Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã - qua thực tiễn ở tỉnh Thừa Thiên - Huế - Pdf 25



4

MỤC LUC

LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 11
1.1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cơ
quan đại diện của nhân dân 11
1.1.1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về cơ quan đại diện của nhân
dân 11
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ quan đại diện của nhân dân. 13
1.2 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Hội đồng nhân dân
cấp xã trong lịch sử lập pháp của nƣớc ta 17
1.3 Những quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của
Hội đồng nhân dân cấp xã 24
1.3.1 Vị trí, tính chất, chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã 24
1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã 27
1.3.3. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã 31
1.3.4. Kỳ họp của Hội đồng nhân dân cấp xã 33
1.3.5. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 34
1.4. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với Ủy ban nhân dân cấp
xã và với các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội ở địa phƣơng 36
1.4.1. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với Ủy ban nhân dân cấp
6

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Bộ máy nhà nước : BMNN
Hội đồng nhân dân : HĐND
Mặt trận Tổ quốc : MTTQ
Uỷ ban hành chính : UBHC
Ủy ban nhân dân : UBND
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Xã, phường, thị trấn gọi chung là cấp xã, là chính quyền cấp thấp nhất ở
cơ sở có lịch sử lâu dài ở nước ta. Đây là cấp chính quyền có quan hệ trực tiếp
đến từng người dân là cầu nối chuyển tải mọi chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống. Có thể nói chức năng, thẩm
quyền của chính quyền cấp xã thực sự trở thành đối tượng để thực hiện
phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” một cách hiệu quả nhất.
Chính quyền cấp xã trực tiếp tổ chức cho nhân dân xã thực hiện Hiến pháp,

phát triển kinh tế - xã hội khá lớn. Hiện nay tỉnh có 152 đơn vị hành chính cấp
xã trong đó có 105 xã và 39 phường và 8 thị trấn. Nhìn chung HĐND cấp xã
tại tỉnh Thừa Thiên - Huế trong những năm qua đã đạt được những thành tựu
nhất định như ban hành các cơ chế cải cách hành chính, thực hiện giao dịch
một cửa liên thông…góp phần đưa tỉnh Thừa Thiên - Huế từng bước phát
triển đi lên. Tuy nhiên HĐND cấp xã tại đây vẫn còn nhiều bất cập, hạn
chế trong tổ chức và hoạt động, chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh. Chất lượng hoạt động của HĐND chưa phản ánh rõ nét
qua các kỳ họp, năng lực, trình độ và nhận thức của đại biểu HĐND chưa
xứng tầm với yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế thị trường và nguyện vọng
của cử tri.
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về phương thức tổ chức và hoạt động của
HĐND nói chung cũng như HĐND cấp xã tại tỉnh Thừa Thiên - Huế nói
riêng qua đó đưa ra một số giải pháp hy vọng có thể góp một phần vào công
cuộc đổi mới, hoàn thiện bộ máy cơ quan quyền lực mà Nhà nước ta đang
đặt ra trong giai đoạn hiện nay nên tác giả đã mạnh dạn chọn vấn đề: “Tổ
chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã – qua thực tiễn ở tỉnh
ThừaThiên - Huế” để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
3
2. Tình hình nghiên cứu.
Trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay cùng với nhiệm
vụ cải cách mạnh mẽ bộ máy nhà nước nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa – hiện đại hóa đất nước thì việc nghiên cứu hệ thống cơ quan quyền lực ở
địa phương có vai trò đặc biệt quan trọng. Việc nghiên cứu này sẽ tạo điều
kiện để Việt Nam có thể hướng tới việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, thiết
lập cơ chế phân công, phối hợp và kiểm tra giám sát quyền lực nhà nước.
Xuất phát từ nhu cầu đó, thời gian qua các nhà khoa học pháp lý nước ta đã

