Tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân cấp xã từ thực tiễn huyện hiệp đức, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI THÚY HẰNG

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN
HIỆP ĐỨC, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI THÚY HẰNG

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN
HIỆP ĐỨC, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẨN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN MINH ĐOAN


1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp xã...................................... 7
1.2. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp xã............................................................... 11
1.3. Hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã........................................................................ 11
1.4. Quan hệ của Hội đồng nhân dân cấp xã với các cơ quan khác của nhà nước, với
tổ chức đảng và với các tổ chức xã hội khác............................................................................ 15
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CẤP XÃ TẠI HUYỆN HIỆP ĐỨC, TỈNH QUẢNG NAM..............19
2.1. Khái quát về huyện Hiệp Đức và các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt
động của Hội đồng nhân dân cấp xã tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam...............19
2.2. Cơ sở pháp lý về việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã tại
huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam............................................................................................... 21
2.3. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã tại huyện Hiệp
Đức, tỉnh Quảng Nam hiện nay..................................................................................................... 22
2.4. Đánh giá chung về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã tại
huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam............................................................................................... 34
CHƯƠNG 3. YÊU CẦU, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN HIỆP ĐỨC, TỈNH QUẢNG NAM....................................................................... 42
3.1. Yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã.................42
3.2. Quan điểm đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã...........46
3.3. Một số giải pháp đổi mới việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp
xã............................................................................................................................................................... 48
KẾT LUẬN......................................................................................................................................... 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND

: Hội đồng nhân dân

vào cuộc sống, là nơi nhân dân trực tiếp thực hiện quyền dân chủ của mình.
HĐND xã, phường, thị trấn gọi chung là HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực
Nhà nước ở cấp xã.
Qua thực tiễn hoạt động cho thấy vị trí, vai trò của HĐND các cấp ngày càng
được nâng lên góp phần quan trọng cùng nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ kinh tế, xã hội của địa phương. Việc ban hành Luật Tổ chức chính quyền
địa phương năm 2015 đã kế thừa những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Hiệp Đức là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, cùng với sự phát triển
kinh tế của đất nước nói chung và của tỉnh Quảng Nam nói riêng. Việc đổi mới tổ
chức và hoạt động của HĐND cấp xã là việc cần thiết góp phần tích cực trong việc
đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, nâng cao đời sống
nhân dân đồng thời giải quyết vấn đề gây bức xúc trong nhân dân. Qua thực tiễn cho
thấy bên cạnh những kết quả đạt được HĐND cấp xã của huyện Hiệp Đức vẫn còn
nhiều hạn chế, bất cập trong tổ chức và hoạt động, chưa đáp ứng với yêu cầu phát
triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về phương thức tổ chức và hoạt động của
HĐND nói chung cũng như HĐND cấp xã nói riêng qua đó đưa ra một số giải pháp
hy vọng có thể góp phần và công cuộc đổi mới, hoàn thiện bộ máy cơ quan quyền
lực mà Nhà nước ta đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay nên tác giả đã mạnh dạn
chọn vấn đề: “Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã từ thực tiễn
huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam” để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều cuốn sách, bài viết và một số đề tài khoa học

1


đề cập đến chính quyền địa phương nói chung và vấn đề tổ chức và hoạt động của
HĐND cấp xã nói riêng với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, cụ thể:



3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài có mục đích nghiên cứu hệ thống các văn bản quy định của pháp luật
về tổ chức HĐND và việc thực hiện các quy định về tổ chức và hoạt động của
HĐND.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiến hành phân loại, đánh giá khách quan khoa học về tổng quan tình hình
nghiên cứu và xác định những vấn đề kế thừa, những vấn đề cần phải nghiên cứu
theo mục đích, nhiệm vụ của luận án.
Nghiên cứu những lý luận cơ bản về cơ cấu tổ chức và hoạt động của HĐND
cấp xã trong hệ thống bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Qua đó, làm rõ về vị
trí, vai trò, tính chất, quan niệm, mô hình HĐND hợp lý; khái niệm, đặc điểm về tổ
chức và hoạt động HĐND; đánh giá tính thống nhất, toàn diện, khách quan, khả thi
và kỹ thuật lập pháp của tổ chức và hoạt động của HĐND hiện hành; trình bày, phân
tích được các mô hình tổ chức chính quyền địa phương nói chung, Hội đồng địa
phương nói riêng ở một số nước trên thế giới và những kinh nghiệm có thể áp dụng
vào Việt Nam.
Nghiên cứu, phân tích, đánh giá những kết quả đạt được và chỉ ra những tồn
tại, hạn chế về cơ cấu tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã cần giải quyết từ góc
độ thể chế cũng như góc độ thực tiễn pháp lý và chính trị.
Nghiên cứu, đề xuất những quan điểm và giải pháp khoa học đúng đắn, hợp
lý nhằm đổi mới, hoàn thiện các quy định về tổ chức và hoạt động của HĐND ở
nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về tổ chức bộ máy và hoạt động của HĐND
cấp xã theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương và thực tiễn tổ chức bộ máy và
hoạt động của HĐND cấp xã của huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

