Trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng vận tải đa phương thức - Pdf 10

Trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp
đồng vận tải đa phương thức Nguyễn Thị Thu Hằng Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Dũng
Năm bảo vệ: 2008 Abstract. Tổng quan các vấn đề lý luận và thực tiễn về vận tải đa phương thức
(VTĐPT) và trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển hàng
hóa bằng VTĐPT. Nghiên cứu, so sánh các quy định trong pháp luật Việt Nam với
các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia khác về trách nhiệm
của người vận chuyển trong VTĐPT. Rút ra những nhận xét, đánh giá thực trạng
pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam theo Nghị định số 125/NĐ-CP và trong Bộ luật
Hàng hải Việt Nam năm 2005. Đề xuất các kiến nghị và giải pháp trên các phương
diện như: cần sớm ban hành các quy định pháp luật về VTĐPT nội địa; thực hiện
thống nhất chế độ trách nhiệm đối với VTĐPT; cần sửa đổi một số quy định về trách
nhiệm của người kinh doanh VTĐPT theo Nghị định số 125/NĐ-CP; bổ sung các
quy định về miễn trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm trong các luật chuyên ngành về
vận tải nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm của người vận
chuyển trong VTĐPT, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế nước ta hiện nay.

Keywords. Hợp đồng vận tải đa phương thức; Luật kinh tế; Pháp luật Việt Nam;
Vận chuyển
giao lưu thương mại quốc tế. Đề tài: "Trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng vận
tải đa phương thức" được xây dựng nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý
luận và thực tiễn liên quan đến trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển
đặc thù này đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về VTĐPT ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay ở Việt Nam, số lượng các tài liệu, công trình khoa học cũng như các bài viết về
VTĐPT còn rất hạn chế và chủ yếu đề cập tới ở khía cạnh kinh tế mà chưa đề cập nhiều ở
khía cạnh pháp lý. Qua tìm hiểu về vấn đề này cho thấy mới chỉ có rất ít công trình nghiên
cứu và bài viết có đề cập đến một số vấn đề pháp lý liên quan như: Đề tài luận văn thạc sĩ:
"Nghiên cứu và hiệu chỉnh các quy định pháp lý trong vận tải đa phương thức ở Việt Nam" của
tác giả Ngô Xuân Lực, năm 1999; Đề tài luận văn thạc sĩ: "Vận tải đa phương thức và khả
năng áp dụng vận tải đa phương thức ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Hồng Vân, năm 1997;
một số bài viết: "Phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức - một thách thức lớn đối với Việt
Nam trước thềm hội nhập" của Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Tiệm, "Trách nhiệm của người chuyên
chở hàng hóa trong vận tải đa phương thức" của tác giả Nguyễn Hồng Vân, Tạp chí Cầu
đường Việt Nam, số 11, 2004.
Chính vì vậy, có thể khẳng định cho tới nay gần như chưa có một công trình nghiên cứu nào
đề cập một cách hệ thống và đầy đủ về vấn đề trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp
đồng VTĐPT. Trên cơ sở đó luận văn đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ và
toàn diện về trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng VTĐPT từ đó đưa ra một số
kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn bên cạnh việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong trách nhiệm
của người vận chuyển trong hợp đồng VTĐPT, đồng thời cũng tiến hành phân tích những ưu
điểm và hạn chế trong những quy định pháp luật Việt Nam hiện nay. Thông qua đó, hướng
tới việc đưa ra một số ý kiến đóng góp về mặt lý luận cho việc ban hành, sửa đổi các quy
định pháp luật của Việt Nam về vấn đề này.
Với mục đích đó, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về VTĐPT và trách nhiệm của người vận