chính trong một chính quyền đô thị chứ không phải là một chính quyền cơ sở
của cộng đồng dân cư cố kết với nhau như ở làng xã. Đứng về gốc độ quản lý,
xã là cơ quan quản lý toàn diện hơn. Cụ thể tư liệu sản xuất quan trọng nhất ở
nông thôn là đất đai do xã đứng ra quản lý, ở đô thị chức năng này thuộc cấp
quận và thành phố, chức năng phường chủ yếu quản lý đô thị. Chính quyền ở
xã liên quan toàn diện đến đời sống kinh tế - xã hội của địa phương. Còn
chính quyền ở phường không liên quan nhiều đến đời sống kinh tế - xã hội
của phường, chính quyền phường không có chức năng quản lý nhà nước về
kinh tế. HĐND phường như trên đã phân tích, hoạt động rất hình thức không
có thực quyền vì chỉ có thể quyết định lại các vấn đề HĐND quận và thành
phố đã quyết định. Do vậy việc không tổ chức HĐND phường là hợp lý và
cần thiết và theo xu hướng phát triển, trong các đô thị lớn hiện nay có thể chỉ
còn hai cấp hành chính: một cấp thành phố và cấp dưới thành phố, trong đó
cấp dưới thành phố là cấp giúp việc cho chính quyền thành phố. Còn xã là tổ
chức cơ sở tiến tới hoạt động theo nguyên tắc chính quyền tự quản việc duy
trì HĐND với tư cách là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền
làm chủ của người dân ở cơ sở xã là cần thiết.
Theo TS Văn Tất Thu HĐND ở nước ta được hình thành trên cơ sở các
đơn vị hành chính lãnh thổ dẫn đến có nhiều cơ quan và nhiều đại biểu đại 5
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Thế nhưng vẫn
còn nhiều bức xúc, nhân dân đòi hỏi, nhiều đơn thư, kiến nghị của nhân dân
chưa được giải quyết kịp thời. Do có nhiều đại biểu nên nhiều khi nhân dân
không rõ từng đại biểu đại diện cho mình đến đâu, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp và chịu trách nhiệm trước mình như thế nào?
Do có nhiều cơ quan, đại biểu đại diện cho nhân dân, nhiệm vụ,
quyền hạn chồng chéo, không rõ ràng nên dẫn đến tình trạng cùng một
việc có nhiều cơ quan giám sát, cùng một việc nhiều người nói mà hiệu

theo Hiến pháp 1992, Hội thảo chính quyền địa phương Việt Nam – Sự hình
thành, phát triển trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật qua các thời kỳ và một số bài
học kinh nghiệm.
GS.TS Nguyễn Đăng Dung đã trình bày một cách chi tiết chính quyền
địa phương trong thời kỳ Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa cho đến
trước Hiến pháp năm 1992 đang hiện hành từ đó so sánh những điểm khác
biệt so với Hiến pháp năm 1992 đang hiện hành.
* PGS.TS. Nguyễn Cửu Việt, PGS.TS. Trương Đắc Linh, Tổ chức
chính quyền địa phương của một số nước trên thế giới, của Việt Nam qua
các bản Hiến pháp và vấn đề đổi mới tổ chức chính quyền địa phương ở
Việt Nam hiện nay, Hội thảo chính quyền địa phương Việt Nam – Sự hình
thành, phát triển trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật qua các thời kỳ và một số
bài học kinh nghiệm.
Hai tác giả khái quát mô hình tổ chức đơn vị hành chính – lãnh thổ và
mô hình tổ chức chính quyền địa phương trên thế giới. Từ mô hình chính
quyền địa phương ở các nước trên thế giới tác giả đã so sánh, đối chiếu với
mô hình chính quyền địa phương ở nước ta từ đó tác giả đưa ra phương
hướng, giải pháp đổi mới mô hình tổ chức đơn vị hành chính – lãnh thổ và mô
hình tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta. 7
* Th.S. Phan Văn Ngọc, Mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và
chính quyền địa phương hiện nay, Hội thảo chính quyền địa phương Việt
Nam – Sự hình thành, phát triển trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật qua các thời
kỳ và một số bài học kinh nghiệm.
Tại bài viết này đã trình bày mối quan hệ giữa chính quyền trung ương
với chính quyền địa phương đồng thời đưa ra những vấn đề đặt ra trong mối
quan hệ giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương.
* Lê Tư Duyến, Chính quyền điạ phương ở Việt Nam và vấn đề đổi