các cấp, các thời kỳ phát triển của HĐND, các thành tựu và những tồn tại, hạn chế
của HĐND các cấp ở Việt Nam hiện nay.
Phương pháp so sánh dùng để tìm ra các điểm giống và khác nhau giữa các
mô hình tổ chức chính quyền địa phương các cấp và xác định những thay đổi trong

4


tổ chức của HĐND các cấp ở các giai đoạn khác nhau.
Phương pháp thống kê được sử dụng để tìm hiểu trình độ của đại biểu HĐND,
số Chủ tịch HĐND kiêm Bí thư cấp uỷ đảng cùng cấp, số Trưởng, Phó Trưởng Ban
HĐND hoạt động chuyên trách, số Nghị quyết chuyên đề, số lượng chất vấn và trả lời
chất vấn, các ý kiến đồng quan điểm trong điều tra xã hội học, các ý kiến trái chiều…

Phương pháp lịch sử được dùng để nghiên cứu quá trình hình thành và phát
triển các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã ở nước
ta, quá trình thay đổi của các đơn vị hành chính lãnh thổ ở nước ta.
Phương pháp hệ thống hoá được dùng để nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và
hoạt động của HĐND các cấp qua từng thời kỳ và từng địa phương, đồng thời sử
dụng để đánh giá mức độ tác động qua lại giữa các cơ cấu tổ chức HĐND với nhau.
Phương pháp mô hình hoá được dùng để trình bày kết quả nghiên cứu mô
hình tổ chức và hoạt động của HĐND phù hợp với nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị
kinh tế - hành chính đặc biệt trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Phương pháp diễn giải và quy nạp được áp dụng nhằm lý giải những kết luận
cần thiết sau mỗi lần nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu lý luận: thu thập, phân tích, xử lý, tổng hợp tư liệu
để xác định những nội dung cốt lõi của đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần bổ sung, làm phong phú, hoàn chỉnh thêm các luận chứng

HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp xã
1.1.1. Khái niệm Hội đồng nhân dân cấp xã
Cơ quan Nhà nước ở địa phương có đặc điểm chung là phạm vi hoạt động chỉ
trên địa bàn của các địa phương, trong từng đơn vị hành chính – lãnh thổ nhất định.
Trong bộ máy Nhà nước ta hiện nay, Chính quyền cơ sở đóng vai trò rất quan trọng,
là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, trực tiếp tổ chức triển khai thực
hiện các đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đảm bảo hiệu
quả triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng và những quy định của Nhà nước tại
địa bàn cơ sở.
Chính quyền cấp xã là tổ chức nhà nước gần dân nhất nên không chỉ là nơi
đảm bảo pháp luật được tôn trọng và thực hiện đầy đủ mà là nơi tạo điều kiện thiết
thực để phát huy quyền làm chủ, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của mọi công dân
đồng thời tạo điều kiện cho nhân dân ổn định đời sống vật chất và tinh thần trong
phạm vi xã, phường, thị trấn. Chính quyền cấp xã do hai bộ phận cấu thành: HĐND
cấp xã và UBND cấp xã. Như vậy, HĐND xã, phường, thị trấn là bộ phận cấu thành
không thể thiếu và tách rời của chính quyền địa phương của nước ta hiện nay.
Do đó, Nhà nước ta là nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa, mọi quyền lực đều
thuộc về nhân dân. Các đại biểu dân cử là những người đại diện cho nhân dân và sử
dụng quyền lực chính trị mà nhân dân đã ủy thác, giao phó. Hội đồng nhân dân cấp
xã do nhân dân trong xã bầu ra, là cơ quan đại diện cho nhân dân ở địa phương,
được nhân dân ủy quyền để thay mặt nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng
nhất của địa phương trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội trên địa bàn
và thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
Trong khoa học pháp lý và thực tiễn hoạt động, HĐND cấp xã có thể được
nhận diện từ những khía cạnh khác nhau nhưng về cơ bản, căn cứ vào nhận thức