việc các doanh nghiệp Việt Nam tham gia ngày một nhiều hơn vào VTĐPT với cả tư cách
người kinh doanh VTĐPT, người gửi hàng và người nhận hàng là một xu thế đã được khẳng
định. Đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất về
VTĐPT phù hợp với pháp luật quốc tế đồng thời là cơ sở cho việc xác định trách nhiệm pháp
lý của người vận chuyển trong hợp đồng VTĐPT trong trường hợp phát sinh tranh chấp liên
quan đến loại hợp đồng đặc biệt này.
Luận văn có một số đóng góp mới về lý luận và thực tiễn như sau:
Thứ nhất: Luận văn đi sâu nghiên cứu và phân tích những vấn đề lý luận về trách nhiệm
của người vận chuyển trong hợp đồng VTĐPT, từ đó nêu lên những thiếu sót và bất cập trong
những quy định pháp luật về vấn đề này trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện
nay.
Thứ hai: Luận văn đề ra một số kiến nghị và giải pháp trong việc hoàn thiện pháp luật về
trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng VTĐPT nhằm đáp ứng đòi hỏi của việc
điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động này trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng
VTĐPT.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng
VTĐPT ở Việt Nam.
Chương 3: Hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của người vận
chuyển trong hợp đồng VTĐPT

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN VĂN
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƢỜI
VẬN CHUYỂN TRONG HỢP ĐỒNG VẬN TẢI ĐA PHƢƠNG THỨC
1.1. Hợp đồng vận tải đa phƣơng thức
1.1.1. Khái quát về vận tải đa phương thức

- Chỉ có một người chịu trách nhiệm về hàng hóa trước người gửi hàng đó là người kinh
doanh VTĐPT. Người kinh doanh VTĐPT có thể là người thực hiện việc vận chuyển hàng
hóa, cũng có thể chỉ tham gia vào một khâu trong quá trình vận chuyển hàng hóa hoặc thậm
chí chỉ là người đứng ra tổ chức hoạt động vận chuyển với sự tham gia của những người vận
chuyển thực sự. Tuy nhiên, chỉ người kinh doanh VTĐPT phải chịu trách nhiệm đối với hàng
hóa trong suốt quá trình vận chuyển từ khi nhận hàng để vận chuyển cho tới khi hàng hóa
được giao tới tay người nhận ở nơi đến.
- Người kinh doanh VTĐPT hành động như một người chủ ủy thác chứ không phải như
đại lý của người gửi hàng hay đại lý của người vận chuyển tham gia vào quá trình vận
chuyển.
- Người gửi hàng phải trả cho người kinh doanh VTĐPT tiền cước phí chở suốt cho tất cả
các phương thức vận tải mà hàng hóa đi qua theo một giá đơn nhất được các bên thỏa thuận.
- Đặc biệt, trong VTĐPT quốc tế, nơi nhận hàng hóa để chở và nơi giao hàng thường ở
những nước khác nhau và hàng hóa thường được vận chuyển bằng những công cụ vận tải như
container, pallet, trailer
1.1.2. Hợp đồng vận tải đa phương thức
Hợp đồng VTĐPT là một loại hợp đồng vận chuyển, vì vậy trước hết hợp đồng này mang
những đặc trưng của hợp đồng vận chuyển, bên cạnh đó do đây là một phương pháp vận
chuyển hàng hóa có những đặc trưng riêng nên hợp đồng VTĐPT cũng mang những nét đặc
thù thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:
- Giống như các loại hợp đồng vận chuyển khác, hợp đồng VTĐPT có đối tượng là việc
chuyển dịch hàng hóa từ nơi này đến nơi khác.
- Hợp đồng VTĐPT có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên để
hạn chế rủi ro cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng và làm cơ sở cho việc giải
quyết tranh chấp, pháp luật Việt Nam quy định hợp đồng này bắt buộc phải thể hiện dưới
hình thức văn bản
- Về mặt chủ thể, các bên tham gia trong hợp đồng bao gồm người thuê vận chuyển và
người kinh doanh VTĐPT. Người kinh doanh VTĐPT là người tổ chức quá trình vận chuyển
hàng hóa, người duy nhất chịu trách nhiệm về hàng hóa trong toàn bộ hành trình với tư cách
của một người vận chuyển. Đối với phương pháp vận chuyển này, pháp luật các nước đều đặt