và phát huy toàn diện vai trò của chính quyền địa phương trong giai đoạn mới,
Hội thảo chính quyền địa phương Việt Nam – Sự hình thành, phát triển trên cơ
sở Hiến pháp, pháp luật qua các thời kỳ và một số bài học kinh nghiệm.
Tác giả đã xác định rõ chính quyền địa phương ở nước ta là những cơ quan
nào của nhà nước và vsi trò cả chính quyền địa phương trong hệ thống cơ quan
nhà nước từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động và phát
huy toàn diện vai trò của chính quyền địa phương trong giai đoạn mới.
* Th.S. Phạm Thị Bích Thủy, Giải pháp xây dựng bộ máy chính quyền
nhà nước ở địa phương theo xu hướng tinh gọn và hiệu quả, Hội thảo chính
quyền địa phương Việt Nam – Sự hình thành, phát triển trên cơ sở Hiến pháp,
pháp luật qua các thời kỳ và một số bài học kinh nghiệm.
Tại đây Th.S. Phạm Thị Bích Thủy đã đưa ra một số vấn đề lý luận về cơ
quan nhà nước ở địa phương ở nước ta, thực trạng tổ chức và hoạt động của
chính quyền nhà nước địa phương ở nước ta hiện nay từ đó đưa ra phương
hướng giải pháp chủ yếu xây dựng bộ máy chính quyền nhà nước ở địa
phương theo xu hướng tinh gọn và hiệu quả.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
Luận văn có mục đính nghiên cứu một cách hệ thống tổ chức và hoạt
động của HĐND cấp xã. Đồng thời đi sâu nghiên cứu thực trạng tổ chức và 9
hoạt động HĐND cấp xã ở tỉnh Thừa Thiên - Huế. Từ đó đánh giá đúng thực
trạng để đưa ra những quan điểm và đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới tổ
chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã ở tỉnh Thừa Thiên -
Huế nói riêng, HĐND cấp xã nói chung trên phạm vi cả nước.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên luận văn có những nhiệm vụ
chủ yếu sau:
- Phân tích, nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức
và hoạt động của HĐND cấp xã. Làm rõ vị trí, vai trò của HĐND cấp xã

được xây dựng trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng, các quan điểm học
thuyết, pháp lý được thừa nhận ở Việt Nam và thực trạng tổ chức và hoạt động
của HĐND cấp xã.
+ Thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động của
HĐND cấp xã ở tỉnh Thừa Thiên - Huế trong nhiệm kỳ 2004 - 2011.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu chung có tính chất chủ đạo và nền tảng của
luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các phương pháp nghiên cứu
khoa học cụ thể: mô tả luật, phân tích, phân tích quy phạm, diễn giải và quy
nạp, hệ thống hóa, mô hình hóa, tư duy lôgic và phương pháp lịch sử.
Phương pháp phân tích được áp dụng để phân tích tổ chức và hoạt động của
HĐND cấp xã. Phương pháp diễn giải và quy nạp được áp dụng nhằm lý giải và
rút ra những kết luận cần thiết sau mỗi lần nghiên cứu, phương pháp lịch sử nhằm
xem xét các vấn đề trong luận văn theo nguồn gốc xuất xứ và quá trình phát triển
của nó. Các phương pháp hệ thống hóa, mô hình hóa, tư duy lôgic nhằm hỗ trợ
các phương pháp nói trên để trình bày các vấn đề có hệ thống, lôgic và dễ hiểu.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm có 3 chương. 11
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ

1.1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về cơ quan đại diện của nhân dân
1.1.1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về cơ quan đại diện

cấp vô sản Nga và các nước Cộng hoà khác ở Cap-ca-zơ, vùng Ban tích; sau
này trở thành hình thức của Nhà nước Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Xô Viết. Xô Viết xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc tổng bãi công của công
nhân thành phố Petrograt năm 1905, với tư cách là hội đồng đại biểu công
nhân để đấu tranh đòi lợi ích chính trị và kinh tế cho giai cấp. Trong quá trình
lãnh đạo và xây dựng chính quyền Xô viết, Lênin đặc biệt nhấn mạnh quyền
tham gia quản lý nhà nước của người lao động, coi:
“Sự tham gia của người lao động vào chính quyền như là mục đích
của chính quyền Xô viết. Và theo Người, việc thu hút được mọi người lao
động tham gia vào quản lý là một trong những ưu thế quyết định của nền dân
chủ xã hôi chủ nghĩa v.v Vì rằng, một thiểu số người tức là Đảng không thể
thực hiện được chủ nghĩa xã hội”[33].
Hình thức nhà nước dân chủ xuất hiện sau chiến tranh thế giới thứ II
trong một số nước ở châu Âu như: Anbani, Bungari, Cộng hoà dân chủ Đức
và ở châu Á như: Việt Nam, Trung Quốc,…Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển
của hình thức nhà nước dân chủ nhân dân là một thực tiễn sinh động để khẳng
định sự đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin về sự phong phú và đa dạng của
các hình thức nhà nước xã hội chủ nghĩa. Hình thức này phù hợp với tình hình
cách mạng của các nước sau chiến tranh thế giới thứ II. Vì vậy, đã góp phần
tăng cường sức mạnh và phát huy hiệu lực của các Nhà nước xã hội chủ nghĩa 13
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Cách mạng thành công nhiều nước xã
hội chủ nghĩa mới ra đời, hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa. Hình thức
nhà nước dân chủ nhân dân ra đời với những đặc điểm riêng, phù hợp với tình
hình lịch sử, đáp ứng được yêu cầu cách mạng trong thời kỳ mới.
Tóm lại, xuất phát từ bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa là một Nhà
nước dân chủ nên việc tổ chức và hoạt động của BMNN xã hội chủ nghĩa
luôn đảm bảo sự tập trung thống nhất quyền lực. Ở các nước xã hội chủ nghĩa

cao của của nhân dân trong việc xây dựng chính quyền Nhà nước, nhưng
Nhà nước ở Mỹ lại rơi vào tay của giai cấp tư sản, do đó công nông vẫn cứ
cực khổ.
Đối với cách mạng tư sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đánh giá rằng, Nhà
nước tư sản Pháp ra đời là thành quả của cuộc cách mạng 1789 lật đổ chế độ
phong kiến với những khẩu hiệu nổi tiếng:“Bình đẳng, tự do, bác ái”; đây là
tư tưởng rất tiến bộ, phản ánh tư tưởng của các nhà cách mạng Pháp ở thế kỷ
ánh sáng chống lại bọn phong kiến; giai cấp tư sản Pháp thấy rõ vai trò và sức
mạnh của nhân dân nên đã tìm cách lợi dụng nhân dân để chống lại ách thống
trị của bọn phong kiến; tư bản nó “dụng” chữ tự do, bình đẳng, đồng bào để
lừa dân, xúi dân đánh đổ bọn phong kiến rồi thì nó quay lại thay phong kiến
mà áp bức dân.
Nghiên cứu hai cuộc cách mạng tư sản Pháp và Mỹ ở thế kỷ XVIII
Nguyễn Ái Quốc rút ra những kết luận chung nhất:
Một là, giai cấp tư sản Mỹ và Pháp đã lợi dụng sức mạnh của nhân dân,
tìm cách mị dân để lôi kéo nhân dân vào cuộc đấu tranh chống lại chế độ
phong kiến.
Hai là, khi giành được chính quyền, thiết lập được BMNN tư sản trên cơ
sở đập tan Nhà nước phong kiến rồi thì giai cấp tư sản quay lại đàn áp bóc lột
nhân dân, không thực hiện những điều mà họ đã khẳng định trong Tuyên 15
ngôn của họ là quyền lực tối cao trong thiết chế chính quyền Nhà nước thuộc
về nhân dân.
Nguyễn Ái Quốc cũng đã để nhiều tâm sức vào nghiên cứu, tìm hiểu cuộc
Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Người nhận thức được ý nghĩa sâu sắc
của cuộc Cách mạng tháng Mười là cuộc cách mạng do giai cấp công nhân, mà
tiên phong của nó là Đảng Bôn Sê Vích Nga lãnh đạo, cuộc cách mạng vô sản
này thật sự đề cao vai trò của nhân dân, huy động tất cả mọi lực lượng chủ yếu

