LUẬN VĂN:
Phân tích, đánh giá nguyên nhân, tác
động của cuộc khủng hoảng đến thế giới,
khu vực và đặc biệt là Việt nam
Lời Nói Đầu
Trong vài thập kỷ qua sự tăng trưởng liên tục với tốc độ cao ( >7%) của khu
vực châu á mà nòng cốt là khu vực châu á - Thái bình dương đã thu hút được sự quan
tâm rất lớn của cả thế giới. Tiếp theo sự thần kỳ của Nhật bản, các nước NICs và
ASEAN đã biến khu vực này thành khu vực có nền kinh tế năng động nhất trên thế
giới. Nhiều nhà kinh tế và học giả phương tây đã không tiếc lời ca tụng về sự phát
triển kinh tế của khu vực này và cho rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của những con rồng châu
á. Chính vì thế các nước này luôn được coi là các mô hình kinh tế mẫu mực để nhiều
nước đang phát triển trên thế giới học tập trong việc xây dựng chiến lược phát triển
kinh tế của mình . Thế nhưng, cơn bão tài chính - tiền tệ châu á xảy ra ở khu vực này
đã làm chấn động cả nền kinh tế khu vực và thế giới.Phạm vi và mức độ thiệt hại của
nó là rất lớn. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ Thái lan sau đó lan sang các nước khu vực
Đông Nam á, sang Đông Bắc á và ảnh hưởng đến hầu hết khu vực trên thế giới. Thực
chất của cuộc khủng hoảng này là một cuộc khủng hoảng mang tính cơ cấu với sắc
thái tài chính - tiền tệ rất đậm nét chứ không phải là khủng hoảng chu kỳ hay sự đỗ vỡ
* Sự rút vốn ồ ạt của các chủ đầu tư khi có sự biểu hiện mất giá của đồng tiền.
* Nợ nước ngoài tăng nhanh và suy thoái kinh tế trầm trọng.
1.3 Tại sao khủng hoảng tài chính - tiền tệ thường lây lan từ nước này sang nước
khác
Tại nước xảy ra khủng hoảng tài chính - tiền tệ, giá của đồng nội tệ bị xuống quá
nhanh và quá nhiều so với đồng USD. Nếu giữa các nước hoàn toàn không có quan hệ
gì thì sẽ không có hiện tượng lây lan khủng hoảng từ nước này sang nước khác. Tuy
nhiên, ngày nay giữa các nước luôn có những mối quan hệ, đặc biệt ngày nay thị
trường ngoại hối không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà là thị trường
chung của toàn thế giới, do đó có hiện tượng lây lan khủng hoảng từ nước này sang
nước khác. Những nước mà đồng tiền của họ có khả năng chuyển đổi được trên thị
trường ngoại hối thì phải chịu lây lan và ảnh hưởng nặng nề nhất, còn những nước
đồng tiền không chuyển đổi được như Việt Nam sẽ phải chịu ảnh hưởng ít hơn.
1.4 Đặc điểm chung của các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
Khởi nguồn của các cuộc khủng hoảng kinh tế biều hiện dưới hình thức khủng
hoảng tài chính - tiền tệ đều từ các quốc gia và khu vực phụ thuộc quá nhiều vào thị
trường quốc tế cả về mặt tiền vốn và thị trường tiêu thụ. Những cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ này thường mang những đặc điểm và nguyên nhân chủ yếu sau :
* Sự tách rời ngày càng xa giữa tiền vốn ký hiệu và tiền vốn thực tế
Lạm phát tiền vốn ký hiệu thực chất là sự mở rộng quá mức lượng tiền vốn này so
với lượng tiền vốn thực tế. Khi khủng hoảng xảy ra các loại tiền vốn ký hiệu đều giảm
giá nhanh, làm cho chúng trở lại với giá trị thực tế, điều này được biểu hiện qua sự
giảm giá, giảm giá bất động sản hoặc phá giá tiền giấy nền kinh tế rơi vào tình trạng
tiêu điều.