phải đi thuê ít nhất một phương thức trong dây chuyền vận chuyển. Ngoài vai trò là người ủy
thác như một người vận chuyển thực sự có trách nhiệm đối với hàng hóa trước khách hàng
của mình người kinh doanh VTĐPT còn là người sử dụng các dịch vụ vận tải của người thứ
ba, là những người vận chuyển thực tế, để thực hiện hợp đồng mà mình đã ký kết.
1.2.1.2. Người vận chuyển thực tế
Người vận chuyển thực tế là người thực hiện toàn bộ hoặc một phần việc vận chuyển
hàng hóa. Khi người kinh doanh VTĐPT thực hiện một hoặc tất cả các giai đoạn của quá
trình vận chuyển thì bản thân họ cũng đóng vai trò của một người vận chuyển thực tế. Tuy
nhiên, cho dù có tự mình thực hiện hoạt động vận chuyển hàng hóa hay không, họ vẫn phải
chịu chế độ trách nhiệm riêng theo quy định của pháp luật về VTĐPT - chế độ trách nhiệm
đối với người vận chuyển theo hợp đồng.
Đối với những người vận chuyển thực tế khác, trong trường hợp xảy ra hư hỏng, tổn thất
đối với hàng hóa thì trách nhiệm của họ là trách nhiệm đối với người kinh doanh VTĐPT và
thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật liên quan đến từng phương thức vận tải
mà họ đảm nhận trong các công đoạn của quá trình vận chuyển.
1.2.2. Trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng vận tải đa phương thức
Vận chuyển hàng hóa là một hoạt động kinh doanh mang nhiều đặc thù nên trách nhiệm
tài sản áp dụng cho hành vi vi phạm trong quan hệ vận chuyển cũng có những điểm riêng
biệt. Với sự phân tích ở phần 1.2.1, khi xem xét vấn đề trách nhiệm của người vận chuyển
trong hợp đồng VTĐPT, tác giả tập trung đề cập ở khía cạnh trách nhiệm của người kinh
doanh VTĐPT theo các quy định pháp luật về vấn đề này.
1.2.2.1. Chế độ trách nhiệm
Với tính chất là người vận chuyển trong hợp đồng, người kinh doanh VTĐPT là người chịu
trách nhiệm trước người thuê vận chuyển về hàng hóa trong toàn bộ quá trình vận chuyển.
Trách nhiệm của người kinh doanh VTĐPT đối với hàng hóa trong quá trình chuyên chở là
một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của pháp luật về VTĐPT. Các nội dung được
đề cập tới trong trách nhiệm bồi thường đối với những mất mát, hư hỏng của hàng hóa trong
quá trình vận chuyển cũng như vấn đề chậm giao hàng bao gồm: cơ sở trách nhiệm, thời hạn
trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm, trách nhiệm của người kinh doanh VTĐPT đối với những
hành vi hay thiếu sót của người làm công, đại lý, hoặc người chuyên chở thực tế mà người

Ngoài các trường hợp miễn trách nhiệm quy định cụ thể trong pháp luật, người kinh
doanh VTĐPT chỉ được loại trừ trách nhiệm đối với những mất mát, hư hỏng xảy ra đối với
hàng hóa trong thời hạn trách nhiệm hoặc việc giao hàng chậm khi chứng minh được rằng
anh ta, người làm công hoặc đại lý của anh ta đã áp dụng mọi biện pháp hợp lý, cần thiết để
ngăn chặn sự cố xảy ra và hậu quả của nó.
1.2.2.3. Thời hạn trách nhiệm (Period of liability)
Trong VTĐPT, thời hạn trách nhiệm được xác định từ khi hàng hóa được giao cho người
vận chuyển cho đến khi hàng hóa được người vận chuyển giao cho người nhận.
1.2.2.4. Giới hạn trách nhiệm (Limit of liability)
Hoạt động vận chuyển hàng hóa là hoạt động mang tính rủi ro cao, vì vậy pháp luật về
vận chuyển hàng hóa nói chung đều đặt ra những quy định giới hạn trách nhiệm của người
vận chuyển như một biện pháp nhằm hạn chế và chia sẻ rủi ro đối với những người kinh
doanh loại hình dịch vụ này. Hiện nay mức giới hạn được áp dụng khá phổ biến là
666,67SDR cho mỗi kiện hoặc đơn vị hàng hóa hoặc 2SDR cho mỗi kilogram hàng hóa bị
mất hoặc bị hư hỏng theo quy định của Bản quy tắc của UNCTAD/ICC về chứng từ
VTĐPT. Đối với vận chuyển chậm, mức giới hạn trách nhiệm không vượt quá tổng tiền
cước vận chuyển.
1.2.2.5. Khiếu nại và kiện tụng
Mọi khiếu nại đối với mất mát, hư hỏng hoặc chậm chễ đối với hàng hóa chỉ do tổ chức
kinh doanh VTĐPT chịu trách nhiệm giải quyết. Pháp luật khi đề cập tới việc khiếu nại và
kiện tụng trong VTĐPT thường quan tâm giải quyết những nội dung sau:
- Thông báo về tổn thất, mất mát, chậm giao hàng: Đây là một nghĩa vụ của chủ hàng khi
xác định có mất mát, hư hỏng đối với hàng hóa hoặc chậm giao hàng xảy ra. Việc thông báo
này xác định rõ trách nhiệm của người kinh doanh VTĐPT đối với hàng hóa trong quá trình
vận chuyển, đồng thời cũng xác định người chủ hàng bảo lưu quyền khiếu nại hoặc khởi kiện
sau này đối với người kinh doanh VTĐPT.
- Khiếu nại: Việc khiếu nại thường được quy định là một thủ tục bắt buộc phải thực hiện
trước khi tiến hành khởi kiện. Thời hạn khiếu nại được quy định nhằm giới hạn về mặt thời
gian đối với việc thực thi quyền này.
- Khởi kiện: Việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức nào có thể được các bên ghi

