Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân
cấp xã – qua thực tiễn ở tỉnh Thừa Thiên - Huế
Nguyễn Thị Nữ
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lí luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Duy Phương
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của
hội đồng nhân dân (HĐND) cấp xã. Làm rõ vị trí, vai trò của HĐND cấp xã trong tổ chức
bộ máy nhà nước (BMNN) và trong hệ thống chính quyền cơ sở. Phân tích, đánh giá thực
trạng vấn đề tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã tại ba loại hình đơn vị hành chính là
xã, phường và thị trấn tại tỉnh Thừa Thiên - Huế. Từ đó đánh giá đúng thực trạng để đưa
ra những quan điểm và đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu
quả hoạt động của HĐND cấp xã ở tỉnh Thừa Thiên - Huế nói riêng, HĐND cấp xã nói
chung trên phạm vi cả nước.
Keywords: Lịch sử nhà nước; Pháp luật Việt Nam; Hội đồng Nhân dân; Thừa Thiên -
Huế; Bộ máy nhà nước Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Xã, phường, thị trấn gọi chung là cấp xã, là chính quyền cấp thấp nhất ở cơ sở có lịch sử lâu
dài ở nước ta. Đây là cấp chính quyền có quan hệ trực tiếp đến từng người dân là cầu nối chuyển
tải mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống.
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật thì Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền
* PGS.TS. Trương Đắc Linh, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Từ hai sắc
lệnh số 63/SL và số 77/SL năm 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành đến các bản Hiến
pháp, pháp luật về Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và vấn đề đổi mới hiện nay, Hội thảo
chính quyền địa phương Việt Nam – Sự hình thành, phát triển trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật
qua các thời kỳ và một số bài học kinh nghiệm.
* PGS. TS. Bùi Xuân Đức, Tổ chức chính quyền địa phương giai đoạn các Hiến pháp năm
1946, 1959 và 1980 và những bài học kinh nghiệm, Hội thảo chính quyền địa phương Việt Nam
– Sự hình thành, phát triển trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật qua các thời kỳ và một số bài học
kinh nghiệm.
* GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam theo Hiến pháp
1992, Hội thảo chính quyền địa phương Việt Nam – Sự hình thành, phát triển trên cơ sở Hiến
pháp, pháp luật qua các thời kỳ và một số bài học kinh nghiệm.
* PGS.TS. Nguyễn Cửu Việt, PGS.TS. Trương Đắc Linh, Tổ chức chính quyền địa phương
của một số nước trên thế giới, của Việt Nam qua các bản Hiến pháp và vấn đề đổi mới tổ chức
chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay, Hội thảo chính quyền địa phương Việt Nam – Sự
hình thành, phát triển trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật qua các thời kỳ và một số bài học kinh
nghiệm.
* Th.S. Phan Văn Ngọc, Mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa
phương hiện nay, Hội thảo chính quyền địa phương Việt Nam – Sự hình thành, phát triển trên cơ
sở Hiến pháp, pháp luật qua các thời kỳ và một số bài học kinh nghiệm.
* Lê Tư Duyến, Chính quyền điạ phương ở Việt Nam và vấn đề đổi mới hiện nay, Hội thảo
chính quyền địa phương Việt Nam – Sự hình thành, phát triển trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật
qua các thời kỳ và một số bài học kinh nghiệm.
* Đặng Đình Luyến, Một số vấn đề về thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân
huyện, quận, phường, Hội thảo chính quyền địa phương Việt Nam – Sự hình thành, phát triển
trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật qua các thời kỳ và một số bài học kinh nghiệm.
* Đoàn Nhuận, Đánh giá thực trạng các quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân hiện hành, phương hướng hoàn thiện luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hội
thảo chính quyền địa phương Việt Nam – Sự hình thành, phát triển trên cơ sở Hiến pháp, pháp
động của HĐND cấp xã.