* Tác động của sự di chuyển tiền vốn quốc tế ngày nay
Di chuyển tiền vốn quốc tế là một trong những nội dung cơ bản của các giao dịch
1994.
2.2 Những bài học rút ra từ các cuộc khủng hoảng
Trước hết, chúng ta hãy xem xét sự phá giá đồng Bảng Anh năm 1967. Chúng ta
đã biết nguyên nhân dẫn đến sự mất giá của đồng Bảng Anh là sự thiếu hụt dai dẳng
trong cán cân thanh toán của Anh mà thậm chí sau này Mêhicô lâm vào tình trạng
tương tự. Nhận thấy sự nguy hiểm của thâm hụt cán cân thanh toán nên bài học đầu
tiên là hạn chế tối đa mức thâm hụt cán cân thanh toán có thể được.
Cũng như cuộc khủng hoảng ở Anh, cuộc khủng hoảng Mêhicô sau này là sai lầm
trong việc tung ngoại tệ mạnh ra để kìm giữ tỷ giá, dẫn đến tỷ lệ dự trữ ngoại tệ đã
thiếu lại càng thiếu hơn. Vì vậy, cần thận trọng trong việc tung ngoại tệ để kìm giữ tỷ
giá. Cùng với nó là việc duy trì một cơ cấu hợp lý về vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp
để tránh tác động của đầu cơ và nguy cơ rút vốn đột ngột và ồ ạt của các nhà đầu tư
nước ngoài.
Ngân hàng là nơi nhạy cảm nhất đối với cuộc khủng hoảng, hơn nữa cuộc khủng
hoảng có thể được hạn chế hay trầm trọng hơn cũng do hệ thống ngân hàng quyết
định. Vì vậy, cần phải tăng cường vai trò của chính phủ trong việc tạo ra khung pháp
lý và đề ra các chủ trương chính sách để tăng cường hệ thống ngân hàng tài chính.
3.Diễn biến của khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu á
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á xuất phát từ Thái Lan, nó nằm trong
chuỗi các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ liên tiếp diễn ra ở các nước đang phát
triển trong vòng 20 năm trở lại đây. Sau những gì đã xảy ra từ những cuộc khủng
hoảng trước với quá nhiều bài học thu được người ta nghĩ rằng khó có thể để xảy ra
một cuộc khủng hoảng tương tự. Vậy mà nó đã xảy ra ngay tại Đông Nam á - nằm
trong khu vực Đông á vốn được coi là nơi có sự phát triển thần kỳ, là động lực tăng
trưởng của nền kinh tế thế giới trong nhiều năm qua.
Ngay từ năm 1996, đã xuất hiện những dấu hiệu về một khủng hoảng tiền tệ, tài
chính ở các nước Thái Lan, Inđônêsia, Malaysia, Philippin. Những dấu hiệu này là :
mức tăng trưỡng xuất khẩu đã giảm mạnh trong năm 1996, ở Thái Lan chỉ còn 6% so
với mức 20% mỗi năm trong thời kỳ 1985 - 1995. Nợ bằng USD của ngân hàng nước
chỉ sau Thái lan vài ngày tức ngày 7/7/1997 ngân hàng trung ương Philippin đả phải
tăng lãi suất và ngày 11/7/1997 đã công bố nới rộng biên độ giao động tỷ giá đồng
Pêsô mà thực chất là phá giá đồng tiền. Ngân hàng trung ương đã phải thừa nhận rằng
họ không thể sử dụng số dự trữ ngoại tệ ít ỏi ( tính đến tháng 4/1997 chỉ có 10.3 tỷ
USD) cho việc bảo vệ đồng Pêsô. Sau khi nới rộng tỷ giá, tỷ giá Pêsô so với USD tăng
lên 28.1 Pêsô/USD và đạt đỉnh cao vào cuối tháng 9/1997 là 40 Pêsô/USD.
