ty nhà nước hoặc thành lập mới chỉ do một tổ chức được
phân công, phân cấp dưới đây thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu (sau đây gọi
tắt là chủ sở hữu)…". Và các tổ chức đó là: Thủ tướng Chính phủ hoặc một tổ chức chuyên
trách được Chính phủ phân công; Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); Công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ –
công ty con, công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước và Tổng công ty Đầu tư và Kinh
doanh vốn nhà nước trong một số trường hợp. Như vậy, so với trước thì việc xác định chủ sở
hữu vẫn chưa rõ ràng, các cơ quan quản lý quản lý hành chính vẫn là chủ sở hữu của các
doanh nghiệp kinh doanh, liệu rằng hoạt động kinh doanh của công ty có vận hành được tốt
hay không, trong khi việc kinh doanh hằng ngày của công ty liên quan đến nhiều vấn đề từ
kinh tế, lao động kỹ thuật, đất đai, tập quán quốc tế…mặt khác, kinh doanh phải tính đến yếu
tố năng động, nhanh chóng nắm bắt được cơ hội kinh doanh mà cứ chờ xin ý kiến của chủ sở
hữu doanh nghiệp cũng đồng thời đang kiêm nhiệm chức danh quản lý hành chính Nhà nước
theo quy định thì thời cơ có lẽ sẽ vụt mất trong khi nền kinh tế thị trường trong và ngoài nước
đang ngày càng năng động phát triển. Còn trong trường hợp chủ sở hữu không phải là cơ
quan quản lý hành chính Nhà nước mà là công ty mẹ hoặc là Tổng công ty Đầu tư và Kinh
doanh vốn Nhà nước thì liệu rằng họ có dám “cho ý kiến” hay không khi mà nguồn vốn của
Nhà nước lại thuộc sự quản lý của các cơ quan Nhà nước mà chính họ cũng chịu sự quản lý,
nếu giả sử ý kiến họ đưa ra là kịp thời, nhanh chóng nhưng việc kinh doanh lại gặp rủi ro,
thua lỗ thì họ lại phải chịu trách nhiệm về “cố ý làm trái, gây hậu quả nghiêm trọng”, còn để
tránh bị chịu trách nhiệm họ lại phải đi “xin ý kiến” cấp trên, vậy vẫn phải lòng vòng trong cơ
chế xin cho, mà điều này lại không phù hợp với nền kinh tế thị trường.
Thứ ba, một vấn đề nữa đó là sau khi chuyển đổi nhiều doanh nghiệp sẽ có tâm lý yên
tâm và “dậm chân tại chỗ” hay chây ỳ mà không thực hiện các công việc cho việc thực hiện
cổ phần hóa doanh nghiệp, bởi việc chuyển đổi sang công ty TNHH Nhà nước một thành
viên chỉ là tạm thời chứ không phải là trạm dừng chân vô thời hạn của các doanh nghiệp.
Chính vì vậy Nhà nước phải có những chế tài cứng rắn để các doanh nghiệp thực hiện cổ
phần hóa theo đúng lộ trình Nhà nước đã đưa ra.
Như vậy, có thể thấy về cơ bản chúng ta đã chuyển đổi các doanh nghiệp 100% vốn

ty TNHH một thành viên là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước và các công ty TNHH
một thành viên khác.
Để việc đổi mới DNNN thật sự có ý nghĩa và nâng cao hoạt động kinh doanh của
DNNN thì cần tới sự thay đổi, đồng thuận từ nhiều phía khác nhau, một trong những thay đổi
quan trọng đó là các quy định của pháp luật cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều
kiện mới.
3.2 Một số kiến nghị cụ thể về hoạt động của DNNN sau chuyển đổi sang công ty TNHH
một thành viên
3.2.1 Về các quy định của pháp luật về hoạt động của DNNN sau khi chuyển đổi sang công ty
TNHH một thành viên:
Cần đảm bảo sự đồng bộ giữa các văn bản pháp luật khác so với Nghị định
25/2010/NĐ-CP và vị thế của công ty TNHH một thành viên sau chuyển đổi.
Thực tế khi chuyển đổi các công ty đa số đều lựa chọn mô hình Chủ tịch công ty và hầu
hết Chủ tịch công ty và Tổng giám đốc là kiêm nhiệm với lý do thói quen trong quản lý, điều
hành hoặc viện lý do tránh chồng chéo dễ gây mâu thuẫn, mất đoàn kết. Vì vậy, cần có những
quy định pháp luật rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng thành
viên hoặc Chủ tịch công ty với Tổng giám đốc nhằm hạn chế việc tập chung quyền lực về
một người mà không chú trọng giám sát dẫn đến những vi phạm nguyên tắc quản trị doanh
nghiệp theo thông lệ kinh tế thị trường và khi rủi ro tới lại mới xử lý trong khi thiếu cơ chế
giám sát, phòng ngừa.
Về kiểm soát viên: Kiểm soát viên là những người có vai trò quan trọng gắn với chủ sở
hữu, giúp chủ sở hữu kiểm soát được tình hình tổ chức, thực hiện quyền chủ sở hữu trong
quản lý, điều hành công ty. Việc bổ nhiệm, lựa chọn, thực thi nhiệm vụ, tăng cường năng lực
của các kiểm soát viên, tách riêng nguồn trả lương, thưởng; cơ chế động lực, trách nhiệm của
kiểm soát viên là những vấn đề quan trọng đối với công ty TNHH một thành viên, nó ảnh
hưởng đến tính đổi mới, sự khác biệt, sức sống của mô hình công ty TNHH một thành viên so
với DNNN trước đây. Chính vì vậy cần có những quy định pháp luật hết sức chặt chẽ về việc
lựa chọn, bổ nhiệm cũng như trách nhiệm của kiểm soát viên đối với công ty TNHH một
thành viên phải ban hành quy chế hoạt động của kiểm soát viên.
Quy định về chủ sở hữu của doanh nghiệp thì pháp luật cần có quy định cụ thể chủ sở hữu

