Thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã (qua thực tiễn tại huyện điện biên, tỉnh điện biên) - Pdf 22

LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ, tên đề tài: “Thực hiện pháp luật
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã (Qua thực tiễn tại huyện Điện
Biên, tỉnh Điện Biên)”
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi. Trong quá
trình viết đề tài này, tôi đã sử dụng một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoa
học và những thông tin trong văn bản của Nhà nước nhưng đã được chú dẫn.
Công trình này chưa được tác giả công bố.
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 11
TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN 11
PHÁP LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 11
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẦU CỬ 37
ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ TẠI 37
HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN 37
CHƯƠNG 3 72
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ 72
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU 72
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 72
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp năm 1992 đã xác định bản chất của Nhà nước ta và phương
thức chủ yếu sử dụng quyền lực nhà nước của nhân dân. Điều 2 Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm
2001) đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Tiếp đó, Điều 6
Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua

nhân dân cấp xã nói riêng cần phải tổ chức thực hiện tốt pháp bầu cử.
Thực tế cho thấy việc thực hiện pháp luật nói chung, pháp luật bầu cử
đại biểu các cơ quan đại diện nói riêng trong thời gian qua có lúc, có nơi còn
chưa được nghiêm chỉnh. Chính vì thế, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ
chín của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX đã chỉ rõ:“cần tiếp tục đổi
mới và hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, ban hành và thực thi pháp
luật, trong đó chú trọng trong việc tuyên truyền và tổ chức thi hành pháp luật
một cách nghiêm minh”. [9, tr. 204 -205]
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng hoạt động tổ chức thực hiện chính
sách, pháp luật. Người cho rằng:“Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng
lợi. Nhưng khi chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại của chính sách
đó là do cách thức tổ chức công việc, lựa chọn cán bộ và kiểm tra. Nếu một
trong ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng trở nên vô nghĩa”.[ 14,
tr 150 – 151] Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, sự thành công hay thất bại
của chính sách pháp luật còn do nơi thực hiện.
GS.TSKH Đào Trí Úc, trong bài: “Xã hội học thực hiện pháp luật
những khía cạnh nhận thức cơ bản” của đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp
luật số 2/2005 có viết:“Nỗ lực xây dựng pháp luật sẽ không đạt được kết quả,
nếu nối liền theo đó thiếu nỗ lực cho việc thực hiện pháp luật”. [10, 2/2002]
Chính sách đúng, phương pháp tổ chức phù hợp là cơ sở cho sự thành
công của một chính sách pháp luật. Và như vậy, chính sách pháp luật bầu cử
đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã sẽ đạt kết quả, góp phần vào công cuộc đổi
mới, kiện toàn hệ thống chính trị khi và chỉ khi nó được đảm bảo thực hiện trên
thực tế. Tuy nhiên, qua thực tiễn thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp xã tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên nhiệm kỳ 2004 – 2009
cho thấy: việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có
lúc, có nơi còn chưa được bảo đảm, còn có biểu hiện của vi phạm pháp luật bầu
cử một cách nghiêm trọng. Nguyên nhân của thực trạng đó, một phần do sự bất
cập giữa lý luận với thực tiễn, một phần do ý thức của các chủ thể trong quá
trình thực thi pháp luật, dẫn đến hệ quả là tính dân chủ trong pháp luật bầu cử

biên giới chung với nước bạn Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa. Tại tỉnh Điện Biên trình độ dân trí còn thấp, dân cư
phân bổ không đồng đều, kinh tế - xã hội chậm phát triển, nguồn nhân lực còn
đang rất hạn chế. Đây có thể là những rào cản dẫn đến việc thực hiện pháp
luật bầu cử nói chung và việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp xã nói riêng chưa được tốt.
Những phân tích trên, là cơ sở cho việc tác giả lựa chọn, nghiên cứu đề
tài: “Thực hiện pháp luật bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã: Qua thực tiễn
tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” trong khuôn khổ của một luận văn thạc
sĩ luật học.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Bầu cử với bản chất là một trong những phương thức thể hiện dân chủ,
là “thước đo” dân chủ của một quốc gia gắn liền với chế độ dân chủ đại diện,
Nó được đề cao trong các nền dân chủ đương đại.
Ở Việt Nam, liên quan đến bầu cử, có những công trình nghiên cứu
như: Luận án “Chế độ bầu cử ở nước ta - những vấn đề lý luận và thực tiễn”
(2009) của Vũ Văn Nhiêm có nội dung chủ yếu là lập luận về sự cần thiết
phải đổi mới chế độ bầu cử và nêu các giải pháp đổi mới chế độ bầu cử cơ
quan đại diện cao nhất (Quốc hội) trên phương diện lý luận và thực tiễn. Cuốn
sách “Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội -2006), do TS. Đặng Đình
Tân (Chủ biên) đã khẳng định: bầu cử là phương thức rất quan trọng và hữu
hiệu thông qua đó, nhân dân giám sát Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.
Dưới góc độ chính trị học, nội dung cuốn sách đưa ra một số kết luận bổ ích
về thực trạng của chế độ bầu cử nước ta. Sách chuyên khảo của tập thể tác giả
do GS.TSKH. Đào Trí Úc (Chủ biên) với tiêu đề: “Xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội -
2005) có đánh giá vai trò quan trọng của chế độ bầu cử trong việc xây dựng
Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhóm
nghiên cứu đã chỉ rõ rằng chế độ bầu cử ở Việt Nam hiện nay chưa được quan

Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua đã có nhiều nỗ lực để ban hành
pháp luật, tạo nên một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ để thúc đẩy phát
triển các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội nhưng yếu
nhất vẫn là khâu thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống”. [10, 2/2002]
“Chế độ bầu cử” và cách thức thực hiện pháp luật còn được đề cập trong
các giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam hoặc Luật Hiến pháp nước ngoài thuộc
Chương trình đào tạo Cử nhân luật. Trong các giáo trình này, thường có
chương (mục) riêng viết về chế độ bầu cử, với mục đích chủ yếu là cung cấp
những kiến thức cơ bản về bầu cử, pháp luật về bầu cử cho sinh viên luật.
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập chế độ bầu
cử và thực hiện pháp luật ở chính quyền cơ sở. Trong nội dung các bài viết ít,
nhiều đều đề cập thực trạng pháp luật bầu cử dưới góc độ thực tiễn, nhưng
chưa quan tâm nhiều đến pháp luật bầu cử dưới góc độ “ đời sống thứ hai của
pháp luật”, hay nói cách khác là chưa thật sự quan tâm đến việc nghiên cứu
thực tiễn thực hiện pháp bầu cử ở các địa phương, nhất là nghiên cứu việc
thực hiện pháp luật bầu cử ở những xã vùng núi, vùng sâu, vùng xa như ở
huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là đánh giá đúng thực trạng và đưa ra
những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc còn tồn tại trong
quá trình trình thực thi pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp xã, trong đó có các xã ở vùng núi, vùng cao như huyện Điện Biện,
tỉnh Điện Biên nói riêng.
Để đạt được mục đích nói trên, Luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích cơ sở lý luận về pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
cấp xã: khái niệm, vai trò và các hình thức thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu
Hội đồng nhân dân cấp xã.
- Xây dựng các tiêu chí đáng giá hiệu quả của việc thực hiện pháp luật
bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã.

nước thuộc về nhân dân là cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu thực
hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã trong Luận văn.
Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác-
Lênin, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân
tích, tổng hợp, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lịch
sử; phương pháp so sánh, để giải quyết các vấn đề đặt ra trong Luận văn.
6. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Là công trình nhỏ nhưng Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về
việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã qua thực
tiễn thực thi pháp luật bầu cử tại một địa phương cụ thể. Kết quả nghiên cứu
đề tài có đóng góp như sau:
- Góp phần đổi mới nhận thức về vai trò của việc thực hiện pháp luật
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp xuất phát từ thực tế nhằm hoàn thiện cơ sở
pháp lý về pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo, nghiên cứu cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và
các cơ quan, tổ chức hữu quan.
7. Kết cấu của luận văn
Bố cục luận văn gồm có: Mở đầu, 3 chương, Kết luận và Danh mục tài
liệu tham khảo.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1. Khái niệm, nội dung của pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp xã
1.1.1. Khái niệm pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Bầu cử đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người. Trong chế độ công
xã nguyên thủy, do nhu cầu cần có người đứng đầu quản lý công việc chung của
thị tộc nên mỗi thị tộc bầu ra người đứng đầu, thường bầu ra Tù trưởng và Thủ

