BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
^ U ]
B
B
Á
Á
O
OC
C
Á
Á
O
OC
G
I
I
A
AS
S
Ú
Ú
C
CG
G
I
I
A
AC
C
Ầ
Ầ
M
M
Ẩ
N
NĐ
Đ
O
O
Á
Á
N
NV
V
I
I
R
R
U
U
S
SL
L
Ở
B
B
Ằ
Ằ
N
N
G
GK
K
Ỹ
ỸT
T
H
H
U
U
Ậ
Ậ
T
TE
NỘI DUNG I. Đặt vấn đề
II. Khái niệm
III. Tình hình bệnh LMLM ở nước ta
IV. Thiệt hại do bệnh LMLM gây ra
V. Virus LMLM
1. Hình thái
2. Cấu trúc kháng nguyên
3. Sức đề kháng
VI. Một số đặc điểm dịch tễ học
1. Động vật cảm nhiễm
2. Đường xâm nhập của virus
3. Đường truyền lây
4. Chất chứa và thải virus
VII. Cách sinh bệnh
VIII. Triệu chứng và bệnh tích
1. Triệu chứng
Thể thông thường
Thể biến chứng
Thể ác tính
2. Bệnh tích
IX. Phân loại và biến chủng virus
X. Chẩn đoán
1. Phân lập virus
2. Các phản ứng huyết thanh lọc
XI. Một số biện pháp phòng trị bệnh
XII. Kết luận
U Tài liệu tham khảo:
trong chăn nuôi và gieo trồng. Bệnh LMLM lây lan rất nhanh, rất mạnh và
r
ất rộng, là bệnh cấp tính đối với tất cả các loài động vật hai móng hoang dã
và gia súc.
Bò, trâu, dê, cừu, lợn là các loài thường bị nhiễm bệnh nhiều nhất. Bò
thường mắc bệnh nhiều hơn trâu, ngựa hầu như không mắc bệnh. Tỷ lệ mắc
bệnh có thể đạt gần 100% và gây ra ổ dịch trong một vùng rộng lớn. Tỷ lệ
chết thường là thấp khoảng 2 - 5 % ở gia súc trưởng thành, ở
gia súc non
như bê, nghé, lợn con tỷ lệ chết cao từ 20 - 50%. Mặc dù bệnh xuất hiện như
là bệnh nhẹ, thường gây tử vong thấp, ngoại trừ ở con vật non hay suy
nhược nhưng sự thiệt hại về kinh tế là rất quan trọng.
II. Khái niệm:
Bệnh LMLM là bệnh truyền nhiễm do virus thuộc họ Picornaviridae gây
nên. Bệnh có đặc điểm sốt, nổi bọng nước ở niêm mạc miệng, da móng, gờ
móng kẻ móng và trên đầu vú, bầu vú con cái của tất cả loài thú có móng
chẻ, gia súc cũng như thú hoang dã.
Bệnh có tính chất dịch lớn, lây lan rất nhanh và rất mạnh gây thiệt hại lớn về
kinh tế.
Mô hình dịch lở mồm long móng
Virus
lở mồm long móng
Gia súc mẫn cảm
bệnh lở mồm long
món
g
Kiểm soát vận chuyển qua biên
giới quốc gia và vùng thiếu hiệu
quả
nguyên
-Thao tác tiêm phòng
Một số hình ảnh LMLM Phát hiện 200 con heo bị lở mồm long móng
Ở Việt Nam, dịch LMLM được phát hiện lần đầu tiên năm 1868 tại
Nha Trang. Sau đó bệnh đã xảy ra ở nhiều tỉnh Nam Bộ (1920), Quảng Ngãi
(1937-1940), Thừa Thiên (1952), các tỉnh phía Nam và phía Bắc Trung Bộ
(1953-1954), bệnh c
ũng đã được phát hiện tại 11 tỉnh từ Việt Bắc, Tây Bắc
vào đến Nghệ An, Hà Tĩnh và thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định. Ở
các tỉnh phía bắc từ 1954-1960 đã có 724 ổ dịch LMLM xảy ra, 13.000 trâu
bò mắc bệnh trong đó bị chết 417 trâu bò. Thời gian gần đây bệnh có xu
hướng gia tăng do vận chuyển gia súc qua biên giới Lào và Campuchia.
Bệnh dịch gia tăng cả về phạm vi lây lan, quy mô số đầu gia súc bị b
ệnh,
loại gia súc bị bệnh, thời gian kéo dài.