Đồng Ringgit của Malaysia vốn là đồng tiền tương đối ổn định. Tuy nhiên cũng
giống đồng Baht của Thái lan, đồng Rupi của Inđônêsia, nó cũng rất nhạy cảm đối với
những biến động bất thường bắt nguồn từ sự lo ngại về tốc độ tăng trưởng quá nóng
của nền kinh tế cộng thêm thâm hụt cán cân vãng lai ở mức độ lớn và kéo dài.
Năm 1996, với sự thành công trong kinh tế của Malaysia, đồng Ringgit đã tăng lên
tới 2.53 RM/USD. Nguyên nhân của sự tăng này là do sự tăng lên của các đồng vốn
đầu tư từ bên ngoài. Tuy nhiên vào giữa tháng 4/1997 ngân hàng Negra Malaysia
(BNM) đã can thiệp vào thị trường để bảo vệ đồng Ringgit khi mà đồng tiền này bị
đầu cơ. Lãi suất cũng tăng trong thời gian này. Đống Ringgit đứng trước sức ép rất
mạnh về tỷ giá và bắt đầu có dấu hiệu mất giá. Trước tình hình đó, ngân hàng Trung
ương đã bỏ ra hàng tỷ USD để bảo vệ đồng Ringgit. Đồng thời lãi suất cũng được kính
lên ở mức cao nhất trong vòng mười năm trở lại đây nhằm bảo vệ đồng tiền và chống
lại sự bất ổn của thị trường ngoại hối. Ngày 15/7/1997 chính phủ Malaysia đã tuyên bố
thả nỗi đồng Ringgit. Ba ngày sau khi tuyên bố, tỷ giá đồng Ringgit đã lên 2.633
RM/USD tức là mất giá khoảng 88% so với trước tháng 2/1997.
Mặc dù đồng Rupi của Inđônêsia không bị sức ép căng thẳng như đồng Pêsô của
Philippin nhưng chính phủ Inđônêsia đã công bố nới rộng biên độ tỷ giá từ 8% lên
12% vào tháng 11/1997 với khả năng dự trữ ngoại tệ của Inđônêsia còn hạn chế, Việc
nới rộng biên độ tỷ giá là điều cần thiết nhằm tăng khả năng bảo vệ đồng Rupi khỏi sự
đầu cơ tiền tệ. Sau một tuần mở rộng không can thiệp, tỷ giá tăng lên mức 2.52
RP/USD và mất giá khoảng 8,25%. Riêng ngày 13/8/1997 ngân hàng Trung ương
Inđônêsia đã phải bỏ ra 500 triệu USD để giữ đồng Rupi biến động trong mức 12%.
Tuy nhiên biện pháp này cũng tỏ ra không hiệu quả và ngày 14/8/1997 ngân hàng
trung ương Inđônêsia phải tuyên bố thả nỗi đồng Rupi. Ngay sau đó đồng Rupi bị mất
T
ỷ lệ trả nợ
nước ngoài (%)
33 6.0 15.0 0 14.0
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu kinh tế tháng 1-1998
Trong khu vực Đông Bắc á, giá trị đồng tiền của các nước đài loan, Hồng Kông,
Hàn Quốc và Nhật Bản đều bị ảnh hưởng và giảm ở mức độ khác nhau so với đồng
USD. Thị trường chứng khoán ở các nước này cũng chịu ảnh hưởng và sụt giá từ 10-
20%.
Trong số các nước trên thì khủng hoảng ở Hàn Quốc là nặng nề nhất. Đồng Won
mất giá nhanh và liên tục. Ngày 25/12/1997, tỷ giá Won/USD lá 1987, nghĩa là đồng
Won đã mất giá hơn 100% so với đầu tháng 6/1997 (868 Won/USD). Trước cuộc
khủng hoảng này, bảy tập đoàn kinh tế vào loại hàng đầu của Hàn Quốc như : Hanbo,
Samni, Jinzo, Diamony lần lượt bị phá sản. 25 ngân hàng thương mại có liên quan
đến tài trợ vốn cho các tập đoàn bị ảnh hưởng và rơi vào tình trạng khó khăn trong
thanh toán.