Đồng thời, luận văn phân tích những điểm tích cực và hạn chế về cách thức tổ chức và hoạt
động của HĐND cấp xã tại tỉnh Thừa Thiên Huế - trong giai đoạn hiện nay. Qua đó rút ra những
hạt nhân hợp lý trong tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã để tiếp tục hoàn thiện thêm cũng
như khắc phục những điểm hạn chế từ đó đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện tổ chức và
hoạt động của HĐND cấp xã.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Luận văn tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã ở tỉnh Thừa
Thiên - Huế trong giai đoạn hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Không gian: Đề tài nghiên cứu về HĐND cấp xã ở tỉnh Thừa Thiên - Huế
+ Thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã ở tỉnh
Thừa Thiên - Huế trong nhiệm kỳ 2004 - 2011.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu chung có tính chất chủ đạo và nền tảng của luận văn là phương
pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể: mô tả luật, phân tích, phân tích quy
phạm, diễn giải và quy nạp, hệ thống hóa, mô hình hóa, tư duy lôgic và phương pháp lịch sử.
Phương pháp phân tích được áp dụng để phân tích tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã.
Phương pháp diễn giải và quy nạp được áp dụng nhằm lý giải và rút ra những kết luận cần thiết
sau mỗi lần nghiên cứu, phương pháp lịch sử nhằm xem xét các vấn đề trong luận văn theo
nguồn gốc xuất xứ và quá trình phát triển của nó. Các phương pháp hệ thống hóa, mô hình hóa,
tư duy lôgic nhằm hỗ trợ các phương pháp nói trên để trình bày các vấn đề có hệ thống, lôgic và
dễ hiểu.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3
chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã ở tỉnh Thừa
Thiên – Huế.
những ưu thế quyết định của nền dân chủ xã hôi chủ nghĩa v.v Vì rằng, một thiểu số người tức
là Đảng không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội”[33].
Tóm lại, xuất phát từ bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa là một Nhà nước dân chủ nên việc tổ
chức và hoạt động của BMNN xã hội chủ nghĩa luôn đảm bảo sự tập trung thống nhất quyền lực.
Chính vì lẽ đó, V.I.Lênin khi nói về cơ quan đại diện đã khẳng định: “Chúng ta không thể quan niệm
một nền dân chủ, dẫu là dân chủ vô sản, mà lại không có cơ quan đại diện”[33].
1.1.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cơ quan đại diện của nhân dân.
Năm 1911 Nguyễn Ái Quốc đã rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Người đã
đi nhiều nơi trên thế giới như châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, châu Á; tìm hiểu và nghiên cứu kinh
nghiệm của một số nước trên thế giới. Trong khi tìm hiểu, nghiên cứu Chủ tịch Hồ Chí Minh rất
chú ý xem xét những vấn đề về chính quyền nhà nước, vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng
xã hội.
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, để thực thi quyền làm chủ của nhân
dân trong việc xây dựng Nhà nước Việt Nam mới - Nhà nước Dân chủ Cộng hoà, ngày 3/9/1945,
trong cuộc họp Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã đề nghị tiến hành tổ chức “càng sớm càng
hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bộ máy chính quyền địa phương cũng thể hiện rất rõ trong Hiến pháp
1946, đó là thiết chế HĐND, cơ quan đại diện của nhân dân địa phương. HĐND được thành lập ở cấp
tỉnh, cấp huyện và cấp xã. HĐND quyết định những vấn đề thuộc địa phương mình, những kiến nghị
ấy không được trái với chỉ thị cấp trên. Có thể nói, tổ chức chính quyền địa phương với hình ảnh rõ
nhất là thiết chế cơ quan đại diện - HĐND một cơ quan quyết định những vấn đề có tính địa phương,
do nhân dân địa phương bầu ra và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ TRONG LỊCH SỬ LẬP PHÁP CỦA NƢỚC TA
Văn bản pháp luật đầu tiên về HĐND là Sắc lệnh số 63 - SL ngày 22 tháng 11 năm 1945 về
tổ chức, quyền hạn, cách làm việc của HĐND và UBHC có hiệu lực thi hành ngày 8 tháng 12
năm 1945.
