LUẬN VĂN:
Thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội
ở nước ta hiện nay
I - mở đầu
Quan hệ sở hữu là một nội dung quan trọng nhất của quan hệ sản xuất. Đó là
quan hệ kinh tế giữa người với người trong sự chiếm hữu hay nói cách khác đó là hình
thức xã hội của sự chiếm hữu của cải. Do đó, cũng như quan hệ sản xuất, sự vận động
của quan hệ sở hữu về hình thức, mức độ và phạm vi không phải là ý muốn chủ quan
của con người mà là khách quan do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quy định.
Đi theo sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội trong lịch sử, từ phương thức
sản xuất cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và chủ
nghĩa cộng sản ta thấy tương ứng với mỗi lực lượng sản xuất thì cũng có các quan hệ sở
hữu khác nhau, từ đó mà cũng tồn tại các quan hệ sản xuất khác nhau. Tức là sự phát
xuất. Chỉ có trên cơ sở giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu mới có căn cứ để giải quyết
các vấn đề về động lực, vấn đề lợi ích kinh tế, vấn đề chính trị, vấn đề pháp quyền và
các vấn đề xã hội.
Chúng ta cùng xem xét trong lịch sử, giai đoạn từ năm 1975 - 1986, giai đoạn
chúng ta mới thực hiện xong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, cả nước
cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong giai đoạn này, do chúng ta nôn nóng, chủ quan duy
ý chí, muốn đi nhanh lên chủ nghĩa xã hội mà chúng ta xoá bỏ hết các hình thức sở hữu
Nhà nước và sở hữu tập thể. Do không tính đến điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta ở
giai đoạn đó nên chúng ta đã bị sai lầm. Do chế độ sở hữu sai lầm như vậy sẽ không
giải quyết thoả đáng các vấn đề về động lực, lợi ích kinh tế từ đó dẫn đến các khó
khăn về kinh tế cho đời sống dân cư, nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển dẫn tới
hàng loạt các khó khăn về chính trị và các vấn đề xã hội khác. Qua đó mà ta thấy được
tầm quan trọng của việc giải quyết đúng đắn các vấn đề về sở hữu trong bất cứ xã hội
nào. Nhận thức được điều này, đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, trên quan điểm
thẳng thắn, Đảng ta đã thừa nhận sai lầm trên; chúng ta cho phép nền kinh tế tồn tại đa
hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ. Những thành tựu to lớn trong những năm đổi
mới vừa qua đã chứng tỏ tính đúng đắn của chế độ sở hữu ở nước ta hiện nay.
Chế độ sở hữu bao gồm 3 nội dung:
- Thứ nhất là nội dung vật chất của sở hữu hay còn gọi là đối tượng của sở hữu,
nó bao gồm sở hữu tư liệu tiêu dùng, sở hữu tư liệu sản xuất, sở hữu vốn, sở hữu chất
xám, sở hữu bản quyền, sở hữu thị trường
- Thứ hai là nội dung kinh tế của sở hữu.
- Thứ ba là nội dung pháp lý của sở hữu.
Ba mặt trên của chế độ sở hữu thống nhất với nhau và chỉ có thể đảm bảo tính
thống nhất của ba mặt đó thì chế độ sở hữu mới phát huy được hiệu quả và không trở
thành hình thức.
Trong chế độ sở hữu, cần phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu
Như phần trên chúng ta đã làm rõ khái niệm sở hữu, sở hữu về tư liệu sản xuất
là hình thái xã hội của sự chiếm hữu về tư liệu sản xuất, là một nội dung chủ yếu trong
quan hệ sản xuất xã hội và nền sản xuất xã hội. Hình thức, mức độ, phạm vi và tính đa
dạng của sở hữu không phải do ý muốn chủ quan của con người quyết định mà nó là
một quá trình lịch sử tự nhiên. Điều đó có nghĩa sự xuất hiện, tồn tại, phát triển và
chuyển hoá các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất là do tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất quyết định.
a. Về mặt lý luận, theo Mác, sự biến đổi của các hình thức sở hữu được quyết
định bởi quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất. Ông đã dùng quy luật này để lý giải sự ra đời và phát triển của 5
phương thức sản xuất xã hội trong lịch sử và coi phương thức sản xuất xã hội là nhân tố
có ý nghĩa quyết định.