Sau khi khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Hàn Quốc nổ ra đã làm cho đồng tiền của
nhiều nước ở châu á có xu hướng giảm giá tiếp, gây ảnh hưởng trực tiếp đến Mỹ và
Nhật, bởi vì 50% kim ngạch xuất khầu của Mỹ là sang các nước châu á - thái bình
dương, và trong số nợ nước ngoài của Hàn Quốc thì Nhật chiếm 25%.
Như vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ xảy ra
thì đã có hàng loạt các quốc gia lâm vào khủng hoảng nhưng với tính chất, quy mô,
mức độ bị ảnh hưởng rất khác nhau tuỳ thuộc vào vị thế, bối cảnh riêng của từng quốc
gia trong quá trình tự do hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay.
ii. nguyên nhân và tác động của cuộc khủng hoảng
1. nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á
1.1 Nguyên nhân chủ quan
hạn, khi có dấu hiệu đột biến và sự cần thiết phải điều chỉnh tỷ giá, các dòng vốn này
đã lập tức ồ ạt rút ra khỏi ASEAN. Mặt khác sự cao giá không thực chất của đồng tiền
này đã triệt tiêu các động lực kính thích tăng trưởng xuất khẩu vốn đã không lấy gì làm
mạnh mẽ của các nước ASEAN trong thời gian này. Hơn nữa, chính sách tỷ giá này
đặc biệt mâu thuẫn với cơ chế tự do di chuyển vốn trong các nền kinh tế ASEAN. Đây
là sự dị dạng của một cơ chế tài chính - tiền tệ, làm suy yếu năng lực kiểm soát các
dòng vốn. Vì vậy, sau nữa năm với nhiều giải pháp như đóng cữa một số công ty tài
chính, tiết kiệm chi ngân sách, nhận sự hỗ trợ từ bên ngoài các nền kinh tế này chẳng
những không khắc phục được sự mất giá cũ mà các đợt mất giá mới vẫn tiếp tục diễn
ra. Qua phân tích cho thấy vấn đề tỷ giá là rất nhạy cảm nó giữ vai trò rất quan trọng
đối nền kinh tế.
Thứ ba, hệ thống tài chính - ngân hàng hoạt động yếu kém, quản lý ngoại hối
lõng lẻo. Hệ thống tài chính - ngân hàng chưa đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế
đang phát triển với nhịp độ cao. Thị trường tài chính tự do hoá mạnh mẽ nhưng các thể
chế giám sát điều hành không được tăng cường phù hợp. Hơn nữa, chính sách quản lý
ngoại hối của các nước này quá tự do, việc chuyển đổi giữa ngoại tệ và nội tệ quá dễ
dàng đã tạo khả năng bán tháo đồng nội tệ lấy USD khi xuất hiện những dấu hiệu bất
ổn định trên thị trường tiền tệ. Hiện tượng thất thoát vốn trở nên nghiêm trọng ở các
nước này do những hoạt động đầu tư sai lầm. Để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế
nóng và duy trì tỷ giá cố định, ngân hàng các nước này đã vay các khoản vay nóng từ
các ngân hàng nước ngoài ở mức độ nguy hiểm vượt xa so vơi mức dự trữ ngoại tệ
trong nước. Nhìn chung các ngân hàng ở ASEAN đã không thực hiên được vai trò
điều tiết khi xuất khẩu bị giảm sút, khi các dòng vốn bị rút ra ồ ạt cũng như khi lạm
phát ở mức cao mà tốc độ cung ứng tiền vốn vẫn tiếp tục tăng mạnh.