Sau đó là các Sắc lệnh sửa đổi Sắc lệnh số 63: Sắc lệnh số 22A - SL ban hành ngày 18
tháng 02 năm 1946 về việc tổ chức các HĐND và UBHC do Chính phủ lâm thời ban hành, để
sửa đổi điều thứ 65 Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 tổ chức các HĐND và UBHC;
nước ở địa phương tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá VIII đã thông qua Luật tổ chức HĐND và
UBND ngày 30 tháng 6 năm 1989 (thay thế Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983).
Từ năm 1986, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã được đề xướng thực hiện. Công cuộc đổi
mới đã đặt ra yêu cầu phải “đổi mới” pháp luật để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện đổi mới toàn
diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó đổi mới tổ chức và hoạt động của BMNN là hết
sức cần thiết. Hiến pháp 1992 được xây dựng để đáp ứng nhu cầu đó. Cũng như Hiến pháp 1980, thiết
chế HĐND được quy định tại chương IX. Việc chia đơn vị hành chính vẫn giữ như trong Hiến pháp
1980.
Đến ngày 26/11/2003 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ
4 đã thông qua Luật tổ chức HĐND và UBND 2003. Trong văn bản này thì tổ chức và hoạt động cũng
như nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp đã được quy định một cách cụ thể và rõ ràng.1
1.3. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.3.1 Vị trí, tính chất, chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Vị trí, tính chất và chức năng của HĐND được quy định trong Điều 119, Điều 120 Hiến
pháp 1992 và cụ thể hoá trong Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Theo quy định tại Điều 1 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì:
“Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm
trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm
năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc
phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương,
làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.
Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị
quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương”.
1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã
Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức HĐND và
UBND, Thường trực HĐND. Các quyết định của HĐND được thể hiện dưới hình thức nghị
quyết.
HĐND thường lệ mỗi năm họp hai kỳ. Ngoài kỳ họp thường lệ, HĐND tổ chức các kỳ họp
chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường theo đề nghị của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND cùng cấp
hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND cùng cấp yêu cầu. Thường trực HĐND
quyết định triệu tập kỳ họp thường lệ của HĐND chậm nhất là hai mươi ngày, kỳ họp chuyên đề
hoặc bất thường chậm nhất là mười ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.
HĐND họp công khai. Khi cần thiết, HĐND quyết định họp kín theo đề nghị của Chủ tọa
cuộc họp hoặc của Chủ tịch UBND cùng cấp.
Ngày họp, nơi họp và chương trình của kỳ họp HĐND phải được thông báo cho nhân dân
biết, chậm nhất là năm ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp.
Kỳ họp HĐND được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu HĐND tham gia.
Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND cấp trên đã được bầu ở địa phương, Chủ tịch Uỷ ban
MTTQ Việt Nam, người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương và đại diện cử tri được
mời tham dự kỳ họp HĐND, được phát biểu ý kiến nhưng không biểu quyết.
Tài liệu cần thiết của kỳ họp HĐND phải được gửi đến đại biểu HĐND chậm nhất là năm
ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.
1.3.5. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Đại biểu HĐND cấp xã được nhân dân ở cấp xã tín nhiệm bầu ra là người đại diện cho ý
chí, nguyện vọng của nhân dân ở cấp xã. Vì vậy, đại biểu HĐND phải gương mẫu chấp hành
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính
sách, pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước.
1.4. MỐI QUAN HỆ GIỮA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ VỚI ỦY BAN
NHÂN DÂN CẤP XÃ VÀ VỚI CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở
ĐỊA PHƢƠNG
1.4.1. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với Ủy ban nhân dân cấp xã
Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với Ủy ban nhân dân cấp xã được quy định tại
Điều 2 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003. Điều 2 Luật tổ chức HĐND và UBND quy
định: “Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân
dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân
Uỷ ban MTTQ xã về tình hình hoạt động của HĐND cấp mình và nêu những kiến nghị của
HĐND với MTTQ. Trong kỳ họp thường lệ của HĐND, Uỷ ban MTTQ báo cáo về hoạt động
của MTTQ xã tham gia xây dựng chính quyền, về những ý kiến, kiến nghị, kiến nghị đối với
HĐND và với đại biểu HĐND cấp xã.