Bệnh xảy ra gây thiệt hại về kinh tế của Nhà nước và của nhân dân, phải
đình chỉ việc mua bán vận chuyển, giết mổ động vật, ảnh hưởng lớn đến việc
phát triển chăn nuôi và sức kéo cho trồng trọt.
Từ năm 1965 đến nay, do áp dụng các biện pháp tích cực phòng chống bệnh
nên đã không thấy dịch LMLM ở các tỉnh phía Bắc. Nhưng các tỉnh phía
Nam bệnh LMLM vẫn còn lưu hành
ở một số tỉnh miền Trung, miền Nam
và miền Bắc gây thiệt hại cho đàn trâu, bò và lợn. Năm 2005, chính phủ đã
phê duyệt chương trình phòng, chống bệnh LMLM quốc gia giai đoạn 2006-
2010 với mục tiêu khống chế bệnh LMLM, từng bước đi đến thanh toán
bệnh này ở Việt Nam.
IV. Thiệt hại do bệnh LMLM gây ra
¾ Bệnh LMLM thường gây nên những hậu quả ngiêm trọng về các
mặt kinh tế, xã hội và bảo vệ môi sinh.
¾ Bệnh lây lan rất nhanh làm cho nhiều loại gia súc như trâu, bò,
lợn, dê…của nhiều gia đình, trong nhiều huyện, nhiều tỉnh bị
nhiễm bệnh trong một thời gian ngắn - đàn gia súc sẽ giảm rất
nhanh về số đầu con và năng suất chăn nuôi. Sức sinh sản của gia
capside, kết dính ARN virus với mặt trong của hộp protein (tức capside).
VP1 ở ngoài cùng tham gia trong việc cố định virus trên những tế bào và tạo
nên một trong những yếu tố cấu trúc sinh miễn dịch căn bả
n.
3. Sức đề kháng
¾ Virus LMLM không có vỏ bọc, do đó chúng có sức đề kháng cao
đối với các dung môi hữu cơ ( cồn, ete…). Tuy nhiên virus
LMLM mẫn cảm với ánh sáng mặt trời, acid, formol…Virus bền
vững trong khoảng pH = 7 – 7.7, nhanh chóng bị vô hoạt ở độ pH
cao hoặc thấp (pH <2 và pH>11). Virus mất hoàn toàn khả năng
gây nhiễm ở pH dưới 6. Như thế thịt chín mềm (do hình thành
acid lactic) có thể phá hủy nhanh chóng virus và có thể thu hồi
thịt từ thú bị LMLM để chế biến dưới vài đi
ều kiện (không vấy
nhiễm cơ sở chế biến, loại bỏ xương, khử mỡ).
¾ Virus kém chịu nhiệt. Đun 60-70
0
C virus chết sau 5-10 phút, đun
sôi 100
0
C virus chết ngay. Trong mặt đất ẩm virus có thể duy trì
độc lực đến 42 ngày về mùa hè, 146-163 ngày về mùa đông.
Trong tủy xương, nước bọt, phủ tạng virus có thể sống 40 ngày.
Virus có thể tồn tại lâu trong da muối và thịt đông lạnh.
Để tồn trữ virus người ta dùng glycerin 50%. Để diệt virus
trên cơ thể con vật, nên dùng các loại acid nhẹ như dấm ăn,
phèn chua, chanh, khế, acid lactic…
VI. Một số đặc điểm dịch tễ học
1. Động vật cảm nhiễm
Virus LMLM gây bệnh tự nhiên ở các loài vật có móng guốc chẵn
Virus có thể xâm nhập từ hệ tuần hoàn của thú mẹ vào phôi thai, do hít phải
bụi chứa virus ở những nơi ô nhiễm.
4. Chất chứa và thải virus
Virus chứa nhiều nhất trong mụn nước sơ phát nhưng sẽ không còn độc
lực vào ngày thứ 4 sau khi vỡ ra. Virus được thải ra ngoài qua nước miếng
lẫn nước mụn và mảnh ngoại bì của mụn bị vỡ ra trên niêm mạc lưỡi và
miệng. Mụn nước ở chân, đầu vú và các nơi khác như sữa, nước tiểu… thì
chứa ít virus hơn.