2.2 . Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của ngƣời vận chuyển trong
hợp đồng vận tải đa phƣơng thức
2.2.1 . Thực trạng xây dựng pháp luật về trách nhiệm của người vận chuyển trong
hợp đồng vận tải đa phương thức
Có thể nhận xét rằng sự phát triển của pháp luật về VTĐPT tương đối chậm chạp và hoàn
toàn không tương xứng với tiềm năng vận chuyển hàng hóa bằng VTĐPT ở nước ta. Điều
này thể hiện một cách rất rõ ràng trong thực tế vì VTĐPT xuất hiện ở Việt Nam khá lâu
nhưng cho tới trước năm 2003 (thời điểm ban hành Nghị định 125/NĐ-CP) hoàn toàn không
có quy chế pháp lý riêng điều chỉnh đối với hoạt động này.
Nguyên nhân của việc chậm cho ra đời một văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh về
VTĐPT không hoàn toàn do hoạt động vận chuyển đặc biệt này mang tính nhỏ lẻ mà do chưa
có sự quan tâm đúng mức của các cơ quan nhà nước về lĩnh vực này.
2.2.2 . Thực trạng về tính hệ thống trong pháp luật về vận tải đa phương thức
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa nói chung và hợp đồng VTĐPT nói riêng đều là một bộ
phận của hợp đồng vận chuyển, vì vậy ngoài những quy định của luật chuyên ngành, các loại
hợp đồng này còn chịu sự điều chỉnh chung của các quy định pháp luật về hợp đồng vận
chuyển. Hiện nay, VTĐPT ở Việt Nam được điều chỉnh bằng cả những quy định chung của
Bộ luật dân sự, Luật thương mại và các luật điều chỉnh hoạt động vận tải chuyên biệt như
BLHH, Luật hàng không dân dụng,
Tuy nhiên, các văn bản pháp luật với vai trò luật chung như Bộ luật dân sự 2005, Luật
thương mại 2005 lại chưa thể là cơ sở cho hợp đồng VTĐPT nói chung và việc xác định trách
nhiệm của người kinh doanh VTĐPT nói riêng. Bên cạnh đó các văn bản pháp luật về vận tải
đơn thức chỉ duy nhất có BLHH quy định về phương thức vận tải hàng hóa mới này, chế độ
trách nhiệm được quy định trong pháp luật về vận tải đơn thức còn thiếu và không thống
nhất. Văn bản trực tiếp điều chỉnh hoạt động VTĐPT là Nghị định 125/2003/NĐ-CP là văn
bản dưới luật ra đời trước một số luật chuyên ngành, nên vẫn còn một số điểm hạn chế và
bất cập cần phải được sửa đổi để thống nhất với các luật chuyên ngành.
2.2.3 . Các quy định pháp luật về trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp
đồng vận tải đa phương thức theo pháp luật Việt Nam
2.2.3.1. Trách nhiệm của theo Nghị định số 125/NĐ-CP về vận tải đa phương thức quốc