thể những quy định của pháp luật chứa đựng các quy tắc xử sự chung, do các
chủ thể có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong
lĩnh vực bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nhằm thiết lập nên các cơ
quan đại diện tại chính quyền cấp xã theo quy định của pháp luật.
Nhưng nếu pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã chỉ được
nhìn nhận trên phương diện lập pháp bao gồm các hoạt động như: xây dựng và
ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về bầu cử đại biểu
các cơ quan đại diện tại chính quyền cấp xã là chưa đủ, vì pháp luật là một phạm
trù tương đối trừu tượng có tính khái quát cao, nó luôn là sự tổng kết, mô hình
hóa các quan hệ xã hội. Chúng ta cần nhìn nhận pháp luật ở góc độ thứ hai, góc
độ thực tiễn, đó là việc thực thi pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp
xã trong đời sống xã hội. Từ góc độ thứ hai ta thấy, muốn đưa pháp luật bầu cử
đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã vào cuộc sống phải có các điều kiện, cơ chế
bảo đảm thực thi.
Từ những phân tích trên, khái niệm pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp xã còn có thể được hiểu là: tổng thể các quy định của pháp luật
chứa đựng các quy tắc xử sự chung, do các chủ thể có thẩm quyền ban hành,
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân cấp xã và các cơ chế đảm bảo thực thi pháp luật bầu cử đại biểu
Hội đồng nhân dân cấp xã trên thực tiễn nhằm thiết lập nên các cơ quan đại diện
tại chính quyền cấp xã.
1.1.2. Nội dung pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Nội dung pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được quy
định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật bầu cử Hội đồng
nhân dân 2003 và các văn bản liên quan khác, bao gồm:
1.1.2.1 Các nguyên tắc của pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
cấp xã
Nguyên tắc bầu cử là những tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt hoạt động xây
dựng pháp luật và thực thi pháp luật bầu cử. Nguyên tắc bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân cấp xã gồm các nguyên tắc hiến định: phổ thông, bình đẳng, trực

bị khuyết tật không tự bỏ phiếu bầu vào hòm phiếu thì có thể nhờ người khác
hoặc nếu vì ốm, đau cử tri không đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử phải
đưa hòm phiếu phụ và phiếu bầu cử đến tận nơi để cử tri bỏ phiếu. Nguyên
tắc này bảo đảm người đại biểu Hội đồng nhân xã trực tiếp tiếp nhận ủy
quyền từ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân địa phương và chịu trách
nhiệm trước cử tri địa phương.
Nguyên tắc bỏ phiếu kín. Nguyên tắc được quy định nhằm đảm bảo cho
sự lựa chọn của mỗi cá nhân, họ được tự do thể hiện ý chí của mình khi lựa
chọn người đại diện mà không bị ảnh hưởng của bất kỳ sự tác động nào. Khu
vực bỏ phiếu có phòng viết phiếu kín, hòm phiếu kín; không ai được đến xem
lúc cử tri viết phiếu bầu; phiếu không có dấu hiệu đặc biệt, in sẵn tên để
không phát hiện ra phiếu của người nào, cử tri phải trực tiếp viết phiếu và bỏ
phiếu, nếu không biết viết (gạch tên) thì có thể nhờ người viết hộ nhưng phải
tự mình bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Nguyên tắc tự do bỏ phiếu. Pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp xã hiện nay chưa trực tiếp quy định nguyên tắc này trong các văn bản
pháp luật bầu cử. Tuy nhiên, việc pháp luật bầu cử quy định đi bầu cử là
“quyền” của công dân (Điều 54 Hiến pháp 1992; Điều 2 Luật bầu cử đại biểu
Hội đồng nhân dân) mà không quy định việc cử tri đi bỏ phiếu là “nghĩa vụ”,
thì trong tinh thần của pháp luật bầu cử đã thể hiện nguyên tắc này bỏ phiếu
tự do. Tuy nhiên, việc bỏ phiếu tự do phải được hiểu là cử tri có quyền thực
hiện quyền bầu cử của mình hoặc không thực hiện quyền bầu cử (cử tri có
quyền đi bỏ phiếu hoặc không đi bỏ phiếu bầu cử) hoặc có quyền lựa chọn bỏ
phiếu cho bất cứ ứng cử viên nào trong đơn vị bầu cử của mình.
Ngoài ra, pháp luật còn quy định tính công khai trong hoạt động bầu cử,
mọi công đoạn của quá trình bầu cử đều phải diễn ra công khai như: việc giới
thiệu và lập danh sách ứng cử viên, các thông tin liên quan đến các ứng cử
viên, danh sách cử tri, việc kiểm phiếu … Trừ thời điểm bỏ phiếu phải đảm
bảo không có sự tham gia của bất cứ nhân vật nào, kể cả nhân viên phụ trách
công việc bầu cử tại phòng bỏ phiếu. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự thống