VII. Cách sinh bệnh
Trong tự nhiên thời kì nung bệnh từ 2-7 ngày, có khi chỉ trong 24 giờ
hoặc kéo dài đến 11 ngày. Theo OIE thời gian nung bệnh tối đa là 21 ngày,
đặc biệt đối với typ A thì chỉ có thể tìm được virus sau khi thú mắc bệnh
được 3 tuần. Nếu gia súc đã được tiêm phòng hay có miễn dịch rồi thì thời
gian nung bệnh dài hơn, có thể chỉ phát hiện được sau 20 ngày. Trong đàn
giai đoạn ủ bệnh của các trường hợp điển hình có thể kéo dài (2-10 ngày),
tuy nhiên một khi b
ệnh đã lập lại vài lần thì thời gian ủ bệnh sẽ ngắn hơn.
Đặc biệt trong các trường hợp nhốt chật thời gian ủ bệnh sẽ ngắn hơn. Ngoài
ra thời gian nung bệnh còn khác nhau phụ thuộc chính vào chủng virus, số
lượng virus và con đường xâm nhập. Với những đường tự nhiên, số lượng
virus nhiều thì thời gian ủ bệnh có thể ngắn (2-3 ngày) nhưng lên tới 10-16
ngày khi ít virus.
Virus xâm nhập cơ th
ể qua đường tiêu hóa, hô hấp hoặc qua các tổn thương
ở da. Trước tiên virus nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa hoặc
của da, gây thủy thủng một số tế bào này và hình thành mụn nước sơ phát.
Sau đó virus phân tán vào máu gây nhiễm virus máu, thú sốt cao, lúc này
virus đã có khả năng lây nhiễm qua thú khác bằng các hạt khí dung. Virus
theo máu đến các cơ quan phủ tạng gây bệnh toàn thân. Đến cuối giai đoạn
sốt, virus nhân lên ở tế bào đang phân chia mạnh và gây nên các mụn nước
vú, ở đầu núm vú … Thú giảm sản lượng sữa, sau sữa đổi thành màu
vàng, vắt sữa khó gây viêm vú.
• Sau khi hàng loạt mụn nước vỡ dần s
ẽ dẫn đến nhiễm trùng máu,
nhiễm trùng da, thú sốt cao, suy nhược dần.
1.2. Thể biến chứng
• Những biến chứng xảy ra khi điều kiện vệ sinh, chăm sóc kém làm
mụn vỡ dẫn đến nhiễm trùng, chân bị long móng, thối móng, thối
xương làm thú què. Vú thì bị viêm tắt sữa. Các mụn khác vỡ sẽ gây
nhiễm vi khuẩn kế phát, bại huyết.
• Bệnh lỡ mồm long móng ghép với các bệnh ký sinh trùng hay vi
khuẩn khác có sẵn trong máu (tiêm mao trùng, lê dạng trùng ) có thể
làm con vật mau chóng chết.
1.3 Thể ác tính
Trên bê nghé ngoài triệu chứng sốt cao, thú bị tiêu chảy và chết đột
ngột trước khi xuất hiện các mụn nước ở thượng bì do viêm ruột cấp tính,
viêm phổi cấp hoặc viêm cơ tim cấp tính.
2. Bệnh tích
Bệnh tích của bệnh LMLM chủ yếu nằm ngoài cơ thể, ở da, niêm mạc.
Đó chính là những mụn nước trên cơ thể, có thể khỏi một cách nhanh chóng
trừ khi bị phụ nhiễm.
Bệnh tích bên trong chủ yếu là hoại tử các cơ bắp, cơ tim, viêm cơ tim cấp,
tim mềm nhạt, dễ vỡ, có những đốm xám đỏ hay vàng do thoái hóa cơ nên
được gọi là bệnh tim hổ, đây là bệnh tích có ý nghĩa quan tr
ọng trong kiểm
soát giết mổ. Ngoài ra có thể gặp những biểu hiện của bại huyết, viêm màng
phổi - phổi, viêm dạ dày - ruột cấp tính.
IX. Phân loại và biến chủng virus
Có 7 typ virus LMLM là: O, A, C, SAT 1, SAT 2, SAT 3, Asia 1; chúng
gây những triệu chứng lâm sàng giống nhau nhưng không gây miễn dịch cho
có triệu chứng tương tự (Trần Đình Từ, 1998; Kitching, R.P. và ctv, 2002).
Ở trâu bò, bệnh viêm miệng mụn nước (vesicular atomati) rất giống bệnh lở
mồm long móng, ở lợn, ngoài hai bệnh trên, còn có hai bệnh nữa là bệnh
mụn nước ở lợn (swine vesicular disease, SVD) và bệnh bọng nước ban đỏ
(vesicular exanthema of swine, VES) tuy khác căn nguyên nhưng lại có triệu
ch
ứng lâm sàng giống nhau.