Thứ tư, Những bất cập trong chuyển đổi của quá trình công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước. Một nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á là
những bất cập và yếu kém trong bước ngoặt chuyển đổi của quá trình CNH-HĐH khi
chuyển thành nền công nghiệp mới như ở Thái lan, Inđônêsia, Malaysia. Chính bất cập
về thể chế và cơ cấu, những chậm chạp trong cải cách đã không giúp cho các nền kinh
tế này chuyển kịp trong điều chỉnh cơ cấu đầu tư, tái phân bổ nguồn lực và điều chỉnh
khẩu của nhiều nước khu vực đã cho thấy rõ điều đó.
1.2 Các nguyên nhân khách quan
Thị trường thương mại toàn cầu giảm sút.
Từ năm 1995, tốc độ tăng trưởng của hầu hết các nước công nghiệp phát triển đều
giảm sút mạnh dẫn đến giảm cầu, đặc biệt các nước này là những đối tác kích thích
quá trình tăng trưởng hướng về xuất khẩu của các nước Đông á, làm cho những sản
phẩm xuất khẩu chủ lực của các nước này như hàng điện tử may mặc đứng trước
nguy cơ bão hoà trên thị trường quốc tế. Tính đến năm 1996, thị trưỡng bán dẫn suy
giảm mạnh, giá vi mạch giảm hơn 80%. Trong khi đó các sản phẩm điện tử dân dụng
của Nhật bản và các nước NICs giảm lượng bán hơn 40% trên thị trường quốc tế. Mặt
khác tính hấp dẫn của thị trường Đông Nam á với các đối tác Mĩ và Tây âu đã giảm sút
trước những thị trường không kém phần năng động và hấp dẫn như Trung quốc, SNG,
Đông âu và Mỹ latinh.
Sự gia tăng tính không ổn định của các nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường tài
chính quốc tế.
Toàn cầu hoá cao độ về tài chính - tiền tệ và sự phát triển quá nhanh của các loài
quĩ ở các nước phát triển đã dẫn đến sự bùng nổ các luồng vốn đầu tư tư nhân ngắn
hạn. Các nguồn vốn dài hạn như ODA ngày càng có xu hướng giảm trong khi đó các
nguồn vốn đầu tư gián tiếp ngày càng tăng thậm chí tăng nhanh hơn cả vốn đầu tư trực
tiếp. Các nước trong khu vực trong khi huy động và sử dụng các nguồn vốn này đã sự
dụng quá nhiều loại vốn đầu tư gián tiếp (chứng khoán), điều đó dễ dẫn đến những tổn
thương của hệ thống tài chính trong nước.
Các hoạt động đầu cơ từ bên ngoài.
Ngoài nhà tỷ phú G.Soros còn nhiều nhà đầu cơ trong tổng số 2300 quĩ tín dụng ở
Mỹ với số tài sản khổng lồ khoảng 100 tỷ USD như Tiger, Orbics, Pumar họ đã mua
đồng Baht, Pêsô, Ringgit, Rupi, các quĩ nói trên đã bán ra khối lượng đồng Baht trị giá
15 tỷ USD. Với khả năng về tài chính như vậy, các quĩ tín dụng này hoàn toàn có khả
năng tiến hành các hoạt động nhằm cải thiện tình hình hoặc làm trầm trọng thêm cuộc
khủng hoảng này.
mươi đồng tiền khác nhau bị giảm giá mạnh ( từ 30-70%, thậm chí có lúc đồng Rupi
Inđônêsia mất giá tới 400% so với USD).
Cuộc khủng hoảng cũng đánh dấu sự kết thúc một giai đoạn tăng trưởng nhanh,
kéo dài hàng thập kỷ dựa chủ yếu vào các nguồn vốn nước ngoài của các nước trong
khu vực, để chuyển sang một giai đoạn mới đặc trưng bởi nhịp độ tăng trưỡng ôn hoà
hơn, thận trọng hơn và dựa vào sực mình nhiều hơn.Nhịp độ tăng trưỡng trung bình
của khu vực đã giảm đi 2.5% năm 1998 so với năm 1997. Do khủng hoảng ở châu á
làm cho tăng trưởng của Mỹ giảm đi 0.7% trong năm 1998, EU giảm 0.3%, Mỹ la tinh
giảm 1.5%, còn tốc độ thương mại toàn cầu giảm đi 2.5% so với năm 1997. Theo
OECD, cuộc khủng hoảng châu á đã làm cho tăng trưởng của các nước công nghiệp
phát triển giảm 0.9%. Thậm chí nếu như Trung quốc, Nhật bản, Brazin phá giá đồng
tiền của họ thì rất có thể xảy ra một cuộc khủng hoảng tài chính trên phạm vi toàn
cầu.