dân 2003). Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi mình
thường trú hoặc cư trú.
Cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã phải là người cư trú
thường xuyên có quyền lợi gắn bó với địa phương, nếu mới chuyển đến thì
phải hoàn tất thủ tục hoặc có giấy giới thiệu chuyển đến cư trú làm ăn sinh
sống tại địa phương mới có quyền bầu cử đối với cử tri là những người chưa
có hộ khẩu thường trú, nhưng có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ở nơi cư trú mới thì được ghi vào danh sách cử tri tại địa
phương nơi cư trú mới để tham gia bầu cử; Trường hợp tạm vắng khỏi nơi cư
trú để đi lao động, làm ăn xa hoặc vì lý do khác, nếu đã đăng ký tạm trú từ 6
tháng trở lên ở nơi cư trú mới thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại địa
phương nơi cư trú mới để thực hiện quyền bầu cử; Trường hợp tạm vắng khỏi
nơi cư trú để đi lao động để đi thăm người thân, đi du lịch hoặc vì lý do khác
thì ghi tên vào danh sách hộ khẩu thường trú để thực hiện quyền bầu cử (Điều
14 Nghị định số 19/NĐ–CP)
Kế hoạch số 38/KH–UB của Ủy ban nhân dân Lâm thời, tỉnh Điện Biên
hướng dẫn: Đối với dân di cư tự do ở khu vực tái định cư mới, nếu ổn định
đời sống và có công ăn việc làm, có quyền lợi gắn bó với địa phương thì vẫn
có quyền đi bầu cử.
Chậm nhất là 35 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp xã phải
niêm yết danh sách cử tri tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã và những nơi công
cộng trong khu vực bỏ phiếu; đồng thời thông báo rộng rãi địa điểm để người
dân biết. Luật quy định như vậy, nhằm bảo đảm để tất cả các cử tri đều được
thực hiện quyền bầu cử. Mặt khác, nhằm bảo đảm sự bình đẳng trong bầu cử,
không ai có thể đi bỏ phiếu ở nhiều nơi.
. Công tác tuyên truyền, vận động bầu cử
- Công tác tuyên truyền pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã đảm bảo công tác thông tin, tuyên truyền, cổ
động cho cuộc bầu cử tại điạ phương theo chỉ đạo của Hội đồng bầu cử. [21]
Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội,

đơn vị bầu cử và số danh sách đơn vị bầu cử trình Ủy ban nhân dân cấp trên
trực tiếp phê chuẩn. Việc xác định đơn vị bầu cử được căn cứ vào số lượng
dân cư và số đại biểu được bầu của đơn vị hành chính.
- Khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, được quy
định như sau: Mỗi đơn vị bầu cử được chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu.Số
lượng cử tri ở mỗi khu vực bỏ phiếu được quy định từ 300 đến 4.000 cử tri. Ở
miền núi, hải đảo những nơi không tập trung thì dù chưa có tới 300 cử tri
cũng có thể thành lập khu vực bỏ phiếu. Việc chia khu vực bỏ phiếu do Ủy
ban nhân dân cấp xã ấn định và phải được Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp
phê chuẩn.
. Các tổ phụ trách bầu cử
- Hội đồng bầu cử cấp xã, Hội đồng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
cấp xã có từ 9 đến 11 người (Điều 16); Ban bầu cử, đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp xã có từ 7 đến 9 người (Điều 17) do đặc thù của chính quyền cấp xã
nên trong thành phần ban bầu cử có: Bí thư, Phó bí thư chi bộ, trưởng thôn,
bản, khu phố, trưởng ban công tác mặt trận, cán bộ phụ trách các đoàn thể ở
thôn, bản (những người này phải không trong danh sách ứng cử viên tại đơn
vị bầu cử này) và đại diện tập thể cử tri địa phương. Nhiệm vụ chủ yếu của
Ban bầu cử là kiểm tra, đôn đốc công tác bầu cử tại địa phương; Tổ bầu cử,
Ban thường trực Ủy ban thường trực mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng cấp,
quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một tổ bầu cử từ có 5 đến 9 tổ
viên để tổ chức thực hiện việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
trong phạm vi khu vực bỏ phiếu (Điều 18), đối với đơn vị bầu cử cấp xã thành
viên Ban bầu cử, kiêm luôn nhiệm vụ của Tổ bầu cử. [21]
Thành phần ban bầu cử cấp xã, cần phải lựa chọn những có nhiệt tình
công tác, có kiến thức nhất định và có khả năng thực hiện nhiệm vụ bầu cử,
chấp hành tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đối với chức danh thư ký tổ
bầu cử, chọn người có khả năng tổng hợp ghi biên bản bầu cử để tránh sai sót
nhầm lẫn.[21]
Nguyên tắc đối với các thành viên Tổ phụ trách bầu cử: Các thành viên