Mối quan hệ phối hợp HĐND và MTTQ đã được quy định tại Điều 125 Hiến pháp 1992:
“Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa
phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân
cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông
báo tình hình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến,
kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối
hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương”[12].
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP
XÃ Ở TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ
2.1. ĐẶC ĐIỂM VỀ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH THỪA THIÊN –
HUẾ
Nằm giữa miền Trung Việt Nam, Thừa Thiên - Huế có diện tích 5.009,2km, Bắc giáp tỉnh
Quảng Trị, Nam giáp thành phố Đà Nẵng, Đông giáp biển Đông, Tây có dãy Trường Sơn hùng
vĩ và giáp nước bạn Lào.
Thừa Thiên - Huế hiện có 8 huyện và thành phố Huế, cố đô của Việt Nam, đô thị loại 2,
một trung tâm văn hóa, giáo dục, y tế và du lịch quan trọng của cả nước. Về tổ chức hành chính,
Thừa Thiên - Huế có 8 huyện và thành phố Huế, với 152 xã, phường, thị trấn.
Với vị trí địa lý thuận lợi cùng với những ưu thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú là những tiền đề quan trọng để Thừa Thiên - Huế xây dựng cho mình định hướng phát triển
riêng, phát huy hiệu quả thế và lực của địa phương để giữ vững bước tiến vào thế kỷ XXI.
Trên đây là vài nét về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên - Huế, bên cạnh những
thành tựu đạt được còn có những khó khăn, yếu kém tồn tại. Tuy nhiên dưới sự lãnh đạo của các
cấp chính quyền cùng với sự giúp đỡ của nhân dân trong tương lai không xa tình hình kinh tế -
ra còn có một số nghị quyết về kế hoạch sử dụng đất, phân bổ ngân sách.
2.2.2.2. Hoạt động của Thƣờng trực Hội đồng nhân dân cấp xã
Thường trực HĐND gồm Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND cấp xã. Trong nhiệm kỳ 2004 -
2011 Thường trực HĐND cấp xã đã khẳng định được vị trí, vai trò của mình như: hoạt động
thường xuyên, đảm bảo việc tổ chức các hoạt động của HĐND giữa hai kỳ họp, đảm bảo sự sự
giám sát thường xuyên của HĐND và UBND, Chủ tịch HĐND cấp xã đã phối hợp với UBND
trong việc chuẩn bị các nội dung, điều kiện cho kỳ họp, thực hiện tốt nhiệm vụ chủ tọa, điều
khiển các kỳ họp, thực hiện tốt nhiệm vụ của chủ tọa, điều khiển các kỳ họp, đảm bảo để các kỳ
họp của HĐND thực hiện được các chương trình mà HĐND đề ra, phát huy tính dân chủ trong
mỗi kỳ họp.
2.2.2.3. Hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Cho đến nay các đại biểu HĐND cấp xã đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, tích cực trong
hoạt động giữ gìn phẩm chất đạo đức được nhân dân tín nhiệm. Nhiều đại biểu đã thực hiện tốt
việc tiếp xúc cử tri, thu thập phản ánh đầy đủ các ý kiến, kiến nghị của cử tri đối với HĐND.