Cuộc khủng hoảng đã gây thiệt hại cho châu á ít nhất là 300 tỷ USD, bằng khoảng
20% GDP của các nước bị khủng hoảng và làm thiệt hại chung cho toàn thế giới
khoảng 500 tỷ USD. Có tới 150 tỷ USD đầu tư tài chính đã rút ra khỏi Đông Nam á,
các nhà đầu tư nước ngoài giảm sút niềm tin, FDI đổ vào châu á bị sụt giảm mạnh và
tiếp tục ở mức thấp trong một số năm tới.
Sự phá giá đồng bản tệ đã làm tăng các chi phí dịch vụ nợ và chất thêm gánh nặng
nợ nần lên vai các công ty làm tăng tình trạng mất khả năng thanh toán, phá giá nhất là
các công ty phục vụ thị trường trong nước mà nhu cầu đang giảm sút nhanh chóng. Sự
phá giá bản tệ ở những nước có hàng hoá xuất nhập khẩu mà nguyên liệu nhập khẩu
chiếm tỷ lệ cao sẽ làm tăng chi phí xuất khẩu, đẩy giá thành lên cao, giảm sức cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
Lạm phát gia tăng sẽ làm giảm mức sống thực tế của người làm công ăn lương,
những căng thẳng và bất ổn về xã hội cũng vì thế mà tăng lên.
2.2 Tác động tích cực
Cuộc khủng hoảng hiện nay không chỉ hoàn toàn gây tác hại cho các nước trong
khu vực mà ở một chừng mực nào đó, nó là điểm dừng để mở đầu cho một giai đoạn
hợp hơn của mỗi nước, phần nữa nhờ sự xuất hiện của những cơ chế thúc đẩy và giám
sát mới mang tính khu vực, nhờ sự bổ sung chức năng của IMF và các tổ chức tài
chính - tiền tệ quốc tế và khu vực, đồng thời đó cũng là kết quả của sự hợp tác giữa
các nước khu vực trong nỗ lực vượt qua khủng hoảng.
3. một số biện pháp hạn chế và khắc phục khủng hoảng
3.1 Những biện pháp can thiệp của Chính phủ
a) Can thiệp thị trường
Để duy trì tỷ giá, các nước này ở những mức độ khác nhau đã sử dụng biện pháp
truyền thống là tung dự trữ ngoại tệ ra bán và thắt chặt tiền tệ. Các nước này đã dùng
hàng chục tỷ USD dự trữ ngoại tệ để can thiệp thị trường hỗ trợ đồng nội tệ, tạm đình
chỉ việc mua bán ngoại tệ không vì mục đích thương mại nhằm ngăn chận việc bán
tháo đồng nội tệ để mua ngoại tệ mạnh. Một số nước chủ trương tạm đình chỉ thị
trường chứng khoán khi giá cổ phiếu tụt quá thấp, yêu cầu các nhà kinh doanh ngoại
hối phải đăng ký, Nhà nước ban hành quy chế quản lý chặt, cấm các công ty và ngân
hàng trong nước đầu cơ, hợp tác với các cơ quan tiền tệ trong khu vực để kiểm soát
các luồng di chuyển ngoại tệ.
b) Cải cách hệ thống tài chính - ngân hàng
Thái lan, Inđônêsia, Philippin đã lần lượt cải tổ mạnh mẽ hệ thống ngân hàng - tài
chính theo các hướng :
* Tiếp tục mở cữa và tự do hoá thị trường tài chính để thu hút nguồn vốn trong nước
và nước ngoài, tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân.