3. Đóng gói, ghi ký hiệu, mã hiệu hoặc đánh số hàng hóa không đầy đủ hoặc khiếm
khuyết;
4. Giao nhận, xếp dỡ, chất xếp hàng hóa dưới hầm tàu do người gửi hàng, người nhận
hàng, người được ủy quyền hoặc người đại lý thực hiện;
5. Ẩn tỳ hoặc tính chất tự nhiên vốn có của hàng hóa;
6. Đình công, bế xưởng, bị ngăn chặn sử dụng một bộ phận hoặc toàn bộ nhân công.
7. Trường hợp hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển, hoặc đường thủy nội địa, khi
mất mát, hư hỏng hoặc chậm trễ xảy ra trong quá trình vận chuyển do:
a) Hành vi, sự chểnh mảng hoặc lỗi của thuyền trưởng, thuyền viên, hoa tiêu hoặc người làm
công cho người vận chuyển trong điều hành hoặc quản trị tàu;
b) Cháy, trừ khi gây ra bởi hành vi cố ý thực hiện hoặc thông đồng thực hiện của người
vận chuyển. Trường hợp mất mát, hư hỏng hàng hóa xảy ra trong quá trình vận chuyển nói tại
Khoản này do tàu không có đủ khả năng đi biển thì người kinh doanh VTĐPT vẫn không
phải chịu trách nhiệm nếu chứng minh được rằng khi bắt đầu hành trình tàu có đủ khả năng đi
biển. (Điều 20)
- Giới hạn trách nhiệm
Theo quy định tại Điều 22 Nghị định 125/2003/NĐ-CP, người kinh doanh VTĐPT chỉ
chịu trách nhiệm trong bất cứ trường hợp nào về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa với mức
tối đa tương đương 666,67 SDR cho một kiện hoặc cho một đơn vị hoặc 2,00 SDR cho một
ki-lô-gam trọng lượng cả bì của hàng hóa bị mất mát, hư hỏng, tùy theo cách tính nào cao
hơn, trừ khi tính chất và giá trị của hàng hóa đã được người gửi hàng kê khai trước khi
hàng hóa được người kinh doanh VTĐPT tiếp nhận để vận chuyển và đã được ghi trong
chứng từ VTĐPT.
Nếu trong hợp đồng VTĐPT không bao gồm việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển
hoặc đường thủy nội địa, thì giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh VTĐPT được quy
định ở mức cao hơn bởi số tiền không vượt quá 8,33 SDR cho một kilogram trọng lượng cả
bì của hàng hóa bị mất mát hoặc hư hỏng.
Đối với trường hợp vận chuyển chậm, nếu người kinh doanh VTĐPT phải chịu trách
nhiệm về tổn thất do việc giao trả hàng chậm, hoặc tổn thất tiếp theo do giao trả hàng chậm
mà không phải là mất mát hoặc hư hỏng đối với chính hàng hóa đó, thì trách nhiệm của người

BLHH đề cập.

Chương 3
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƢỜI VẬN CHUYỂN TRONG HỢP ĐỒNG VẬN TẢI
ĐA PHƢƠNG THỨC
3.1 . Yêu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của
ngƣời vận chuyển trong hợp đồng vận tải đa phƣơng thức
Trong lĩnh vực giao thông vận tải nói riêng và trong nền kinh tế của đất nước nói chung,
VTĐPT đang ngày càng được coi trọng và gắn với nó là sự cần thiết phải ban hành những
văn bản pháp luật phù hợp với luật pháp quốc tế và thực tiễn nhằm tạo môi trường pháp lý
thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động này.
Đối với Nghị định 125/2003/NĐ-CP, văn bản đang có hiệu lực pháp lý điều chỉnh trực
tiếp VTĐPT nói chung và vấn đề trách nhiệm của người kinh doanh VTĐPT nói riêng, qua
nghiên cứu cũng đã thể hiện nhiều bất cập khi áp dụng trong thực tế.
Thứ nhất, về vấn đề hình thức văn bản. Nghị định 125/2003/NĐ-CP là văn bản dưới luật
do Chính phủ ban hành, do vậy không thể đảm bảo tính hiệu lực cao trong việc điều chỉnh
hoạt động VTĐPT, đặc biệt khi các lĩnh vực vận chuyển đơn thức đều đã có luật áp dụng.
Thứ hai, về mặt lập pháp có thể thấy Nghị định 125/2003/NĐ-CP thể hiện một sự phụ
thuộc rất lớn vào các quy định trong Bản quy tắc của UNCTAD/ICC. Đây là sự hạn chế rất
lớn của Việt Nam trong việc ban hành pháp luật bởi vì các hiệp định quốc tế và Bản quy tắc
của UNCTAD/ICC mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những nguyên tắc chung để điều chỉnh các
vấn đề mang tính quốc tế mà không phải là văn bản pháp luật điều chỉnh cụ thể. Ngoài ra Bản
quy tắc của UNCTAD/ICC chỉ có tính chất là văn bản mang tính gợi ý mà không phải văn
bản pháp lý có hiệu lực bắt buộc, vì vậy, nó chỉ có giá trị khi các bên thỏa thuận trong hợp
đồng. Chính vì thế trong việc xây dựng văn bản pháp luật chúng ta có thể tham khảo một số
nội dung mang tính nguyên tắc nhưng không thể đem toàn bộ nội dung của văn bản này để
tạo thành các quy định pháp luật điều chỉnh đối với VTĐPT ở Việt Nam.
Thứ ba, Nghị định 125/2003/NĐ-CP hiện nay mới đề cập đến VTĐPT quốc tế và hầu như
chưa có quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh đối với VTĐPT nội địa.