Để chuẩn đoán phân biệt 4 bệnh này, bước đầu có thể sử dụng phương pháp
đơn giản dựa vào loài cảm thụ. Địa dư bệnh lý (Trần Thanh Phong, 1996;
Trần Đình Từ, 1998).
Sự phát hiện sớm gia súc nhiễm bệnh và đúng bệnh, nếu có thể ngay trước
khi xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng là các yếu tố chủ yếu cho sự khống chế
bệnh hiệu quả
, ngăn chặn bệnh lây lan. Điều đó đòi hỏi phải có phương pháp
chẩn đoán nhanh, nhạy đặc hiệu, chính xác, có thể cho kết quả trong vòng 24
giờ. Hơn nữa, sự xác định kịp thời týp đặc hiệu của virus thực địa và đặc
tính phân tử của nó là rất cần thiết để thực hiện tim phòng khẩn cấp với
kháng nguyên tương ứng và để đánh dấu nguồn g
ốc của ổ dịch (Callens, M.
và cvt, 1997; Reid, S. M. và cvt, 1998, 2002; Re1mond, M. và cvt, 2002;
Anon, 2002).
Nhiều kĩ thuật phân tích khác nhau đã được sử dụng để phát hiện acid
nucleic virus, kháng nguyên, và sự đáp ứng miễn dịch của vật chủ, bao gồm
kết hợp bổ thể (complement fixation), trung hòa virus (virus neutralization),
ELISA (enzyme _ linked immunosorbent assay), RT _ PCR
(reverse transcription polymerase chain reaction), việc xác định trình tự và
nhân lên của chuỗi acid nucleic (nucleic acid sequence _ based
amplification, NASBA), (Anon, 2000, 2002; Collins, R.A. và cvt, 2002;
Feng, Q., 2003).
1. Phân lập virus
để phát hiện động vật mang trùng dai dẳng.
Quá trình nghiên cứu trâu bò nhiễm bệnh kéo dài bằng cách thu thập những
mẫu probing (chỉ ở niêm mạc) từ
họng đã được phát triển ở Hà Lan năm
1959 (Bekkum, 1959) và được áp dụng như một phương pháp thường quy ở
hầu hết các quốc gia khác đối với ổ dịch LMLM. Dịch và mảnh vụn từ hầu
và phía trên thực quản (oesophagus, OP fluid) được lấy bằng một cái chén
nhỏ nối với tay cầm bằng sắt (vì vậy được gọi là probing hay chén probang)
được Grac và Tallgren sử dụng đầu tiên (Sutmoller, P. và Cottral, G.E.,
1967; Hedger, R.S. và Sutbbins, 1971).
2. Phản ứng huyết thanh lọc
Kỹ thuật ELISA
ELISA là một phân tích sử dụng kháng thể để nhận diện protein. Ở đây
kháng thể đặc hiệu cho kháng nguyên.
Biện pháp thích hợp để phát hiện kháng nguyên của virus LMLM là giám
định các serotype của virus là phương pháp ELISA. Đây là phản ứng
sandwich gián tiếp trong đó sử dụng kháng huyết thanh của thỏ kháng lại
từng serotype của virus LMLM làm kháng thể bắt, và kháng huyết thanh của
chuột lang kháng lại từng serotyp của virus LMLM làm kháng thể nhận
diện. Kháng thể
phát hiện là huyết thanh của bò kháng chuột lang gắn với
enzyme (OIE, 20000; Tô Long Thành, 2000).
Nguyên lí:
Thông thường sự kết hợp kháng nguyên – kháng thể không thể phát hiện
bằng mắt thường. Kĩ thuật ELISA đã lợi dụng đặc tính hấp thụ tự nhiên của
protein lên polyethylene để gắn kháng nguyên hoặc kháng thể lên giá (bề
mặt đĩa nhựa) rồi cho kháng nguyên hoặc kháng thể tương ứng có đánh dấu
enzyme vào tạo phản ứng. Sau khi loại bỏ chất đánh dấu không kết hợp, cho
thêm vào hỗn dịch chất hiện màu. Nhờ hoạt tính xúc tác của enzyme làm
• Các biện pháp kết hợp: tùy vào điều kiện dịch tễ tự nhiên,
kinh tế xã hội của từ
ng khu vực, từng quốc gia có bệnh
LMLM mà có những biện pháp phù hợp nhưng tập trung
thực hiện những biện pháp tổng hợp sau:
9 Tăng cường hệ thống thú y từ trung ương đến địa
phương, đào tạo thú y viên cơ sở có đủ trình độ phát
hiện và chẩn đoán nhanh, chính xác bệnh LMLM.