* Chấn chỉnh lại hệ thống ngân hàng - tài chính bằng cách đóng cửa các ngân hàng,
công ty tài chính làm ăn thua lỗ. Thái lan đóng cửa 58 công ty tài chính kinh doanh
thua lỗ, tham nhũng và không đòi được nợ (trên tổng số 91 công ty). Trong số đó, 18
công ty đã trình Uỷ ban kiểm tra các kế hoạch phối hợp nhằm phục hồi hoạt động và
10 trong tổng số này đã có kế hoach hợp nhất. Inđônêsia cũng đã đóng cửa 16 công ty
tài chính, quy định các công ty tài chính phải trả nợ ngân hàng, sáp nhập với nhau và
đáp ứng mức dự trữ bắt buộc mới với 50% nguồn vốn tối thiểu là tiền mặt. Hàn quốc
các nước trong khu vực trong tiến trình toàn cầu hoá, tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn
giữa các nền kinh tế, theo đó một sự đỗ vỡ ở bất kỳ nước nào cũng đều mang tính chất
lan truyền, các tổ chức tài chính- tiền tệ quốc tế như IMF, WB, ADB đã rất tích cực trợ
giúp cho những mắt xích yếu nhất trong hệ thống.
a) Phản ứng của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).
Sự sụp đổ của các hệ thống tài chính châu á là mắt xích cuối cùng trong loạt đỗ vỡ
tài chính nghiêm trọng. Mỗi nước Thái lan, Inđônêsia, Malaysia, Philippin, Hàn quốc
đều có những vấn đề riêng, chúng không hề giống nhau nhưng đều có điểm cốt lõi
chung : các chính sách công cộng sai lầm đã khuyến khích những khoản vay nợ khổng
lồ cả ở trong và ngoài nước, những bảo đảm công khai hay ngầm định đã làm cho các
nước này ngộ nhận về mức độ rũi ro thấp và đã xảy ra đổ vỡ tài chính. Quỹ tiền tệ
quốc tế đã can thiệp vào các khu vực có vấn đề của châu á bằng cách cung cấp các
khoản tín dụng khoảng 17 tỷ USD, trong đó có 4 tỷ USD của Nhật bản giúp cho các
nhà vay nợ của Thái lan, cho Hàn quốc khoảng 57 tỷ USD và một số nước khác. Các
khoản viện trợ cả gói có sự đóng góp của WB, ADB các nước Australia, Trung quốc,
Hồng kông, Nhật bản, Singapore là nhằm hỗ trợ cho các chương trình được hoạch
định tận gốc, nhằm khắc phục những nguồn gốc cũng như hậu quả của mất cân đối cơ
cấu và triệt tiêu những mối đe dọa tiềm tàng mà chúng gây ra cho hệ thống tiền tệ
quốc tế.
b) Giải pháp của IMF
IMF đã cam kết viện trợ cả gói cho các nước Hàn quốc 57 tỷ USD. Thái lan 17.3
tỷ USD và Inđônêsia 43 tỷ USD, đổi lại các nước này phải chấp nhận một số điều
khoản tương đối chặt chẻ của IMF :
- Cải cách chính sách tài chính - tiền tệ và ngoại hối như chính sách tỷ giá tăng
cường quản lý nợ, đặc biệt là nợ nước ngoài, cải cách chính sách thuế và ngân sách,
cắt giảm chi tiêu của chính phủ, tăng thuế để hạn chế tiêu dùng và cân bằng ngân sách.