trong Quốc hội, HĐND. Hồ Chí Minh nêu rõ:
“Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND nếu
những đại biểu ấy không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”[19].
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bộ máy chính quyền địa phương cũng thể
hiện rất rõ trong Hiến pháp 1946, đó là thiết chế HĐND, cơ quan đại
diện của nhân dân địa phương. HĐND được thành lập ở cấp tỉnh, cấp
huyện và cấp xã. HĐND quyết định những vấn đề thuộc địa phương
mình, những kiến nghị ấy không được trái với chỉ thị cấp trên. Có thể
nói, tổ chức chính quyền địa phương với hình ảnh rõ nhất là thiết chế cơ
quan đại diện - HĐND một cơ quan quyết định những vấn đề có tính địa
phương, do nhân dân địa phương bầu ra và phải chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước của nhân dân, một Nhà nước
dân chủ đã, đang và sẽ soi đường cho sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà
nước ta hiện nay. Trong điều kiện nước ta hiện nay, chúng ta phải tiếp tục
nâng cao và hoàn thiện hình thức dân chủ đại diện, tăng cường hiệu lực, hiệu
quả hoạt động của HĐND đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân qua
hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia xây
dựng và giám sát hoạt động của BMNN. 17
1.2 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Hội đồng
nhân dân cấp xã trong lịch sử lập pháp của nƣớc ta
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến việc
xây dựng và củng cố chính quyền địa phương.
Văn bản pháp luật đầu tiên về HĐND là Sắc lệnh số 63 - SL ngày 22
tháng 11 năm 1945 về tổ chức, quyền hạn, cách làm việc của HĐND và
UBHC có hiệu lực thi hành ngày 8 tháng 12 năm 1945. Theo sắc lệnh này thì

Hiến pháp 1946 tuy chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về HĐND nhưng vai
trò quan trọng của HĐND, mối quan hệ giữa HĐND với cấp trên cũng đã
được xác định trong Điều thứ 59 “Hội đồng nhân dân quyết nghị về những
vấn đề thuộc địa phương mình. Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ
thị của các cấp trên”. Mối quan hệ giữa HĐND và UBHC cũng đã được Điều
thứ 60 Hiến pháp 1946 xác định “Uỷ ban hành chính chịu trách nhiệm đối với
cấp trên và đối với Hội đồng nhân dân địa phương mình”.
Ngày 29 tháng 4 năm 1958, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đã lần đầu tiên ban hành một đạo luật quy định về cách thức tổ chức HĐND,
đó là Luật tổ chức Chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương tổ chức
thành các khu tự trị, các thành phố trực thuộc Trung ương, tỉnh, châu, thành
phố trực thuộc tỉnh, thị xã, xã, thị trấn; không có quy định đơn vị hành chính
phường. Theo quy định tại Điều 3 Luật tổ chức chính quyền địa phương thì
“Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương,
do nhân dân bầu ra. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân mỗi cấp và cách
thức bầu cử do luật bầu cử quy định”. Tuy nhiên, số lượng các điều khoản về
HĐND còn rất hạn chế mới chỉ dừng lại ở 20 điều; các quy định còn rất
chung chung, chưa có các điều khoản quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động
của HĐND cấp xã; nhiệm kỳ của HĐND cấp xã được quy định là 2 năm. 19
Với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954, hoà bình được lập lại ở
miền Bắc, miền Nam còn nằm dưới sự kiểm soát của đế quốc Mỹ. Nhiệm vụ
của cách mạng giai đoạn này là: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu
tranh giải phóng miền Nam tiến tới thống nhất nước nhà. Để đáp ứng và phục
vụ cho yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong tình hình mới Quốc hội đã
quyết định sửa đổi Hiến pháp 1946. Sau một thời gian dài nghiên cứu, soạn
thảo công phu, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Hiến
pháp 1959 để thay thế Hiến pháp 1946. Hiến pháp 1959 được Quốc hội khoá I