Hai là, cần phải có những quy định về chế tài xử lý đối với các vi phạm trong việc giám
sát, đánh giá hiệu quả doanh nghiệp.
Ba là, phải thực hiện công khai, minh bạch trong bổ nhiệm các vị trí quan trọng của
doanh nghiệp,
Bốn là, cần mạnh dạn giao cho tư nhân những lĩnh vực nhà nước làm ăn không hiệu
quả.
Năm là, phải đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của Tổng công ty đầu tư
và kinh doanh vốn Nhà nước để làm tốt chức năng đầu tư, kinh doanh vốn Nhà nước tại các
doanh nghiệp.
Sáu là, cần nghiên cứu và chỉ định một cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước và giám sát vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp.
Trên đây là một số kiến nghị cụ thể về quy định của pháp luật cũng như về tổ chức thực
hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN sau chuyển đổi sang công ty TNHH một
thành viên, để việc chuyển đổi thật sự có ý nghĩa đối với sự phát triển của các doanh nghiệp. KẾT LUẬN
Việc chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên được xem là một bước
đệm tạo ra một cú bứt phá cho tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước sau nhiều năm
bị đình trệ. Trong khi Đảng và Nhà nước vẫn xác định kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể là
thành phần kinh tế chủ đạo thì việc đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước là một việc vô cùng quan trọng nó quyết định tới sự phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước, bên cạnh đó việc đổi mới DNNN tạo nên một khung khổ
pháp lý bình đẳng đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, thực hiện đúng cam kết WTO
của chúng ta, chính vì vậy tất cả sẽ cùng hoạt động trong một luật chung đó là Luật doanh
nghiệp. Việc đảm bảo cho các DNNN sau chuyển đổi hoạt động theo đúng nguyên tắc của
Luật doanh nghiệp chính là một yếu tố quan trọng để doanh nghiệp sau chuyển đổi hoạt động
có hiệu quả hơn so với trước. Bên cạnh những kết quả đạt được của quá trình chuyển đổi
DNNN sang công ty TNHH một thành viên thì sau chuyển đổi chúng ta còn cần phải thực
hiện rất nhiều vấn đề để hoạt động doanh nghiệp đạt hiệu quả hơn từ các quy định của pháp

12. Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 07 năm 2011 của Chính phủ về chuyển doanh
nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần;
13. Thông tư 01/2002/TT-BKH ngày 28/01/2002 của Bộ kế hoạch và Đầu tư về việc hướng
dẫn quy trình chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên;
14. Thông tư số 09/2002/TT-BLĐTBXH ngày 11/6/2002 của Bộ lao động - thương binh và
xã hội hướng dẫn thực hiện cơ chế quản lý lao động. tiền lương và thu nhập đối với Công ty
TNHH một thành viên Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
15. Thông tư số 26/2002/TT-BTC ngày 22/03/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn xử lý tài
chính khi chuyển đổi DNNN, doanh nghiệp của tổ chức chinh trị, tổ chức chính trị - xã hội
thành Công ty TNHH một thành viên,
16. Thông tư 58/2002/TT-BTC ngày 28/6/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn quy chế tài chính
của Công ty TNHH một thành viên thuộc sở hữu Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội.
17.Thông tư số 25/2007/TT-BTC ngày 02/4/2007 của Bộ tài chính của hướng dẫn xử lý tài
chính khi chuyển đổi công ty Nhà nước sang Công ty TNHH một thành viên;
18. Thông tư 24/2007/TT-BTC ngày 27/03/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn quy chế tài
chính của Công ty TNHH một thành viên thuộc sỡ hữu Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội;
19. Thông tư 79/2010/TT-BTC ngày 24/05/1010 của Bộ tài chính hướng dẫn xử lý tài chính
khi chuyển đổi công ty Nhà nước thành công ty TNHH một thành viên ;
20. Thông tư 27/2010/TT-BLĐTBXH ngày 14/9/2010 của Bộ lao động Thương binh và Xã
hội hướng dẫn thực hiện quản lý lao động, tiền lương, thù lao và tiền thưởng trong công ty
TNHH do Nhà nước làm chủ sở hữu;
21. Thông tư số 38/2010/TT-BLĐTBXH ngày 24/12/2010 của Bộ lao động Thương binh và
Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 91/2010/NĐ-CP ngày 20 tháng 8
năm 2010 của Chính phủ quy định chính sách đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại
công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu;
22. Thông tư số 12/2011/TT-BLĐTBXH, ngày 26/4/2011 của Bộ lao động Thương binh và
Xã hội hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung đối với công ty TNHH một thành
viên do Nhà nước làm chủ sở hữu;

40. Duy Phương (2011), “Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước: Đầu tư nhiều,
hiệu quả thấp”, Đại đoàn kết.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status