7




8


nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Quan tâm đến tất cả các
thông tin liên quan đến cử tri để hiểu rõ những vấn đề mà cử tri đang mong đợi để
hình thành chương trình hoạt động của đại biểu HĐND và là đại diện tiêu biểu cho
tiếng nói chung của mọi tầng lớp nhân dân trong xã, đại diện cho trí tuệ tập thể của
cử tri.
Thứ tư, HĐND xã là cấp gần dân nhất, cấp nhỏ nhất trong hệ thống cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương và là cơ quan đại diện cho ý chí, tâm tư, nguyện
vọng của nhân dân, HĐND không chỉ là nơi đảm bảo để pháp luật được thượng tôn
và thực hiện nghiêm, đầy đủ mà còn là nơi tạo điều kiện thiết thực để nhân dân phát
huy quyền làm chủ của mình tại địa phương, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của
công dân đồng thời tạo điều kiện cho nhân dân ổn định đời sống cả về mặt vật chất
cũng như tinh thần trong từng địa phương đó.
Thứ năm, HĐND cấp xã được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập
trung dân chủ và các quyết định của HĐND cấp xã phải được đa số các đại biểu
nhất trí và biểu quyết tán thành, nhất là việc bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND,
Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND cấp xã, thành viên UBND cấp xã hay biểu quyết
thông qua các Nghị quyết của HĐND.
1.1.3. Vai trò của Hội đồng nhân dân cấp xã
Từ khi Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thôn qua và có
hiệu lực thi hành, cùng với sự hoàn thiện hệ thống bộ máy nhà nước từ Trung Ương
đến địa phương, HĐND cấp xã nhanh chóng được hình thành và phát triển. HĐND
cấp xã đã liên tục hoàn thiện và khẳng định được vai trò của mình trong hệ thống
chính trị. HĐND cấp xã là nơi phản ánh trực tiếp cuộc sống của nhân dân trên địa
bàn cấp xã, tổ chức, quản lý tất cả các hoạt động và phong trào của nhân dân; đại
diện cho ý chí, tâm tư, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương,

phạm vi lãnh thổ nhất định mọi cá nhân, tổ chức phải có trách nhiệm thi hành, tính
quyết định của HĐND thông qua Nghị quyết, là cơ sở pháp lý để mọi tổ chức, cá
nhân trên địa bàn phải tuân thủ chấp hành.
Như vậy, có thể thấy HĐND cấp xã có vai trò rất quan trọng, theo quy định hiện
hành của pháp luật thì vai trò HĐND cấp xã là vai trò không thể phủ định. Điều đó có ý
nghĩa rất quan trọng, vừa củng cố sức mạnh của bộ máy Nhà nước cấp cơ sở, vừa phát
huy được quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng và củng cố các tổ chức cơ
sở Đảng, tăng cường sức mạnh của cả hệ thống chính trị ở địa phương.

10


1.2. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp xã
Theo quy định tại Điều 32, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, tổ chức
HĐND cấp xã gồm đại biểu HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND.
HĐND cấp xã được cấu thành bởi các đại biểu HĐND và tùy thuộc vào dân số của
từng địa phương, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Thường trực HĐND
cấp xã gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và
các Ban của HĐND, trong đó Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã là đại biểu Hội
đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.
Thường trực HĐND cấp xã do HĐND cùng cấp bầu ra và được Thường trực
HĐND cấp huyện phê chuẩn, Thường trực HĐND cấp xã bao gồm Chủ tịch Hội
đồng nhân dân, một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Phó Chủ tịch Hội đồng nhân
dân xã là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách, không có ủy viên
thường trực như HĐND cấp huyện và tỉnh.
Hội đồng nhân dân xã được cơ cấu thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã
hội. Ban của Hội đồng nhân dân xã gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các
Ủy viên của Ban, số lượng Ủy viên các Ban của Hội đồng nhân dân xã do Hội đồng
nhân dân xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban
của Hội đồng nhân dân xã hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm.

nội dung, chính sách và các nhiệm vụ của hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương
hoặc là những văn bản quy phạm pháp luật. Nghị quyết của HĐND cấp xã về hình
thức phải đảm bảo đúng thể thức, được trình bày rõ ràng, đúng văn phạm Tiếng
Việt, không sử dụng những từ đa nghĩa, khi cần thiết phải giải thích những thuật
ngữ trong Nghị quyết.
* Chức năng giám sát của HĐND cấp xã:
Giám sát là chức năng quan trọng của HĐND, vì vậy để thực hiện chức năng
giám sát thì bản thân HĐND cấp xã phải có năng lực và khả năng giám sát, có hình
thức và phương pháp giám sát một cách hợp lý, khoa học. Đặc biệt trong những
năm qua HĐND các cấp rất quan tâm đến việc thực hiện chức năng giám sát nhằm
góp phần thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, các Nghị quyết của HĐND, nhất là trong lĩnh vực bảo vệ và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân.
Tại Điều 57, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm
2015, giám sát của HĐND được thông qua các hoạt động cụ thể sau:
“Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban

12


nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự
cùng cấp và các báo cáo khác theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
Xem xét việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn quy định tại điểm
đ khoản 1 Điều 5 của Luật này.
Giám sát chuyên đề.”[38, tr.26]
Trong quá trình thực hiện chức năng giám sát phải tuân theo các nguyên tắc
đó là chính xác, khách quan, công khai minh bạch và đúng pháp luật trong quá trình
triển khai thực hiện giám sát. Khi phát hiện có sai phạm thì có quyền yêu cầu các cơ
quan, tổ chức đó xem xét xử lý theo thẩm quyền của pháp luật quy định.
1.3.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 không chứa quy phạm pháp luật,
trừ các nghị quyết được ban hành theo quy định của Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật 2015 mới chứa quy phạm pháp luật.
1.3.3. Phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
* Phương thức hoạt động tập thể thông qua các kỳ họp của HĐND
Đây là phương thức hoạt động quan trọng nhất của HĐND cấp xã. Tại đây
các đại biểu HĐND tập trung thảo luận dân chủ các vấn đề quan trọng nhất của địa
phương. Thông qua các kỳ họp của HĐND mà ý chí, nguyện vọng của nhân dân
được hình thành nên các quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
Tại các kỳ họp HĐND, các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND cấp xã được
quyết định, chức năng giám sát của HĐND cấp xã được thực hiện.
Kỳ họp của HĐND cấp xã được tổ chức thường lệ mỗi năm hai kỳ họp và
ngoài kỳ họp thường lệ của HĐND có thể tổ chức kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp
bất thường.
* Phương thức hoạt động của Thường trực HĐND cấp xã
Thường trực HĐND cấp xã quyết định triệu tập kỳ họp HĐND cấp xã, công
khai dự kiến chương trình kỳ họp, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cùng cấp tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri ở địa phương để báo cáo tại kỳ họp
HĐND. Tổng hợp ý kiến chất vấn của đại biểu HĐND giữa hai kỳ họp, đôn đốc các
ban ngành gửi tài liệu kỳ họp đúng theo quy định của pháp luật.
Chủ tọa kỳ họp HĐND cấp xã do Thường trực HĐND cấp xã điều khiển các
phiên họp theo chương trình đã được HĐND cấp xã thông qua và dự kiến các vấn
đề đưa ra thảo luận tại phiên họp của HĐND. Thường trực HĐND cấp xã yêu cầu
UBND báo cáo trực tiếp hoặc bằng văn bản về việc thực hiện Nghị quyết của

14


HĐND và tổ chức giám sát việc thực hiện Nghị quyết HĐND, khi có dấu hiệu sai
phạm Thường trực HĐND có quyền yêu cầu UBND cùng cấp xem xét, xử lý và báo



hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng
và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn xã.
* Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với Đảng ủy cấp xã
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là một nguyên tắc đã được ghi nhận tại
Điều 4, Hiến pháp năm 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai
cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.[39, tr.2]
* Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Trong hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam có vị trí, vai trò hết sức quan trọng và được quy định tại Điều 9,
Hiến pháp năm 2013:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự
nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá
nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài. [39, tr.3]
HĐND cấp xã phối hợp chặt chẽ với MTTQ và các tổ chức thành viên của
Mặt trận ở địa phương xây dựng mối quan hệ làm việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ
của mình. Mỗi năm hai lần vào giữa năm và cuối năm, Chủ tịch HĐND cấp xã
thông báo bằng văn bản đến Ủy ban MTTQ Việt Nam xã về tình hình hoạt động của
HĐND cấp mình và nêu những kiến nghị của HĐND với MTTQ. Trong kỳ họp
thường lệ của HĐND, Ủy ban MTTQ báo cáo về hoạt động của MTTQ xã tham gia
xây dựng chính quyền về những ý kiến, kiến nghị đối với HĐND và với đại biểu
HĐND cấp xã.
Mối quan hệ phối hợp HĐND và MTTQ đã được quy định tại Điều 116,


17


Tiểu kết Chương 1
Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do
nhân dân trực tiếp bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của
nhân dân; có quyền quyết định những vấn đề quan trọng có liên quan đến các vấn đề
thuộc các lĩnh vực về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân
đồng thời có trách nhiệm giám sát toàn bộ hoạt động của cơ quan nhà nước tại địa
phương.
Hội đồng nhân dân là thiết chế quan trọng tạo nên hệ thống cơ quan nhà
nước ở địa phương có vị trí, vai trò to lớn trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của nhà nước trên địa bàn xã trong thể thống nhất chung của bộ máy nhà nước
thực hiện quyền lực nhân dân đồng thời hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã được
đảm bảo bằng kết quả của các kỳ họp HĐND, hiệu quả hoạt động của Thường trực
HĐND và của các đại biểu HĐND cấp xã.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status