LUẬN VĂN:
Đổi mới tài chính trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN và hội nhập
kinh tế quốc tế ở Việt Nam Lời mở đầu
“Tăng trưởng kinh tế nhanh va bền vững, ổn định và cải thiện nền đời sống
nhân dân”. Đó là những mục tiêu trong những mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm
2001_2005 đã được Đảng cộng sản thông qua tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9.
Mục tiêu tổng quát trên đã được cụ thể hóa thành định hướng phát triển và thành các
nhiệm vụ chủ yếu, trong đó có một nhiệm vụ không kém phần quan trọng đó là “Tiếp tục
đổi mới và lạnh mạnh hóa hệ thống tài chính, tiền tệ tăng tiềm lực và khả năng tài
chính quốc gia thực hành triệt để tiết kiệm , tăng tỷ lệ chi Ngân sách dành cho đầu tư
phát triển, duy trì ổn định các cân đối vĩ mô, phát triển thị trường vốn đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế xã hội…”.
Do tính quan trọng của tài chính trong nền kinh tế là điều không thể phủ nhận.
Trong nền kinh tế phát triển, hội nhập quốc tế ngày càng phát triển, người làm kinh tế nếu
có một cái nhìn tổng quan về xu hướng phát triển chung của toàn nền kinh tế nhất thiết
những tính chất chung của nền kinh tế thị trường. Một là các chru thể kinh tế có tính độc
lập, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh tế. Hai là giá cả do thị trường quyết định, hệ
thống thị trường được phát triển đầy đủ và nó có tác dụng làm cơ sở cho việc phân bổ các
nguồn lực kinh tế vào trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Ba là nền kinh tế vận
động theo những quy luật vốn có của kinh tế thị trường như các quy luật đó hình thành cơ
chế tự điều tiết của nền kinh tế. Bốn là nếu là nền kinh tế thị trường hệin đại thì còn có sự
điều tiét vĩ mô của Nhà nước thông qua pháp luật kinh tế, kế hoạch hoá. Các chính sách
kinh tế. Mặt khác kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam dựa trên cơ sở và
được dẫn dắt, chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó, kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghãi có những đặc trưng sau: Nềnks thị trường gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò
chru đạo. Trong nền kinh tế nước ta tồn tại 3 loại hình sở hữu cơ bản là: Sở hữu toàn dân;
sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân (gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư nhân tư
bản). Từ ba loại hình sở hữu cơ bản đó hình thành nhiều thành phần kinh tế, nhiều tổ chức
sản xuất kinh doanh các thành phần kinh tế đó là kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế
cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá
thể, tiểu chủ, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ
đạo. Các thành phần kinh tế nói trên tồn tại một cách khách quan và là những bộ phần cần
thiết nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, phát triển nền kinh tế
thị trường nhiều thành phần là tất yếu đối với nước ta. Chỉ có như vậy chúng ta mới khai
thác được mọi nguồn lực kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế, phát huy được tiềm năng của
các thành phần kinh tế vào phát triển chung nền kinh tế của đất nước nhằm thoả mãn nhu
cầu ngày càng tăng của nhân dân. Do đó không chỉ củng cố và phát triển các thành phần
kinh tế dựa trên chế độcông hữu là thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể, mà
còn phải khuyến khích các thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu phát triển để hình
thành nền kinh tế thị trường rộng lớn bao gồm các đơn vị kinh tế thuộc chế độ tự hữu, các
đơn vị kinh tế thuộc chế độ công hữu, các hình thức hợp tác liên doanh giữa trong và
ngoài nước…Các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần đều bình đẳng với nhau trước pháp
thân cơ chế thị trường, không thể làm được, đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vai trò quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là hết
sức quan trọng, nó đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu quả cao, đặc
biệtlà đảm bảo công bằng xã hội. Không ai ngoài Nhà nước có thể giảm bớt được sự
chênh lệch giữa giàu và nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng của đất nước
trong điều kiện kinh tế thị trường.