Đồng thời ngân hàng Trung ương của các nước này sẽ phải thắt chặt nguồn cung cấp
tiền tệ và cho phép tỷ giá tại thị trường tăng tạm thời để giảm thiểu tác động của lạm
phát.
nhiều ý tưởng, đề xuất tại các hội nghị thưởng đỉnh APEC, hội nghị cấp cao ASEAN,
các cuộc gặp không chính thức đa phương và song phương giữa các nước trong khu
vực nhằm góp phần giải quyết khủng hoảng ở từng quốc gia khác nhau với những
nguyên nhân và tính chất khủng hoảng khác nhau. iii. Một số giải pháp nhằm hạn chế và khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của cuộc
khủng hoảng tới việt nam
1.Bối cảnh quốc tế và trong nước
1.1 Bối cảnh chung
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á đã làm giảm tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế thế giới trong năm 1998 là 0.8%, tức là chỉ tăng 3.5% thay vì 4.3% như đã
dự đoán ban đầu trước khi châu á lâm vào khủng hoảng. Theo IMF thì thiệt hại đó to
lớn nhưng không đều, chịu hậu quả nặng nề nhất là những nơi đã xuất phát khủng
hoảng như Thái lan, Inđônêsia, Malaysia, Philippin. Các nước này chỉ tăng trưởng
kinh tế trung bình là 1,5% trong năm 1998. Tiếp sau là bốn nước NICs : Singapo, Đài
loan, Hồng kông, Hàn quốc chỉ tăng trưởng kinh tế trung bình 3,6% trong năm 1998 so
với 6,2% trong năm 1997. Hàn quốc lẽ ra phải tuyên bố vỡ nợ nếu như không được sự
tài trợ khẩn cấp của Nhật bản và Phương tây.
Bị vạ lây còn có hầu hết các nước Đông âu đang trong thời kỳ chuyển tiếp và các
quốc gia đang phát triển ở Nam Mỹ cũng như ở châu phi ( các quốc gia này vốn đã
khó khăn lại càng khó khăn thêm). Trong nhóm G7 chỉ có Nhật bản là bị tác hại nặng
vì Nhật bản đả bỏ rất nhiều vốn vào các nước láng giềng và phải chịu cải tổ nền tài
chính trong nước một cách toàn diện. Mức tăng trưởng kinh tế của Nhật bản năm 1998
là (-)2,7% so với 2,2% năm 1997. Các quốc gia khác trong khối G7 chỉ bị ảnh hưởng
nhẹ của cuộc khủng hoảng châu á làm giảm 0,4% tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Đối với
Mỹ mức tăng trưởng chậm bớt lại không phải là một tai hoạ mà còn có tác dụng tích
cực làm giảm nguy cơ lạm phát gia tăng. Đối với EU, do quan hệ thương mại và đầu
tư với khu vực châu á còn rất hạn chế, bởi vậy cuộc khủng hoảng cũng không tác động
nhiều tới tình hình kinh tế của các nước này.
GDP
8.8 9.5 9.3 8.2 5.8
Nông nghi
ệp
3.9
4.5
4.4
4.5
3.0
Công nghiệp
14.0 13.9 14.1 13.0 12.1
D
ịch vụ
10.2
1
0.6
10.0
9.2
6.7
15
N¨ m
1994
N¨ m
1995
N¨ m
1996
N¨ m
1997
N¨ m
1998
Møc l¹ m
ph¸ t(%)
Nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng cao trong vòng gần mười năm qua, tuy
nhiên chưa thực sự ổn định và vững chắc. Một phần quan trọng đóng góp cho tăng
trưởng kinh tế là tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao (20-30% ) và đầu tư nước ngoài
tăng mạnh. Mức tăng trưởng GDP phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài
( chủ yếu là FDI và ODA ) nên khi nguồn vốn này giảm sút dễ gây những ảnh hưởng
tiêu cực đến nền kinh tế. Mặt khác cán cân thanh toán vãng lai thâm hụt kéo dài trong
nhiều năm ở mức cao ( khoảng 8% so với GDP ) đã gây sức ép đến tỷ giá hối đoái và
tăng dư nợ nước ngoài của Việt nam.
Bảng thâm hụt cán cân thanh toán từ năm 1995-1998
Năm
1995
1996