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng trong hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã ở tỉnh Thừa
Thiên - Huế vẫn còn nhiều tồn tại, vướng mắc. Các đại biểu dành rất ít thời gian cho nhiệm vụ
đại biểu của mình đặc biệt là trong công việc tiếp xúc cử tri vì vậy hiệu quả của công việc tiếp
xúc cử tri chưa cao. Trong kỳ họp vẫn còn tình trạng nhiều đại biểu hầu không phát biểu ý kiến
thậm chí có những đại biểu không phát biểu lần nào trong suốt nhiệm kỳ, theo thống kê thì số đại
biểu chưa phát biểu chiếm khoảng 9,86%. Hầu như đại biểu tham gia thảo luận tại các kỳ họp là
các đại biểu giữ chức vụ chủ chốt lãnh đạo các ban ngành đoàn thể, những đại biểu ít phát biểu
hoặc không phát biểu ý kiến là do hạn chế về trình độ năng lực, nghiên cứu tài liệu chưa sâu,
hoặc thiếu mạnh dạn, vẫn còn một số đại biểu HĐND cấp xã vắng mặt ở các kỳ họp và thực hiện
chức năng giám sát, kiểm tra, đôn đốc cử tri còn hạn chế.
2.2.2.4. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã
Nhiệm kỳ qua, thường trực HĐND đã tổ chức 5016 đợt giám sát chuyên đề trên nhiều lĩnh
vực trọng yếu. Qua giám sát đã phát hiện và kiến nghị nhiều vấn ðề quan trọng với HÐND và
các ngành chức nãng ðể ðiều chỉnh kịp thời những nhýợc ðiểm, khuyết ðiểm trong quá trình thực
hiện, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác điều hành, quản lý, thúc đẩy sản xuất
kinh doanh phát triển.
Chúng ta cần nhận thức rằng để nâng cao hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của HĐND
nói chung HĐND cấp xã ở tỉnh Thừa Thiên - Huế nói riêng cần phải có những giải pháp đổi mới
một cách thống nhất. Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND phải đảm bảo nguyên tắc tập
trung dân chủ. HĐND thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo Hiến pháp, luật và các văn
bản của cơ quan nhà nước cấp trên, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa và chống các biểu hiện quan liêu hành chính cửa quyền, tham nhũng
lãng phí vô trách nhiệm và các biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ công chức trong bộ máy chính
quyền địa phương. Mặt khác cần phát huy tính chủ động và trách nhiệm của chính quyền địa
phương đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hôi, giáo dục, y tế, chăm lo đời sống nhân dân địa
phương đáp ứng nhu cầu bức thiết của nhân dân địa phương.
Ở nước ta hiện nay một số vấn đề về tổ chức của HĐND vẫn chưa được làm rõ và chưa có
định hướng đổi mới một cách căn bản nhất. Hiện nay HĐND cấp xã và cấp huyện hoạt động
chưa thật hiệu quả và đang đứng trước thực tế là phải xóa bỏ hình thức hoạt động của HĐND cấp
huyện và cấp xã. Chủ tịch UBND huyện do chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm còn ở cấp xã chức
danh Chủ tịch UBND xã do nhân dân trực tiếp bầu ra.
Trước thực tế đó HĐND cấp xã phải được kiện toàn và củng cố để đảm bảo thực hiện tốt
nhiệm vụ và thẩm quyền đã được giao phó. Xây dựng HĐND có thực quyền để thực hiện đầy đủ
vai trò là cơ quan đại diện của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Nâng cao
hiệu quả hoạt động trên các mặt: kỳ họp, hoạt động của Thường trực HĐND, hoạt động của đại
biểu HĐND để đảm bảo quyền dân chủ, quyền tham gia quản lý của nhân dân đối với nhà nước.
Để đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã ở tỉnh Thừa Thiên - Huế trong thời kỳ
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước hiện nay tôi xin mạnh dạn đề xuất một số giải pháp sau:
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của Hội đồng
nhân dân cấp xã.
3.2.1.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tổ chức của Hội đồng nhân dân
cấp xã.
3.2.1.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động của Hội đồng nhân
dân cấp xã.