tự mình bỏ phiếu. Người viết hộ phải đảm bảo bí mật phiếu bầu của cử tri.
Nếu vì tàn tật không thể tự tay bỏ vào hòm phiếu thì có thể nhờ người khác tự
tay bỏ phiếu vào hòm. Cử tri viết phiếu không ai được xem kể cả thành viên
của tổ bầu cử. Mọi người đều phải tuân thủ nội quy phòng bỏ phiêú; Không
được tuyên truyền vận động bầu cử tại nơi bỏ phiếu.
Địa điểm bỏ phiếu và phòng bỏ phiếu: địa điểm bỏ phiếu phải trang
nghiêm, có đủ phương tiện vật chất để phục vụ bầu cử và thuận lợi cho cử tri
đến bầu. [18]
- Kết quả bầu cử ở mỗi đơn vị bầu cử
Ban bầu cử kiểm tra các biên bản kiểm phiếu của các tổ bầu cử và lập
biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình, biên bản xác định
kết quả bầu cử phải phản ánh một số nội dung biên bản như: Số cử tri tham
gia bỏ phiếu, tỉ lệ phiếu đạt được so với tổng số cử tri đã được lập danh sách;
số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử. Những người ứng cử được quá nửa số
phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn thì trúng cử. Trường hợp có nhiều
người có số phiếu bằng nhau thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử.
. Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động bầu cử
Ban thường trực Ủy ban mặt trận tổ quốc cấp xã cần phối hợp chặt chẽ với các
tổ chức thành viên và thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp, giám sát và vận
động nhân dân giám sát quá trình tổ chức, thực hiện cuộc bầu cử. Quá trình bầu cử
đảm bảo các thủ tục, trình tự tiến hành bầu cử thực sự dân chủ, đúng luật.
. Bầu cử thêm, bầu cử lại
Các tổ phụ trách bầu cử trong lần bầu cử đầu tiên tiếp tục làm nhiệm vụ
trong cuộc bầu cử thêm, bầu cử lại trong những trường hợp cụ thể theo quy
định của pháp luật.
1.2. Khái niệm, vai trò và các hình thức thực hiện pháp luật bầu cử
đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Bên cạnh việc tìm hiểu pháp luật bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã từ
góc độ pháp luật thực định, cần xem cách thức tổ chức và thực hiện pháp luật
bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã của các chủ thể. Đây là nội dung quan trọng

xã hội)
Quá trình
xây dựng
pháp luật
PHÁP LUẬT
Thực tiễn pháp lý
Thực hiện Hành vi
pháp luật pháp luật
Các quan
hệ pháp
luật
thực hiện pháp luật là nghiên cứu về con đường tác động ngược trở lại của
hình thức pháp lý đối với nội dung xã hội”. [27, tr108]
Trong giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật của trường Đại
học luật Hà Nội xuất bản năn 2008. GS.TS Lê Minh Tâm đưa ra khái niệm:
“Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy
định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi
thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật”. [11, tr 468]
Từ những phân tích như trên, tôi nhận thức được rằng: Thực hiện pháp
luật là một khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý. Bản chất của thực hiện
pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể (Nhà nước, cá
nhân, tổ chức) thuộc đối tượng điều chỉnh của các quy phạm pháp luật. Dựa
trên các quy định của pháp luật (quy phạm pháp luật), trong phạm vi quyền
và nghĩa vụ của mình thông qua hành vi thực tế, hợp pháp, các chủ thể cụ thể
hóa các quy định pháp luật vào đời sống thực tiễn.
Vận dụng các tri thức lý luận đã dẫn ở trên tôi đưa ra khái niệm thực
hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là quá trình thực
hiện có mục đích của các chủ thể (cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể trong
quan hệ pháp luật bầu cử) thông qua hành vi thực tế, hợp pháp của mình,
hiện thực hóa các quy phạm pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

quyền đó sẽ không được sự thừa nhận của nhân dân, không được nhân dân
ủng hộ. Đây là một trong những nguyên nhân làm chính quyền địa phương
hoạt động không hiệu quả và là mầm mống làm phát sinh những mâu thuẫn
xã hội, gây mất ổn định chính tri tại địa phương.
Thứ hai, thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Trích đoạn CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status