hết sức khác nhau trong các văn bản pháp luật chuyên ngành. Do vậy, cần xem xét và thống
nhất các quy định về trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm trong các văn bản pháp luật vận tải
trên cơ sở tham khảo các điều ước quốc tế liên quan.
3.2.2 . Những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về trách
nhiệm của người vận chuyển
3.2.2.1 . Cần sớm ban hành các quy định pháp luật về vận tải đa phương thức
nội địa
VTĐPT nội địa là một bộ phận của VTĐPT và cần phải có sự điều chỉnh thống nhất bằng
pháp luật. Nghị định 125/2003/NĐ-CP mới chỉ điều chỉnh về VTĐPT quốc tế mà không tham
gia điều chỉnh đối với VTĐPT nội địa. theo tác giả cần sớm xây dựng Luật VTĐPT và xem xét
ban hành theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với hoạt động VTĐPT nói chung, bao
gồm VTĐPT quốc tế và nội địa.
3.2.2.2 . Thực hiện thống nhất chế độ trách nhiệm đối với VTĐPT
Để có thể khuyến khích VTĐPT phát triển ngày một mạnh mẽ, việc quy định một cách
thống nhất chế độ trách nhiệm của người kinh doanh VTĐPT là hết sức cần thiết nhằm tạo cơ
sở ban đầu cho người kinh doanh VTĐPT có thể xác định trách nhiệm của mình trong trường
hợp có thiệt hại xảy ra đối với hàng hóa trong quá trình vận chuyển, đồng thời khẳng định ưu
thế của hình thức vận chuyển này so với các hình thức vận chuyển hàng hóa khác để người
gửi hàng lựa chọn.
Khi xây dựng Luật VTĐPT nên chọn chế độ trách nhiệm thống nhất như Nghị định
125/2003/NĐ-CP bởi trước hết chế độ trách nhiệm này khắc phục được những vấn đề hiện
còn đang tồn tại trong pháp luật chuyên ngành về vấn đề trách nhiệm của người vận chuyển.
Thêm vào đó chế độ trách nhiệm thống nhất đồng thời cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các
bên trong quan hệ hợp đồng có thể xác định được vấn đề bồi thường thiệt hại trong trường
hợp xảy ra tổn thất về hàng hoá hoặc giao hàng chậm ngay từ khi xác lập quan hệ hợp đồng
mà không phụ thuộc vào quá trình thực hiện hợp đồng trên thực tế nhờ vậy các bên có thể
hoàn toàn chủ động trong việc thực hiện hợp đồng của mình.
3.2.2.3 . Cần sửa đổi một số quy định về trách nhiệm của người kinh doanh vận
tải đa phương thức theo Nghị định 125/2003/NĐ-CP
Về thời hạn trách nhiệm: định nghĩa về thời điểm tiếp nhận hàng hóa còn có điểm bất

thức giải quyết tranh chấp gồm thương lượng, hóa giải, trọng tài và tòa án.
Thứ hai, về thời hạn khiếu nại. Nên quy định thời hạn này như sau: "Thời hạn khiếu nại
là 90 ngày kể từ ngày hàng hóa được giao hoặc phải được giao" (ngày hàng hóa phải được
giao được hiểu là ngày hàng hóa phải được giao theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc ngày
kết thúc khoảng thời gian hợp lý để người kinh doanh VTĐPT có thể giao trả hàng nếu không
có thỏa thuận về thời hạn giao hàng trong hợp đồng).
Thứ ba, về thời hiệu khởi kiện. Cần phải quy định về thời hiệu khởi kiện theo hướng mở
rộng thời hiệu khởi kiện ở mức tối thiểu là 01 năm để bảo đảm lợi ích của các bên trong quan
hệ hợp đồng.
3.2.2.4 . Bổ sung các quy định về miễn trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm trong
các luật chuyên ngành về vận tải
Thực hiện đúng nguyên tắc người kinh doanh VTĐPT chịu trách nhiệm theo Luật vận tải
đa phương thức, người vận chuyển thực tế chịu trách nhiệm theo những quy định riêng của
pháp luật về phương thức vận tải đó, cần phải nhanh chóng sửa đổi, bổ sung các quy định về
chế độ trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm trong các văn bản pháp luật chuyên ngành nhằm tạo
cơ sở pháp lý khi xem xét trách nhiệm của người vận chuyển nói chung và người vận chuyển
thực tế trong VTĐPT nói riêng.

KẾT LUẬN
Với việc nghiên cứu đề tài: "Trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng vận tải
đa phương thức" tác giả đã góp phần làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm
của người vận chuyển, đặc biệt là trách nhiệm của người kinh doanh VTĐPT. Đây cũng là
công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về vấn đề này trong
pháp luật Việt Nam. Qua quá trình nghiên cứu, tác giả đã rút ra một số kết luận cơ bản sau:
1. Cùng với chủ trương phát triển VTĐPT để phát huy những mặt tích cực của hình thức
vận tải tiên tiến này, việc sửa đổi pháp luật về VTĐPT nói chung và những quy định về trách
nhiệm của người vận chuyển nói riêng hiện nay của Việt Nam là một yêu cầu hoàn toàn
khách quan đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập và công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
2. Từ những vấn đề lý luận về trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng

2020, Hà Nội.
3. Chính phủ (2007), Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 05/9 quy định chi tiết về điều
kiện kinh doanh dịch vụ logistic và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh
doanh dịch vụ logistic, Hà Nội
4. Quốc hội (1990), Bộ luật hàng hải, Hà Nội.
5. Quốc hội (2001), Luật giao thông đường bộ, Hà Nội.
6. Quốc hội (2004), Luật giao thông đường thuỷ nội địa, Hà Nội.
7. Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự, Hà Nội.
8. Quốc hội (2005), Bộ luật hàng hải, Hà Nội.
9. Quốc hội (2005), Luật đường sắt, Hà Nội.
10. Quốc hội (2005), Luật thương mại, Hà Nội.
11. Quốc hội (2006), Luật hàng không dân dụng, Hà Nội.
CÁC VĂN BẢN QUỐC TẾ
12. Bản quy tắc của UNCITAD/ICC về chứng từ vận tải đa phương thức quốc tế, (1992).
13. Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về vận tải đa phương thức quốc tế, (1980)
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC
14. Bộ Giao thông vận tải (2007), Quyết định số 3336/2007/QĐ-BGTVT ngày 30/10 của Bộ trưởng Bộ
Giao thông vận tải về ban hành Chương trình hành động của Bộ Giao thông vận tải thực hiện
Chương trình hành động của Chính phủ sau khi ra nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),
Hà Nội.
15. Hoàng Văn Châu (2003), Vận tải - Giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu, Nhà xuất bản Khoa học và
kỹ thuật, Thành phố Hồ Chí Minh.
16. Dự thảo lần thứ 9 (năm 2008) Luật giao thông đường bộ Việt Nam.
17. Dương Hữu Hạnh (1999), Nghiệp vụ vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương, Nxb Tài chính, Hà Nội.
18. Dương Hữu Hạnh (2004), Vận tải - Giao nhận quốc tế và bảo hiểm hàng hải, Nxb Thống kê.
19. Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Nxb Đại học Quốc
gia, Hà Nội.
20. Phụ lục 13A Hiệp định giữa các Chính phủ Vương quốc Cam-pu-chia, Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Liên bang Mi-an-ma, Vương
quốc Thái Lan và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Tạo thuận lợi cho vận



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status