9 Tăng cường khả năng chẩn đoán lâm sàng và chẩn
đoán trong phòng thí nghiệm. Phải xác đị
nh được
nguồn virus và xác định được serotype.
9 Thực hiện tiêm phòng gồm tiêm phòng bao vây khi
có dịch xảy ra và tiêm phòng hàng năm tại các vùng
có dịch cũ.
9 Khống chế chặt chẽ từng ổ dịch không để lây lan,
tăng cường kiểm soát gia súc, người, vật dụng, thức
ăn chăn nuôi…ra vào vùng dịch.
9 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh trong từng
giai đoạn, xác định các yếu tố nguy cơ, nắm được
các đặc điểm của bệnh để có biện pháp khống chế.
9 Giám đị
nh chất lượng vaccine về hiệu lực và chủng
loại.
9 Tiêu độc sát trùng nghiêm ngặt.
9 Xác định thời gian khống chế bệnh và các biện pháp
kỹ thuật, chính sách đầu tư…thực hiện trong thời
gian đó.
9 Có chương trình hợp tác quốc tế chặt chẽ nhất là với
các nước trong khu vực.
lần/năm.
Đối với thú nhai lại (trâu, bò, dê,
cừu): sử dụng vaccin AFTOVAX.
Đối với heo: sử dụng vaccin
AFTOPOR.
Điều trị:
Tiêu độc và sát trùng chuồng trại và khu vực xung quanh bằng cách
hàng ngày phun xịt thuốc sát trùng Biodine với nồng độ pha loãng 1/200,
liên tục cho đến 2 tuần sau khi gia súc được chữa khỏi bệnh.
Việc điều trị chủ yếu là chữa trị các triệu chứng (các vết thương ở miệng,
vùng rìa móng, giảm sốt…) và sử dụng các loại kháng sinh để ngăn ngừa
phụ nhiễm và các biến chứng xảy ra trên gia súc.
XII. Kết luận:
Bệnh lở mồm long móng là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của gia súc
lây lan nhanh, rất mạnh và rất rộng là bệnh cấp tính đối với tất cả các loài
động vật hai móng hoang dã và gia súc. Bệnh gây thiệt hại lớn cho ngành
chăn nuôi giảm sút sức cày kéo, ảnh hưởng trực tiếp đến ngành trồng trọt,
năng suất cây trồng do thiếu sức kéo, chậm thời vụ gieo trồng và gây hậu
quả nghiêm trọng về kinh t
ế, xã hội bảo vệ môi trường đe dọa trực tiếp đến
sức khoẻ con người vì vậy ta phải có biện pháp phòng và trị thích hợp tăng
cường công tác kiểm dịch động vật và sản phẩm, tiêm phòng bằng văcxin để
bảo vệ và cung cấp nguồn sức kéo cũng như nguồn thực phẩm an toàn cho
người sử dụng và cho xuất khẩu.
Một số đề suấ
t:
¾ Đề nghị các hộ chăn nuôi nên liên hệ với cán bộ kỹ thuật viên
nông nghiệp tại địa phương hoặc các Trạm Thú Y huyện,
thành thị để được hướng dẫn cụ thể và tiêm phòng cho gia súc
MỒM LONG MÓNG VÀ BỆNH NHIỆT THÁN Ở GIA SÚC. NHÀ XUÁT
BẢN NÔNG NGHIỆP.
4. HUỲNH THỊ THANH THỦY, 5/2003. VÀI ĐẶC ĐI
ỂM DỊCH TỄ HỌC
CỦA BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÊN TRÂU, BÒ, HEO TẠI TP.
HỒ CHÍ MINH. LUẬN ÁN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP. TP
HỒ CHÍ MINH.
5. VÕ THỊ THU THỦY –TPHCM, 2005. KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CHĂN
NUÔI VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA KHÁNG THỂ SAU KHI TIÊM PHÒNG
BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG Ở HEO VÀ BÒ TRÊN MỘT SỐ HỘ Ở
HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU CHUYÊN NGÀNH
THÚ Y. TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM TPHCM.
6. BS. VĂN ĐĂNG KỲ,1999. KỸ THUẬT PHÒNG CHỐNG B
ỆNH LỞ
MỒM LONG MÓNG VÀ BỆNH NHIỆT THÁN Ở GIA SÚC. NHÀ XUẤT
BẢN NÔNG NGHIỆP.
7. WWW.GOOGLE.COM.VN