Bên cạnh những đặc trưng trên nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
cũng là nền kinh tế mở, hội nhập. Đặc điểm này phản ánh sự khác biệt giữa nềnks thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng với nền kinh tế đóng,
khép kín trước đổi mới. đồng thời phản ánh xu hướng hội nhập của nền kinh tế nước ta
trong đièu kiện toàn cầu hoá kinh tế.l Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đang diễn ra quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự phát triển của mỗi quốc
gia trong sự phục thuộc lẫn nhau. Vì vậy, mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và
thế giới là tất yếu đối với nước ta. Chỉ có như vậy mới thu hút được vốn, kỹ thuật công
nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước để khai thác tiềm năng và thế
mạnh của nước ta, thực hiện phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để xây dựng và phát
triển kinh tế thị trường hiện đại theo kiểu rút ngắn. Thực hiện mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại theo hướng đa phương hoá và đa dạng hoá các hình thức đối ngoại, gắn thị trường
trong nước với thị trường khu vực và thế giới, thực hiện những thông lệ trong quan hệ
kinh tế quốc tế, nhưng vẫn giữ được độc lập chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia,
dân tộc trong quan hệ kinh tế đối ngoại.
Với những nét đặc trưng riêng biệt nền kinh tế thị trường ở nước ta đang từng bước
phát triển vững chắc trên con đường xây dựng chủ nghãi xã hội. Đạt được những thành
tựu ban đầu trong mục tiêu của phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.
2. Phương hương và giải pháp đổi mới hoạt động tài chính ở Việt Nam
* Mở rộng phạm vi hoạt động của các công cụ tài chính.
Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế sự hoạt động của tài chính có
một vai trò vô cùng quan trọng không thể phủ nhận. Đồng thời trong hệ thống tài chính
hệ thống giám sát và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các dự án và các chương trình sử dụng
vốn vay nước ngoài, đảm bảo khả năng thu hồi vốn trả nợ nước ngoài có hiệu quả.
Phương hướng đổi mới hoạt động tài chính trên nhằm mục đích từng bước, dần
dần hoàn thiện hệ thống tài chính, xây dựng hệ thống tài chính vững mạnh, phát triển
nhanh, bền vững từ đó góp phần phát triển kinh tế đất nước.
* Một số giải pháp cơ bản cho quá trình đổi mới.
Từ thực tế thành công và chưa thành công của công cuộc đổi mới kinh tế, đổi mới
tài chính quốc gia rút ra một số giải pháp sau:
Thứ nhất: Tôn trọng và tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tài
chính, coi trọng sự phối hợp đồng bộ các chính sách các công cụ kinh tế - tài chính. Duy trì và đảm bảo nền tài chính quốc gia là một tổng thể thống nhất, giữ vững kỉ cương, kỉ
luật trong chỉ huy, trong điều hành. Phên phán và lên án mọi tư tưởng, mọi việc làm vô kỉ
luật không chấp hành nghiêm các quy định về thu, chi, về điều tiết ngân sách, về quản lý
và sử dụng ngân quỹ quốc gia. Chống tư tưởng, việc làm cục bộ, vì quyền lợi ngành, địa
phương gây tổn hại lợi ích chung đặc biệt trong việc chấp hành chế độ, chính sách và kỉ
luật hành chính. Mạnh dân phân cấp, trao quyền và phát huy tính chất tự chủ, sáng tạo của
các ngành, các địa phương trong công tác tài chính, đặc biệt trong nuôi dưỡng, khai thác
nguồn thu, đảm bảo nhiệm vụ chi. Mở rộng quyền hạn đi đôi với tăng cường trách nhiệm,
tạo dựng cơ chế, kỉ luật phối hợp hài hoà giữa các nội dung hoạt động, giữa các mảng
công tác tài chính, tạo nên một sức mạnh tổng thể, hỗ trợ, kích thích và làm tiền đồ cho
nhau cùng đạt hiệu quả, kinh nghiệm cho thấy, mọi sự rời rạc, chia cắt… trong giải pháp,
trong chính sách tài chính trong điều hành hoạt động tài chính đều không đem lại kết quả.
Đấy là chưa nói đến những hậu quả khó lường. Xử lý tốt hài hoà mối quan hệ giữa thu và
chi NSNN giữa động viên thu nhập, huy động nguồn lực và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh
phát triển nuôi dưỡng nguồn thu, giữa bảo hộ sản xuất trong nước và yêu cầu nâng cao
sức cạnh tranh của doanh nghiệp; giữa tài chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp…
Thứ hai: Mọi giải pháp tài chính về mọi hoạt động tài chính phải hàm chứa và tính
đến các yếu tố chính trị kinh tế và xã hội, phải xuất phát từ cuộc sống và phải giải quyết
trường dịch vụ kiểm toán, nâng cao trách nhiệm và độ tin cậy đối với những thông tin tài
chính đã được kiểm toán.
Thứ 4: Thường xuyên chăm lo hoàn thiện và nâng cao năng lực bộ máy tổ chức
ngành tài chính. Cải cách mạnh thủ tục hành chính, thủ tục nghiệp vụ, tối ưu hoá các quy
trình công tác, quy trình quản lý và cấp phát vốn. Mở rộng phân cấp, phân quyền và nâng
cao trách nhiệm cho các cấp trong công tác chuyên môn, quản lý cán bộ, đặc biệt là các
hệ thống chuyên môn tổ chức theo ngành dọc. Có chiến lược dài hạn và biện pháp chăm
lo nâng cao năng lực nghiệp vụ, năng lực điều hành của độ ngũ cán bộ tài chính phù hợp
yêu cầu của cơ chế kinh tế mới. Cùng với việc tăng cường kỉ cương, kỉ luật trong công tác
tài chính, cần thực sự dân chủ, phát huy tối đa tính sáng tạo, tính tự giác, tinh thần trách
nhiệm của viên chức tài chính. Biết tin vào cán bộ, biết động viên khơi dậy tính tích cực, tính năng động của cán bộ tài chính, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trẻ, sự nghiệp tài chính
chắc chắn sẽ thành công. Đó là bài học luôn sống động.
Giải pháp: Muốn nhắc đến và giữ một vị trí quan trọng đó là phải tạo dựng chiến
lược tài chính quốc gia với mục tiêu, định hướng rõ ràng với những giải pháp tài chính
mang tính tổng thể, liên hoàn và đồng bộ chiến lược tài chính quốc gia phải phục vụ cho
chiến lược phát triển kinh tế. Phải có những chiến lược cụ thể trong chiến lược tổng thể.
Vấn đề quan tọng cho mọi thành công là nhận thức rõ tính đồng bộ, tính liên tục, độ trễ
của chính sách để có sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn giữa định hướng, giải pháp và
chính sáchtài chính dài hạn mang tính chiến lược với chính sách tác nghiệp phục vụ yêu
cầu và nhiệm vụ bức xúc trước mắt. Tuyệt đối không vì những chính sách tài chính cụ thể
trong động viên thu nhập, trong chỉ tiêu ngân sách tài chính hoặc làm chậm tiến trình đổi
mới tài chính. Phải chủ động trong vị thế mới, lựa chọn những giải pháp cụ thể cho phép
khai thác tốt nhất mọi lợi thế của đất nước.
Đó là những giải pháp cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế và hoàn thiện hệ
thống tài chính Việt Nam. Vấn đề đặt ra là cần chủ động, tỉnh táo có bước đi và cách làm
đúng cho từng mục tiêu chiến lược, sách lược, cho từng giải pháp tài chính cụ thể.
của Việt Nam còn quá lạc hậu , chỉ tương đương với cơ cấu kinh tế của Thai Lan vào năm
1970 , nghĩa là tụt hậu so với trình độ phát triển của Thai Lan ít nhất là 2 thập niên “ .
Mặc dù trong những năm qua , kinh tế Việt Nam đã có sự tăng trưởng với tốc độ phát
triển cao , song quy mô GDP của Việt Nam còn quá nhỏ bé so với hầu hết các nước
ASEAN , và do đó đương nhiên Việt Nam chưa thể thoát ra khỏi tình trạng “khát” vốn
đầu tư cho phát triển . Kinh nghiệm phát triển của các nước ASEAN trong những năm 1970 và 1980 đã cho thấy , để đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế , và
cũng là để tiếp thu có hiệu quả nguồn vốn từ bên ngoài , thì tỷ lệ vốn trong nước ( kể cả
vốn khấu hao cơ bản trong tổng vốn đầu tư cơ bản toàn xã hội) trong GDP, phải chiếm tỷ
lệ từ 25-30%( riêng đối với Singapore đã lên tới 40%) . Nhưng ở Việt Nam kết thúc năm
2000 con số này mới chỉ có 20% là rất thấp .
Hệ quả của những yếu kém trên đây đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam chưa thoát ra
khỏi tình trạng chậm phát triển . Với một cơ cấu kinh tế trong đó công nghiệp chỉ chiếm
một vị trí còn quá khiên tốn , xuất khẩu sản phẩm thô vẫn còn là chủ lực trong chiến lược
tăng trưởng nhờ xuất khẩu , tình trạng ngân sách thiếu hụt, nguy cơ tái lạm phát cao chưa
hết , sự thiếu hụt vốn đầu tư , cơ sở hạ tầng yếu kém, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế rất
thấp so với nhịp độ phát triển và yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất
nước , là những trở lực không nhỏ cho sự tăng trưởng ngoại thương , đặc biệt là tăng
trưởng xuất khẩu . Trong khi đó , ở các nước ASEAN , hầu hết đã có nền ngoại thương
khá phát triển với kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người năm 1996 là 266 USD ở
Indonesia , 885 USD ở Thái lan , 4.425 USD ở Malaysia Đặc biệt , Singapore năm
1994 đã đạt mức rất cao tới 28.645 USD . Trong khi đó ở Việt Nam tính đến hết năm
2000 mới đạt xấp xỉ 200 USD . Thực trạng này tất yếu dẫn đến sự khác biệt và bất lợi thế
về phía Việt Nam trong cạnh tranh thương mại với các nước trong khu vực ASEAN nói
riêng và thế giới nói chung .
b. Cơ chế quản lý ngoại thương và hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh.
Cơ chế quản lý ngoại thương , trình độ năng lực quản lý , chuyên môn nghiệp vụ ,
ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ , nhân viên làm công tác đối ngoại nói chung và ngoại
Mặc dù đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ cả về qui mô giá trị và tốc độ tăng trưởng qua
15 năm đổi mới nhưng cơ cấu ngoại thương của Việt Nam còn bất cân đối lớn .
Về xuất khẩu phần lớn còn là các hàng hoá dạng thô chiếm tỷ trọng tới 75-80%
trong tổng giá trị xuất khẩu ( dầu thô, may mặc, hải sản, than đá ). Cáchàng hoá có hàm
lượng kỹ thuật cao ( điện tử , máy tính , hàng công nghiệp ) hoặc hàng hoá qua chế biến còn quá ít . Trong khi đó cơ cấu nhập khẩu theo chiều hướng nhập siêu của ta còn rất lớn .
Ngoài những nguyên liệu cần thiết nhập cho nhu cầu phát triển sản xuất và xây dựng cơ
sở hạ tầng của nền kinh tế, tình trạng nhập khẩu tràn lan nhiều hàng hoá tiêu dùng kể cả
các hàng tiêu dùng cao cấp , xa xỉ , trong đó không ít là hàng nhập lậu , trốn thuế đã là
một thực trạng nhức nhối nhiều năm chưa giải quyết được.
Riêng trong quan hệ thương mại Việt Nam và ASEAN , Việt Nam đã xuất sang thị
trường các nước ASEAN khá nhiều mặt hàng nguyên liệu công nghiệp và nông sản thô
như than ,thiếc , da thuộc, sản phẩm gỗ, cao su , cà phê, hạt điều Và ngược lại Việt Nam
nhập từ thị trường các nước ASEAN ũng khá nhiều mặt hàng khác nhau trong đó chủ yếu
là các nguyên liệu thiết bị công nghiệp và hàng tiêu dùng như xăng dầu , sắt thép đã qua
sơ chế , hàng nông , lâm nghiệp , vòng bi , ôtô, thuốc nhuộm , nguyên liệu dược Tuy
nhiên , cơ cấu ngoại thương giữa Việt Nam và ASEAN còn mất cân đối lớn . Riêng hàng
nhập khẩu của Việt Nam từ ASEAN chiếm 30% giá tri nhập khẩu của Việt Nam , trong
khi đó hàng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN chiếm chưa đầy 1% giá trị
nhập khẩu của ASEAN.
d. Biểu thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam vừa quá đơn giản vừa quá phức tạp
Tính chất đơn giản thể hiện ở chỗ :
Danh mục thuế thường chỉ cớ một cột và chỉ có một tỷ lệ áp dụng chung cho cả
nhóm.
Trong biểu thuế xuất nhập khẩu hiện hành chưa thể hiện rõ đối với từng nước và
nhóm nước .
Mặt khác,các biểu thuế suất của Việt Nam còn nhiều điểm không rõ ràng và phức
tạp :
Ngành dệt May So với các nước khác , ngành dệt may của Việt Nam có ưu thế hơn về nguồn nhân
công có văn hoá , cần cù , thông minh và lương không cao . Thêm vào đó , thị trường nội
địa rộng lớn , đang phát triển nhanh cả về chiều rộng và chiều sâu . Nhu cầu trong nước
và ngoài nước đang diễn ra mạnh mẽ xu hướng đa dạng hoá và yêu cầu cao hơn , biến đổi
nhanh hơn . Tuy nhiên, ta cũng kém lợi thế hơn về công nghệ sản xuất và công nghệ quản
lý . Sự hiện diện của nhãn hàng Việt Nam trên thị trường thế giới còn ở mức thấp , điều
kiện tiếp cận nguồn vốn còn rất hạn chế.
Khai thác lợi thế tương đối về lực lượng lao động dồi dào với khả năng tiếp thu tay
nghề nhanh , những ngành hàng điện , điện tử , sẽ là những ngành thích hợp để phát
huy lợi thế sau này của Việt Nam .
b. Tăng hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng hoá
Nâng cao hiệu quả và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam . Do đó phải xét
lại quy hoạch phát triển và kế hoạch đầu tư của tất cả các ngành , địa phương và doanh
nghiệp nhà nước trên cơ sở đánh giá chính xác và phân tích sâu sắc tính cạnh tranh của
sản phẩm trong nước , kể cả hàng hoá và dịch vụ . Tiêu chuẩn ở đây là : cơ cấu sản xuất
và đầu tư phải hướng vào các sản phẩm tận dụng được lợi thế so sánh của đất nước , tạo
ra những sản phẩm có khả năng cạnh tranh , đáp ứng nhu cầu trong nước và thế giới .
c. Thực hiện các biện pháp khuyến khích đầu tư
Bổ xung và hoàn thiện hơn nữa các chính sách đầu tư nước ngoài trực tiếp như
chính sách góp vốn , chính sách công nghệ và kỹ thuật , chính sách đất đai và nhà
ở cho người nước ngoài , chính sách lao động , tiền lương , chính sách bảo hiểm
Cải tiến , tạo thuận lợi lớn cho các hoạt động đầu tư nước ngoài trong các thủ tục
hành chính như các thủ tục cấp giấy phép đầu tư , kinh doanh xuất nhập khẩu , thủ
tục cấp đất , cấp giấy phép xây dựng , thủ tục hải quan
Cần tập trung hơn nữa tới các vấn đề ưu tiên hoàn thiện cơ sở hạ tầng liên quan
đến đầu tư trực tiếp như hệ thống giao thông , điện nước , bến Cảng , thông tin liên
lạc,
thủ sự hỗ trợ kỹ thuật của ban thư ký ASEAN , APEC , ASEM , các nước và các tổ chức
quốc tế khác trong việc giúp ta đào tạo lực lượng cán bộ đáp ứng được yêu cầu của của họ
khi cần thiết .
Trước mắt cần xây dựng , phát triển các trường đại học và cao đẳng theo mạng lưới
hợp lý để hình thành một số trường đại học có chất lượng đào tạo ngang tầm với những
trường đại học có chất lượng cao trong khu vực
Thứ hai là đổi mới cơ bản công tác quản lý và tổ chức giáo dục ; xây dựng hệ thống
giáo dục nhằm tạo điều kiện cho mọi người có thể học tập suốt đời theo hướng thiết thực ,
hiện đại , gắn chặt với yêu cầu của xã hội .
Thứ ba là nhà nước giành tỷ lệ ngân sách chính đáng , kết hợp đẩy mạnh xã hội hoá ,
phát triển giáo dục và đào tạo . Huy động và sử dụng có kết quả mọi nguồn lực cho giáo
dục và đào tạo . Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phát triển giáo dục và đào tạo .
Kết luận
Hệ thống tài chính quốc gia vẫn còn là một nền tài chính non trẻ ngay cả ở trong
khu vực và trên thếgiới. Xuất phát từ một xuất phát điểm rất thấp (sau kháng chiến 1945
tình hình tài chính đầt nước ở trong tình hình nguy cấp, ngân khố đất nước gần như trống
rỗng. Đất nước chưa có một đồng tiền chung để thống nhất việc mua trao đổi hàng hóa
trong phạm vi toàn quốc, đội ngũ cán bộ còn thiếu thốn, còn thiếu kinh nghiệm và năng
lực…) Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính phủ, Nhà nước đã tiến hành công
cuộc đổi mới toàn diện từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế thị trường có sự
định hướng của Nhà nước. Trải qua hơn 15 năm đổi mới có thể nói cho đến nay nền tài
chính quốc gia Việt Nam thực sự ngày càng gia tăng về quy mô cũng như về chất lượng.
Các công cụ tài chính ngày càng phát huy sức mạnh. Cho dù đồng tiền Việt Nam vẫn
chưa được sử dụng làm phương tiện trao đổi thương mại quốc tế nhưng phải khẳng định