Nghị quyết giải tán của Hội đồng nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực
thuộc trung ương phải được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn trước khi
thi hành”
Trên cơ sở Hiến pháp 1959, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức HĐND
và UBHC các cấp tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá II ngày 27 tháng 10 năm
1962 (hiệu lực thi hành từ 11/11/1962 đến 09/7/1983). Theo đạo luật này, tổ
chức và hoạt động của HĐND cấp xã được quy định cụ thể như sau:
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: HĐND cấp xã căn cứ vào kế hoạch kinh tế và
văn hoá của cấp trên quyết định kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá và những
sự nghiệp lợi ích công cộng của xã, xét duyệt dự án và phê chuẩn quyết toán
ngân sách của xã; căn cứ vào pháp luật của Nhà nước, ra những quy định về
trật tự trị an, về vệ sinh chung của xã. Những quy định này trước khi thi hành
phải được UBHC cấp trên phê chuẩn.
- Về tổ chức, hoạt động: Tuỳ theo nhu cầu công tác, HĐND thành lập các
ban của HĐND để giúp HĐND tìm hiểu ý kiến, nguyện vọng của nhân dân,
góp ý kiến với HĐND trong việc xây dựng và thực hiên những chủ trương
công tác ở địa phương. HĐND cấp xã hoạt động theo chế độ hội nghị, các
nghị quyết của HĐND phải được quá một phần hai tổng số đại biểu HĐND
biểu quyết tán thành. 21
Điểm mới về tổ chức chính quyền cấp xã theo Hiến pháp 1959 và Luật
tổ chức HĐND và UBHC các cấp 1962 so với trước đây là:
+ Về hình thức văn bản pháp luật đã được quy định bằng Hiến pháp, cụ
thể hơn trong Luật; do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành chứ
không quy định trong Sắc lệnh của Chính phủ như trước đây.
+ HĐND các cấp được xác định là “cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa
phương” và được sử dụng chính thức trong pháp luật nước ta với nội dung:
HĐND vừa là cơ quan nhà nước đóng tại địa phương thay mặt Nhà nước giải

và 120 Hiến pháp 1980 quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu
HĐND:
“Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự
giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt
động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu và kiến nghị
của cử tri, xem xét và giúp giải quyết những điều khiếu nại và tố cáo của
nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân tuyên truyền, phổ biến pháp luật,
chính sách của Nhà nước và nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên
nhân dân địa phương tham gia quản lý Nhà nước”.
“Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Uỷ ban nhân dân và
các cơ quan Nhà nước khác của địa phương. Cơ quan bị chất vấn phải trả lời
trước Hội đồng nhân dân trong thời hạn do luật định. Đại biểu Hội đồng
nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan Nhà nước ở địa phương. Những
người phụ trách các cơ quan này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét và giải
quyết kiến nghị của đại biểu”.
Mối quan hệ phối hợp giữa HĐND và MTTQ cũng đã được quy định
trong Điều 114 Hiến pháp 1980 “Trong hoạt động của mình, Hội đồng nhân
dân dựa vào sự cộng tác chặt chẽ của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và sự
tham gia rộng rãi của công dân”.

Trích đoạn Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status