* Hoàn thiện những quy định của pháp luật liên quan đến kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp
xã
Tuy nhiên những gì mà HĐND cấp xã đã làm được chưa đáp ứng với nhu cầu thực tế và và
xu hướng phát triển của thời đại. Bước sang thời đại mới trước nhu cầu công nghiệp hóa – hiện
đại hóa đất nước trước sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự thay đổi phương pháp
tư duy, phương pháp luận khoa học trong các lĩnh vực hoạt động của xã hội, trước sự đổi mới
một cách sâu sắc và toàn diện trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, để thích ứng với
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi hoạt động của HĐND phải được
đổi mới một cách toàn diện, thiết thực tránh tình trạng hoạt động một cách hình thức.
Qua việc tìm hiểu thực tế cho thấy cơ cấu tổ chức của HĐND các xã, phường, thị trấn ở
tỉnh Thừa Thiên - Huế nhìn chung chưa phù hợp với thực tiễn, hoạt động của HĐND cấp xã tại
tỉnh Thừa Thiên - Huế đặc biệt là kỳ họp HĐND chưa mang lại hiệu quả cao. Một số chủ trương,
nghị quyết của HĐND chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của cử tri trong xã, phường và
thị trấn của mình mà chỉ mới chú trọng vào mặt hình thức, hướng dẫn chung của chính quyền
cấp trên.
Đại biểu HĐND ở đây mặc dù đã có bước phát triển nhưng vẫn chưa đáp ứng với mong
mỏi của nhân dân. Năng lực, trình độ và tinh thần trách nhiệm của đại biểu HĐND chưa tương
xứng với vai trò là người đại diện cho nhân dân ở địa phương.
Chính vì vậy đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã ở tỉnh
Thừa Thiên - Huế là vấn đề hết sức cần thiết.
Để đúng nghĩa là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND xã cần nâng cao hơn
nữa về chất lượng và hiệu quả hoạt động, góp phần cùng hệ thống chính trị cơ sở lãnh đạo nhân
dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh của địa phương.
Tóm lại, HĐND cấp xã với vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương. Tính quyền lực nhà nước
của HĐND được thể hiện rõ nét qua việc nhân dân trực tiếp trao quyền thay mặt mình bằng phổ
thông đầu phiếu bầu ra HĐND để thực hiện quyền lực nhà nước và quyết định các vấn đề quan
trọng ở địa phương.
Với đề tài “Tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân cấp xã – qua thực tiễn ở tỉnh
Thừa Thiên - Huế” tôi hy vọng HĐND cấp xã tại tỉnh Thừa Thiên - Huế sẽ hoạt động mang lại
hiệu quả cao hơn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ở địa phương, làm tròn trách nhiệm để đúng nghĩa là
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
14. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994), Luật tổ chức Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật tổ chức Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Quốc hội nước Việt Nam (2002), Nghị quyết số 51/2001/QH 10 về việc sửa đổi, bổ
sung một số điều của Hiến pháp 1992, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
20. Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2002), Nghị quyết số 17
– NQ/TW về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn.
21. TS. Vũ Đức Khiển, Một số giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động và phát huy
toàn diện vai trò của chính quyền địa phương trong giai đoạn mới, Hội thảo chính quyền địa
phương Việt Nam – Sự hình thành, phát triển trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật qua các thời kỳ và
một số bài học kinh nghiệm.
22. PGS.TS. Trương Đắc Linh, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Từ hai sắc
lệnh số 63/SL và số 77/SL năm 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành đến các bản Hiến
pháp, pháp luật về Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và vấn đề đổi mới hiện nay, Hội thảo
chính quyền địa phương Việt Nam – Sự hình thành, phát triển trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật
qua các thời kỳ và một số bài học kinh nghiệm.
23. Đặng Đình Luyến, Một số vấn đề về thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân
dân huyện, quận, phường, Hội thảo chính quyền địa phương Việt Nam – Sự hình thành, phát
triển trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật qua các thời kỳ và một số bài học kinh nghiệm.
24. Mác – Ăngghen, Mác – Ăngghen tuyển tập, tập VI, năm 1984, Nxb Sự thật, Hà Nội.
25. Đoàn Nhuận, Đánh giá thực trạng các quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân hiện hành, phương hướng hoàn thiện luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy