LUẬN VĂN:
Công Nghiệp Hoá - Hiện Đại Hoá trong điều
kiện chuyển nền kinh tế nước ta sang kinh tế thị
trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
Phạm trù CNH và thực chất của CNH
Chúng ta đã xem xét CNH trên khía cạnh vai trò và những quan điểm về nó ở
nước ta. Như vậy CNH là gì? Định nghĩa CNH được đưa ra với sự việc hiện nay ở
nước ta như thế nào?
Với câu hỏi thứ nhất, từ trước tới nay có rất nhiều câu trả lời được đưa ra. Như
vậy nên hiểu phạm trù này như thế nào? Trước hết xin trích ra một vài định nghĩa đã
có. Theo tác giả B. Mazlíh khi xem xét quá trình CNH ở Anh Ông đã dưa ra “hình thù
công nghiệp hoá dưới dạng tóm tắt một quá trình” được đánh dấu bằng một sự chuyển
động từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang một nền kinh tế được gọi là công
nghiệp.
Trong cuốn sách giáo khoa kinh tế chính trị của Liên Xô (cũ) được dịch sang
tiếng Việt Nam năm 1958 đã đưa ra định nghĩa: “Công nghiệp hoá Xã Hội Chủ Nghĩa
là phát triển công nghiệp trước hết là công nghiệp nặng sự phát triển ấy cần thiết cho sự
tạo nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến”. Nhưng ở đây cần chú ý một là
sự nghiệp CNH ở Liên Xô (cũ) trong bối cảnh Lịch sử là nước Xã Hội Chủ Nghĩa, họ
phải tạo ra ccơ sở vật chất kỹ thuật để có thể tồn tại và phát triển trong vòng vây của
Chủ nghĩa tư bản. Chính vì vậy họ đã gắn công nghiệp hoá với quá trình xây dựng và
phát triển công nghiệp trước hết là công nghiệp nặng.
Đặt công nghiệp hoá trong bối cảnh chung của Phát triển kinh tế với nội dung cơ
bản là phát triển cơ cấu kinh tế trên cơ sở công nghiệp hiện đại nhằm đẩy mạnh nhịp độ
phát triển đồng thời hướng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội. Tổ chức phát
triển tốt công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá mới có khả năng thự tế để quan tâm
đầy đủ tới sự phát triển tự do và toàn diện của nhân tố con người.
Công nghiệp hoá còn tạo vật chất, kỹ thuật cho việc củng cố tăng cường tiềm lực
phát triển quốc phòng vững mạnh, có thể chúng ta mới có thể yên tâm phát triển kinh tế
và phát triển kinh tế mạnh thì có thể mới tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền an ninh
quốc phòng phát triển. Mạt khác CNH còn tạo ra nhiều khả năng cho việc thực hiện tốt
Phần ii : Giải Quyết vấn đề
Tính tất yếu của khách quan và những quan điểm của đảng và nhà nước về sự
nghiệp CNH- HĐH
I.Tính tất yếu khách quan:
Lịch sử đã chứng minh quá trình cải tạo xã hội nhanh nhất, đó là CNH. Trên thế
giới CNH đã biến đổi nhiều nước từ xã hội lạc hậu trở thành nước văn minh hiện đại,
đứng vị trí hàng đầu thế giới. Trong xu hướng phát triển như vũ bão hiện nay của thế
giới CNH ngày càng khẳng định vai trò quan trọng tất yếu của nó, đặc biệt là đối với
các nược hiện nay đang trong tình trạng kém phát triển thì con đường cải tạo xã hội
thông qua CNH là con đường quy nhất mang tính tất yếu khách quan đêt tự đưa mình
tự vượt qua danh giới nghèo đói, tránh tụt hậu khá xa so với các nước phát triển.
Thông qua CNH các nước sẽ trang bị được cho mình có sở vật chất kỹ thuật của
nền Sản xuất mới hiện nay – Trong đó cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất mới
hiện đại có thể khái quát là nền đại công nghiệp cơ khí hoá và hiện đại dựa trên trình
độ khoa học, công nghệ ngày càng phát triển cao- Cơ sở vật chất đó phải có cơ cấu
kinh tế hợp lý, trình độ xã hội hoá và lao động cao. Có được cái “ Cốt vật chất” như
vậy các nứơc mới có đủ khả năng sản xuất ra của cải vật chất rồi rào đáp ứng cho tieu
dùng hiện đại mà còn có khả năng tích luỹ lớn và chỉ có khi đó con người mới có điều
kiện để quan tâm đến các điều kiện khác thoả mãn nhu cầu toàn diện của mình.
ở nước ta hiện nay quá trình xây dựng XHCN là quá trình cải tạo xã hội đưa đất
nước từ xã hội lạc hậu lên một xã hộ mới tốt đẹp hơn, chúng ta tiến hành xây dựng xã
Cũng theo hướng đó, các tác giả cuốn “Công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt
nam và các nước trong khu vực” đã đưa ra định nghĩa “công nghiệp hoá là một quá
trình lịch sử tất yếu nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế xã hội của đất
nước trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong cả nước, mở rộng
quan hệ kinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với trình độ khoa học
công nghệ ngày càng hiện đại”.
Qua xem xét một vài định nghĩa đưa ra có thể thấy tuỳ điều kiện cụ thể mà góc
quy mô đánh giá khác nhau. Mỗi nơi, mỗi quốc gia có định nghĩa khác nhau về công
nghiệp hoá-hiện đại hoá. Tuy vậy, định nghĩa công nghiệp hoá cũng phải chỉ ra được
cái cốt lõi của quá trình này “Sự đổi mới, chuyển từ kỹ thuật và công nghệ lạc hậu lên
trình độ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến có năng suất và hiệu quả kinh tế cao”.
Trước đây, khi vận dụng một cách máy móc mô hình kinh tế của Liên Xô (cũ)
nên trong quá trình công nghiệp hoá chúng ta cũng xác định nội dung của công nghiệp
hoá là phát triển đại công nghiệp trước hết là công nghiệp nặng. Chẳng hạn như một số
định nghĩa về công nghiệp hoá là: “Quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong
tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân và đặc biệt là công nghiệp nặng, dẫn tới sự
tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động”
hoặc như “Kinh tế chính trị” cũ của trường Đại học Kinh tế quốc dân các tác giả đã
định nghĩa: ”Công nghiệp hoá XHCN là quá trình xây dựng cơ sở vật chất với kỹ thuật
của CNXH: Xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí hoá cỏ khả năng cải tạo cả nông
nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân nhằm biến nước ta từ một nước kinh tế chậm
phát triển thành một nước XHCN có cơ cấu công nông hiẹn đại”.
Định nghĩa như thế về công nghiệp hoá đã phản ánh được cái cốt lõi của quá trình
này, tuy thế việc nhấn mạnh vai trò của công nghiệp nặng là không phù hợp với điều
kiện của nước ta, thiếu sự phân tích khoa học. Chính tư tưởng chỉ đạo này đã dẫn đến
những hậu quả mà đặc biệt là thất bại trong sự nghiệp công nghiệp hoá ở nước ta từ
năm 1960 (từ Đại hội Đảng lần thứ III).
Sau khi có sự biến động mạnh mẽ trong khối XHCN. Đó là sự xụp đổ về mô hình
kinh tế của một loạt các nước trong khối XHCN, đặc biệt là sự tan rã của liên bang
mà nhièu nước trước đây đã trải qua như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Đức, Liên Xô(cũ),
thường đó là những nước đã có nền khoa học công nghệ tiên tiến đương thời. Do đó,
những bước tiến của công nghiệp hoá thường gắn với những sáng chế phát minh của
chính nước đó hay thời đại đó. Vì vậy, quá trình công nghiệp hoá thường kéo dài hàng
100 năm theo đã phát triển của khoa học kỹ thuật, ở thời kỳ phôi thai chưa thành một
cuộc cách mạng vũ bão như ngày nay.
Ngày nay, đối với các nước đi sau tình hình đang đổi khác, để giải quyết một vấn
đề trong công nghiệp hoá có rất nhiều giải pháp hay công nghệ để săn sàng đem ra sử
dụng. Tiến hành công nghiệp hoá theo hướng trận dụng lợi thế như đã nói của các nước
công nghiệp phát triển muộn chính là công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. Theo
con đường công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá thì thời gian ngắn hơn rất nhiều so
với con đường công nghiệp hoá cổ điển. có thể đơn cử ra đây vài con số làm dẫn
chứng. Quá trình công nghiệp hoá ở Anh được coi là bắt đầu từ năm 1780 và phải tới
58 năm sau đó thì thu nhập bình quân đầu người mới tăng lên gấp đôi. ở Mỹ công
nghiệp hoá bắt đầu từ năm 1839 và để đạt được mức tăng thu nhập gấp đôi đã cần tời
47 năm. Nước Nhật bắt đầu công nghiệp hoá vào năm 1880 và đã rút ngắn được thời
gian tăng gấp đôi thu nhập xuống mức 34 năm. Các nước đi sau điển hình cho con
đường công nghiệp hoá găn với hiện đại hoá thì Nam Triều Tiên đạt kết quả trên trong
vòng 11 năm (1966-1977). Mới đây Trung Quốc đã rút ngắn thời gian đó xuống còn 10
năm (1977-1987).
Kinh nghiệm thế giới là bài học thực tiễn cho Việt nam học tập. Nhưng điều chủ
yếu việc tiến hàh công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá ở nước ta là phù hợp với
những yêu cầu đang dặt ra cho quá trình này như: Triệt để khai thác lợi thế của các
nước phát triển muộn về công nghiệp. Xu thế Quốc tế hoá sản xuất và đời sống nhanh
chóng vượt qua được nghèo, rút ngắn khoảng cách tụt hậu của nước ta so với các nước
công nghiệp phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới. Con đường đã chọn mở
hướng đi cho chúng ta tiến tới một cái đích cao hơn. Chúng ta tin tưởng rằng với bước
trang bị và trang bị lại công nghệ cho các ngành phải gắn chặt với quá trình hiện đại
hoá ở cả phần cứng và phần mềm của công nghệ
- Hai là, công nghiệp hoá không chỉ liên quan đến phát triển công nghiệp, mà là
quá trình bao trùm lên tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động của một nước. Đó là
một lẽ tất yếu vì nền kinh tế mỗi nước là một hệ thống nhất các ngành, các lĩnh vực
luôn có quan hệ tương hỗ, ảnh hưởng lẫn nhau.
- Ba là, quá trình công nghiệp hoá trong bất cứ giai đoạn nào cũng đều vừa là quá
trình kinh tế kỹ thuật, vừa là quá trình kỹ thuật xã hội. Quá trình kinh tế kỹ thuật tạo
điều kiện vật chất kỹ thuật cho việc thực hiện các nội dung của quá trình kinh tế-xã hội.
Ngược lại quá trình kinh tế xã hội góp phần tạo nên động lực để thực hiện quá trình
kinh tế-xã hội.
- Bốn là, quá trình công nghiệp hoá cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế. Ngày nay mỗi nước đang trở thành một bộ phận của hệ thống kinh tế
thế giới, chịu sự tác động chung của quốc tế, việc xây dựng phương hướng công nghiệp
hoá ngoài việc dựa trên cơ sở tiềm lực trong nước vẫn phải dựa trên tình hình thế giới.
Mở rộng phân công lao động quốc tế và quốc tế hoá đời sống kinh tế theo xu thế, phát
triển ngày càng mạnh mẽ.
- Năm là, công nghiệp hoá không phải là một mục đích tự thân mà là một phương
thức có tính chất phổ biến. mõi nước tuy có một mục tiêu riêng nhưng nhìn chung vẫn
có những tương đồng, đó là: xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, khai thác có
hiệu quả các nguồn lực trong nước, đảm bảo nhịp độ tăng trưởn kinh tế, cải thiện đời
sống nhân dân,
Mục tiêu lâu dài cảu công nghiệp hoá-hiện đại hoá là cải biên nước ta thành một
nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ
sản xuất, mức độ vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Để dạt được mcụ tiêu trên đã đề ra đòi hỏi toàn Đảng toàn dân phải đồng lòng
theo hướng phấn đấu trong vài thập kỷ tới, tỷ trọng công nghiệp trong GDP giảm
xuống còn trên dưới 10%, công nghiệp và dịch vụ đạt tời khoảng 90%. Trong công
nghiệp thì công nghiệp chế tạo chiểm tỷ trọng lớn nhất: 70-80%. Phát triển mạnh các
ngành công nghiệp chế biến, chú trọng các ngành thực phẩm, dệt da, may mặc, cơ khí,
lắp ráp ôtô, xe máy, hàn điện tử. Đẩy mạnh thăm dò và khai thác dầu khí, sử dụng có
hiệu quả nguồn khí đốt. Các ngành công nghiệp nặng cần xây dựng là: điện, ximăng,
thép, phân bón, hình thành một số ngành mũi nhọn trọng điểm như: khai thác chế biến
dầu khí, công nghệ điện tử, thông tin, du lịch,
- Cơ cấu công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, nông nghiệp:
Trong 5 năm trước mắt vẫn phải coi trọng nông nghiệp, phát triển kinh tế nông
thôn. Công nghiệp nông thôn cần được phát triển mạnh, xây dựng các nhà máy chế
biến, liên kết chặt chẽ với trồng trọt và chăn nuôi, khai thác nguyên liệu tại chỗ. Phấn
đấu ngành sản xuất lương thực, thực phẩm đạt 30 triệu tấn vào năm 2000.
- Về cơ cấu công nghiệp trong 5 năm tới có tính đến việc hình thành các khu công
nghiệp tập trung, các tam giác kinh tế (khoảng 20 khu) và điểm công nghiệp rải rác
xung quanh các thị trấn và trục lộ chính trừ một số ít khu công nghiệp nặng (Thái
Nguyên, Việt Trì, ) còn lại chỉ dành cho công nghiệp nhẹ hàng tiêu dùng, về phát
triển công nghiệp nặng cần tranh thủ thời cơ huy đọng vốn trong nước và nước ngoài
để xây dựng một số công trình then chốt có tính cấp bách và hiệu quả, vốn đầu tư cho
công nghiệp nặng không quá 70% tổng số vốn ngân sách, chủ trương, dự án có đầu tư
có căn cứ khoa học đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội rõ rệt. Phát triển một số ngành công
nghiệp. Có triển vọng dựa trên công nghệ cao, tạo tiền đề cho việc đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở giai đoạn tiếp theo. Nâng cao năng lực nghiên cứu triển
khai công nghệ hiện đại trong nước, tạo một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật giốc khả
năng tiếp cận công nghệ thế giới. Phổ cập các loại hình công nghệ thích hợp trên địa
bàn nông thôn, miền núi. Để thực hiện những bước nhảy vọt về công nghiệp mạnh dạn
tiếp cận, sử dụng công nghệ cao như vi điện tử, tin học, tự động hoá, vật liệu mới,
dân và nhu cầu, điều kiện tự nhiên, tiềm năng đất nước, nguồn và quy mô vốn, quan hệ
kinh tế quốc tế, trên cơ sở xem xét đánh giá thực trạng của đất nước Đảng ta đã
khẳng định công nghiệp hoá ở nước ta là quá trình tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý mà “Bộ
xương” gắn với sự phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng để từng bước tao ra cơ cấu
kinh tế đó, cần phải thực hiện sự kết hợp công nghệ với nhiều trình độ khác nhau: đa
dạng hoá mặt bằng kỹ thuật, tranh thủ công nghệ muĩ nhọn, tiên tiến, điều đó cho phép
sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dồi dào phù hợp với khả năng vốn của nước ta.
Về mặt quy mô mà xét, lấy quy mô vừa và nhỏ là chính, từng bước chuẩn bị cho hướng
xây dựng cơ cấu kinh tế với quy mô lớn hợp lý.
Từ sản xuất nhỏ đi lên, trong quá trình công nghiệp hoá để tạo ra cơ sở vật chất,
kĩ thuật cho nền sản xuất lớn, hiện đại tất yếu phải tiến hành phân công lại lao động
trên phạm vi cả nước, cũng như từng nghành từng cơ sở.
- Phân công lao động. Với lực lượng lao động nông nghiệp chiếm 37% tổng số
lao động cả nước, vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với việc điều tiết qúa
trình phát triển và phân bố lại dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp ở nông thôn gắn với
việc đô thị hoá tại chỗ là nội dung quan trọng cuả quá trình chuyển dịch kinh tế và
phương hướng đi lên chủ yếu của kinh tế nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá.
- Phân phối vốn: Phần lớn vốn đầu tư của nhà nước sẽ được giao cho các ngành
trung ương quản lý để xây dựng nhiêù công trình phân bố ở nhiều vùng khác nhau,
phần còn lại giao cho địa phương quản lý khoảng 30% cho các vùng trọng điểm, 70%
cho các vùng khác. Đối với số vốn mà nhà nước chỉ có thể hướng dẫn bằng các chính
sách ưu đãi khuyến khích (như vốn đầu tư nước ngoài, vốn của các thành phần kinh tế
khác) thì vùng trọng điểm chiếm 70% còn 30% cho các vùng khác. Như vậy, với vai
trò hướng dẫn, Nhà nước đảm bảo được sự hài hoà trong phát triển giữa các vùng, tạo
một cơ cấu cân đối cho nền kinh tế.
IV. Các tiền đề hay giải pháp lớn để tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá
20.000 tỷ, thêm vào đó khoảng 500 triệu USD hàng năm là số kiều hối được gửi từ
nước ngoài, nếu huy động được nguồn vốn này sẽ có số vốn rất lớn cho công nghiệp
hoá-hiện đại hoá. Muốn vậy phải giải quyết ngay những trở ngại: tâm lý lo ngại về hiệu
qủa an toàn đầu tư, mặt bằng để xây dựng và mở rộng sản xuất kinh doanh chưa đủ,
thiếu sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước, thủ tục chính sách phiền hà,
Tổ chức tốt các hình thức liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế, cổ phần
hoá một số lớn các doanh nghiệp Nhà nước để thay thế vốn nhà công nghiệp bằng vốn
liên doanh và vốn cổ phần. Đây là biện pháp có nhiều khả năng thực thi để Nhà nước
có điều kiện tập trung vốn vào các lĩnh vực mũi nhọn, công nghệ cao, cần nhiều vốn
nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá.
Một hình thức huy động vốn khá đặc biệt và hiệu quả đó là huy động tốt nguồn
“Bảo hiểm xã hội” tạm thời các công ty bảo hiểm chưa dùng tới để phát triển thêm
ngành nghề sản xuất dịch vụ mới, vừa góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện
đại hoá đất nước vừa tăng thêm của cải vật chất cho xã hội.
Ngoài nguồn vốn trong nước, nguồn vốn bên ngoài cũng rất quan trọng thậm chí
có thể là quyết định trong thời kỳ đầu tiên. Việc huy động nguồn vốn này phải thông
qua chính sách mở cửa kinh tế với nhiều hình thức, kết hợp các lợi thế bên ngoài và
bên trong. Hạn chế tới mức tối đa phiền hà về thủ tục đầu tư, tạo môi trường đầu tư
thuận lợi. Tuy nhiên, thu hút nguồn vốn này không chỉ phụ thuộc vào môi trường đầu
tư ở nước ta mà còn tuỳ thuộc nhiều vào tính toán của các nhà đầu tư. Còn việc vay
vốn phải tính đến phương án và khả năng trả nợ. Ngoài ra việc nhận vốn của nước
ngoài còn phải tính toán những yêu cầu đảm bảo độc lập, chủ quyền về kinh tế, chính
trị.
Huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả là hai mặt của vấn đề. Chỉ có sử dụng
vốn có hiệu quả mới tạo điều kiện tốt cho huy động vốn, ở nước ta vấn đề lớn nhất là
phải tiết kiệm trong sản xuất, trong tiêu dùng.Tiếp theo là đầu tư đúng nơi, đúng chỗ.
Tập trung đầu tư theo chiều sâu. Đầu tư của Nhà nước chủ yếu để xây dựng kết cấu hạ
người-động lực trực tiếp của sự phát triển”.
Việc xây dựng và đào tạo lại đội ngũ cán bộ khoa học-kỹ thuật công nhân lành
nghề, đội ngũ cán bộ quản lý ở nước ta cần thông qua hệ thống giáo dục đào tạo hoàn
chỉnh. Trước hết Nhà nước cần đổi mới cơ cấu nội dung chương trình các môn học sao
cho phù hợp và thúc đẩy được sự phát triển của khoa học-công nghệ. Đưa sự nghiệp
giáo dục đào tạo thành sự nghiệp của toàn dân. Vừa đầu tư theo chiều rộng vừa đầu tư
theo chiều sâu. Ngoài ra, có thể gửi cán bộ công nhân, học sinh, lưu học ở nước
ngoài. Cho phép các doanh nghiệp sử dụng quỹ phát triển sản xuất đầu tư một phần
cho giáo dục và đào tạo con người, các nhà giáo dục, lực lương công nhân lành nghề
hiện có, một cách thích đáng để tạo ra một đội ngũ hùng hậu có nhiệt huyết đóng góp
cho sự nghiệp xây dựng tổ quốc.
Chỉ trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đó chúng ta mới có thể có được đội
ngũ cán bộ khoa học-kỹ thuật, công nhân lành nghề, đội ngũ cán bộ quản lý có năng
lực. Từng bước đáp ứng đầy đủ, kịp thời các yêu cầu mới của công cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trên thế giới đang phát triển như vũ bão hiện
nay.
3.Vấn đề xây dựng kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng chi phối tất cả các giai đoạn phát triển của nền kinh tế, do đó
muốn cho nền kinh tế cất cánh, mỗi quốc gia phải có một cơ sở hạ tầng phù hợp. Ví
như Châu Âu, Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 từ trong hoang tàn đỏ nát họ đã
thắt lưng buộc bụng, dồn vốn xây dựng đường xá, sân bay, bến cảng, để phục vụ trực
tiếp cho phục hồi và phát triển kinh tế.
Nước ta, một nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề nên kết cấu hạ tầng quá thấp
kém cả về sổ lượng lẫn chất lượng, nay bước vào quá trình công nghiệp hoá-hiện đại
hoá việc xây dựng kết cấu hạ tầng phù hợp phải tiến hành xây dựng hoàn chỉnh, đồng
loạt các kết cấu hạ tầng. Đặc biệt là cơ sở hạ tầng của ngành giao thông vận tải, Giao
thông vận tải là cửa mở, là đòn sóc với toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội, thúc đẩy các
Chính phủ chỉ đạo thực hiện các công trình điểm của quóc gia về công nghiệp hoá và
phát triển công nghiệp trong từng thời kỳ một cách phù hợp để hình thành nên những
“cực tăng trưởng” của nền kinh tế quốc dân.
+Hỗ trợ các doanh nghiệp , các thành phần kinh tế nâng cao năng lực tiếp thị,
nắm bắt thông tin để mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
+ Tạo môi trường luật pháp nhằm duy trì cạnh tranh bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế các doanh nghiệp .
+ Chịu trách nhiệm chính trong công việc đầu tư nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ
tầng kinh tế-xã hội
phần III : Kết luận
nhau về công cuộc công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước sau khi đã nghiên cứu kĩ về
vấn đề này qua bài viết của mình.
Theo em, với vị trí trung tâm và vai trò chủ thể của quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước. Hình thành một lớp người năng động, có chi thức, có bản lĩnh
kinh doanh, xông xáo, dám nghĩ, dám làm, quả là cần thiết.
Thực tế đã cho thấy với một nguồn tài nguyên nghèo nàn, điều kiền thiên nhiên
khắc nghiệt nhưng Nhật Bản vẫn vươn lên bằng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và bằng
ý chí con người Nhật Bản để hiện nay họ đang có tên trong 7 nước công nghiệp hàng
đầu thế giới.
Với thực trạng tình hình giáo dục đào tạo của nước ta hiện nay, em cho rằng còn
thiên về số lượng, chất kượng chưa cao một cách đồng đều, sinh viên được đào tạo ra
có lý thuyết nhưng khả năng vận dụng kém, không linh hoạt. Vì vậy theo em, ngoài
việc phổ cập giáo dục, cần phải tiến hành cải tiến chương trình giáo dục đào tạo để
nâng cao khả năng ứng dụng, tính năng động của đội ngũ trí thức trẻ, có thể là tăng giờ
thực hành, giờ đi thực tế, khuyến khích các sáng kiến có giá trị làm cho đội ngũ trí
thức trẻ này kế thừa và thực hiện tốt ý tưởng tốt đẹp của đảng trong công cuộc công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Thứ nữa là phát huy lợi thế về vị trí địa lý để mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh
tế chính trị, thông thương với nước ngoài nhanh chóng, tiếp thu những công nghệ mới,
những hành trang đã có sẵn giúp chúng ta có thể bắt đầu từ nửa sau của chặng đường
tìm kiếm công nghệ.
Thứ ba là: Nhà nước cần nâng cao chức năng định hướng, dân dắt thực hiện công
cuộc công nghiệp hoá hiện đai hoá có định hướng, có công nghệ hiện đại như là một
thứ vũ khí- một con người năng động, có chi thức sẽ biết đưa đất nước đi lên bằng cách
nào.
Đất nước ta đã và đang tiến lên một cách vững chắc, khẳng định con đường công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là đúng đắn và khách quan. Mặc dù còn nhiều sai lầm