Với tư cách là những người sáng lập ra trường phái kinh tế chính trị Mácxít, Mác
và Ănghen không phải chỉ một lần bàn về vấn đề sở hữu. Đặc biệt trong tác phẩm
"Tuyên ngôn Cộng sản", ông đã nhấn mạnh: "Chủ nghĩa cộng sản không xoá bỏ của ai
quyền chiếm hữu các của cải mà chỉ xoá bỏ việc dùng những của cải ấy để nô dịch lao
động của người khác". Để nhấn mạnh quan điểm về sự biến đổi của các hình thức sở
hữu như là quá trình lịch sử tự nhiên, Ăng hen khuyên rằng: "Không thể xoá bỏ ngay tư
hữu và thiết lập ngay chế độ công hữu về tư liệu sản xuất" bởi vì sự tồn tại của các hình
thức sở hữu là khách quan, do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định.
b. Về mặt thực tiễn, ta đi sâu phân tích các chế độ sở hữu đã từng tồn tại trong
lịch sử tương ứng với các phương thức sản xuất nhất định.
- Trong phương thức sản xuất Cộng sản nguyên thuỷ, chế đọ sở hữu là sở hữu
tập thể của các thị tộc và bộ lạc về tư liệu sản xuất cũng như của cải kiếm được.
ở chế độ cộng sản nguyên thuỷ, hình thức sản xuất chủ yếu là săn bắn, hái lượm,
công cụ sản xuất rất thô sơ, chủ yếu là cung tên, rìu đá. Tổ chức xã hội dưới hình thái
các thị tộc, bộ lạc. Do đặc điểm tổ chức xã hội và trình độ phát triển của sản xuất rất
xuất, người nô lệ không chịu nổi những áp bức bóc lột hà khắc đó nữa, họ đứng lên lật
đổ giai cấp chủ nô, đưa xã hội lên một phương thức sản xuất mới là phương thức sản
xuất phong kiến tiến bộ hơn.
- Trong phương thức sản xuất phong kiến, chế độ sở hữu là sở hữu ruộng đất
thuộc về địa chủ. Người nông dân muốn thuê ruộng để sản xuất thì phải nộp địa tô cho
địa chủ. Chế độ sở hữu này tiến bộ hơn chế độ sở hữu trong phương thức sản xuất
chiếm hữu nô lệ. Người nông dân được tự do về thân thể, họ thuê đất để tiến hàn sản
xuất kinh doanh. Sau khi nộp tô cho địa chủ thì phần còn lại họ được hưởng. Tuy nhiên,
do năng suất lao động trong thời kỳ này vẫn còn thấp, do kỹ thuật sản xuất thủ công, lạc
hậu nên họ cũng chỉ đủ sống do sưu cao thuế nặng.
Khi lực lượng sản xuất phát triển, các kỹ thuật sản xuất mới, hiện đại ra đời, sản
xuất không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nữa mà mở sang lĩnh vực
công nghiệp. Trong xã hội xuất hiện một giai cấp mới đó là giai cấp tư sản và giai cấp
này càng lớn mạnh. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì chế
độ sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ không còn phù hợp nữa, nó kìm hãm sản xuất
lớn tất yếu nó sẽ bị thay thế bởi chế độ sở hữu mới tiến bộ hơn và phù hợp hơn đó là
chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất đưa xã hội lên phương thức sản
xuất mới tiến bộ hơn là phương thức tư bản chủ nghĩa.
- Trong phương thức sản xuất tư bản ch, tồn tại chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
Các nhà tư bản sở hữu về vốn, tư liệu sản xuất, kỹ thuật đứng ralập các xí nghiệp tư
bản, thuê nhân công và trả lương cho họ (sức lao động trở thành hàng hoá), sản phẩm
làm ra thuộc về nhà tư bản.
Do chế độ tư hữu trong thời kỳ này phù hợp, nó phát huy được tối đa sức sản
xuất trong xã hội vì mục tiêu của sản xuất là lợi nhuận. Năng suất lao động dưới chủ
nghĩa tư bản cao gấp nhiều lần trong các phương thức sản xuất trước đó, khoa học kỹ
thuật phát triển mạnh mẽ.
Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản, lực lượng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển trình độ
- Sở hữu hỗn hợp Nhà nước - tư bản
- Sở hữu của người nước ngoài.
Như vậy, qua phân tích trên đây cả về mặt lý luận và thực tiễn, ta thấy sự hình
thành, phát triển và biến đổi của sở hữu là một quá trình lịch sử tự nhiên, do sự phát
triển của lực lượng sản xuất quyết định. Do lực lượng sản xuất phát triển dần từ thấp
đến cao nên quan hệ sở hữu cũng dẫn phát triển từ thấp đến cao.
3. Tính tất yếu tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay.
a. Như đã phân tích ở trên, trong thời kỳ quá độ ở nước ta, do trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất, do những yếu tố, những đặc điểm kinh tế trong thời kỳ quá độ
mà trong nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu
sản xuất. Mặt khác, tương ứng với mỗi hình thức sở hữu là một hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh nhất định (một thành phần kinh doanh nhất định). Do đó, trong thời kỳ
quá độ ở nước ta hiện nay, tất yếu tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần. Điều này được
thể hiện:
* Xét về mặt lịch sử: sau khi cách mạng dân tộc dân chủ thành công (1975), cả
nước tiến lên xã hội chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải tiếp thu một nền kinh tế có các
thành phần khác nhau, trong đó thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ và thành phần kinh tế
tư bản tư nhân. Trong mỗi thành phần kinh tế này lại có các loại hình, các quy mô khác
nhau và do đó cũng có vai trò khác nhau trong nền kinh tế. Trong kinh tế cá thể có kinh
tế sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân và thợ thủ công, có kinh tế tự cung tự cấp. Trong
thành phần kinh tế tư bản tư nhân có kinh tế tư sản mại bản và tư bản nhỏ và vừa (còn
gọi là tư sản dân tộc). Do yêu cầu của sự phát triển nền kinh tế và từng bước củng cố,
hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước, chúng ta đã
tiến hành quốc hữu hoá các xí nghiệp của tư sản mại bản, biến nó thành sở hữu Nhà
nước. Đồng thời, trong thời kỳ này, Nhà nước cũng tăng cường đầu tư xây dựng các xí
nghiệp mới. Từ đó, thành phần kinh tế quốc doanh ra đời và ngày càng mở rộng. Đồng
thời với quá trình đó, Nhà nước cũng đã từng bước cải tạo các thành phần kinh tế khác.
nhân lực đó và hàng năm lượng lao động bổ sung thêm vào lực lượng này do dân số
tăng nhanh. Hiện tượng này gây ra sức ép lớn đối với nền kinh tế, đối với xã hội. Do đó,
Nhà nước đã và đang tạo mọi điều kiện để những người trong độ tuổi lao động có cơ
hội để làm việc bằng cách cho phép các thành phần kinh tế phát triển trong khuôn khổ
của pháp luật và theo định hướng của Nhà nước. Như vậy, việc phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần còn góp phần giải quyết làm việc, động viên nhân lực vào công cuộc
phát triển kinh tế đất nước.
b. Tính tất yếu tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ còn
được thể hiện ở những tác dụng, tính tích cực của nó đối với sự phát triển của nền kinh
tế.
- Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần cũng có nghĩa là tồn tại nhiều hình thức
của quan hệ sản xuất, do đó nó sẽ phù hợp với các trình độ phát triển khác nhau của lực
lượng sản xuất, từ đó mà cóthể tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế trong mỗi
thành phần kinh tế và làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế.
- Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần góp phần thúc đẩy sự phát triển của
kinh tế hàng hoá. Bởi vì chỉ có phát triển kinh tế nhiều thành phần mới làm tăng sự tách
biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể - đẩy mạnh trao đổi và phát triển thị trường. Phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần chính là đảm bảo quyền tự do kinh doanh,
quyền dân chủ, công bằng về mặt kinh tế cho mọi người. Mọi công dân đều có quyền
hoạt động kinh tế trong khuôn khổ của pháp luật để làm giàu cho mình và làm giàu cho
xã hội.
- Nền kinh tế nhiều thành phần không những tạo điều kiện sử dụng sức mạnh
tổng hợp của mọi thành phần kinh tế trong nước mà còn tạo ra môi trường thông
thoáng, thích hợp cho việc thu hút vốn, công nghệ tiên tiến của thế giới. Bởi vì trong
các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ có cả thành phần kinh tế tư bản Nhà nước
và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Những thành phần kinh tế này đóng
vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn và công nghệ tiên tiến của thế giới.
+ Vai trò là công cụ kinh tế, là thực lực kinh tế để Nhà nước thực hiện điều tiết
kinh tế vĩ mô.
c
2
- Thành phần kinh tế tập thể: tương ứng với hình thức sở hữu tập thể.
- Thành phần kinh tế này bao gồm các hợp tác xã trong các lĩnh vực: nông
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được hình thành dựa trên nguyên tắc tự nguyện và dần từ
thấp đến cao. Thành phần kinh tế này dựa trên sở hữu tập thể vốn, tư liệu sản xuất, phân
phối vừa theo lao động, vừa theo tài sản.
- Vai trò của kinh tế tập thể.
+ Cùng với kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể hợp thành nền tảng của nền kinh tế,
đưa nền kinh tế đi vào định hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Thành phần kinh tế tập thể tạo ra các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ (đặc biệt
là nông sản, thủ công mỹ nghệ ) thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
+ Giải quyết làm việc cho nhân dân, nso đặc biệt có ý nghĩa trong việc giải quyết
nạn thất nghiệp trá hình ở nông thôn Việt Nam.
c
3
- Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ:
- Thành phần kinh tế này bao gồm kinh tế của những người sản xuất nhỏ: tiểu
nông, tiểu thương dựa trên chế độ tư hữu nhỏ và sử dụng lao động của chính bản thân
và gia đình.
- Vai trò của thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ:
+ Do kinh tế cá thể tiểu chủ rất đa dạng nó thoả mãn được những nhu cầu rất
đa dạng của thị trường.
+ Do quy mô sản xuất nhỏ phản ứng rất nhanh nhạy, linh hoạt với thị trường.
+ Kinh tế cá thể, tiểu thủ sử dụng được vốn lao động nhàn rỗi trong gia đình, tạo
ra lượng hàng hoá và dịch vụ đáng kể cho xã hội.
c
- Vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
+ Huy động được vốn, kỹ thuật, năng lực quản lý của các nhà tư bản nước ngoài.
+ Hạn chế bớt nhu cầu nhập khẩu, tạo ra h xuất khẩu.
Như vậy, qua những phân tích trên đây, chúng ta nhận thấy rằng trong thời kỳ
quá độ ở nước ta tất yếu tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần. Về mặt nhận thức chúng
ta không thể phủ nhận thành phần kinh tế này hay thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên,
chúng ta cũng phải nhận thức được rằng các thành phần kinh tế này vừa có liên hệ
thống nhất với nhau, vừa mâu thuẫn với nhau.
Thống nhất với nhau: cùng tồn tại trong một nền kinh tế, trong hệ thống phân
công lao động, trong đó thành phầnkt Nhà nước làm chủ đạo, dẫn dắt nền kinh tế theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mâu thuẫn với nhau: mỗi thành phần kinh tế là một chủ thể tham gia thị trường
với lợi ích khác nhau các thành phần kinh tế cạnh tranh với nhau.
Qua đó chúng tă có những chính sách thích hợp để huy động các thế mạnh
của các thành phần kinh tế, hạn chế những mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế bằng
cách tạo ra môi trường hoạt động bình đẳng, nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật cho chủ nghĩa xã hội.
III - Kết luận
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một chế độ sở hữu nhất định. Nó được xác lập
trên cơ sở một lực lượng sản xuất nhất định. Mỗi chế độ sở hữu phản ánh một trình độ
phát triển nhất định của lực lượng sản xuất và do lực lượng sản xuất quyết định. Ngay
trong một chế độ sở hữu cũng có nhiều hình thức sở hữu khác nhau, phản ánh những
trình độ phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất trong các hình thức sở hữu đó. Một
chế độ sở hữu thích hợp sẽ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất,