1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG NGUYỄN ĐỨC MẠNH
CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ 3G
CHO THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.05 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
HÀ NỘI, NĂM 2011
2
Luận văn được hoàn thành tại
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Trên phạm vi thế giới, 3G bắt đầu được đưa vào khai thác thương mại một
cách rộng rãi kể từ 2001 với quốc gia thành công đầu tiên là Nhật Bản. Kể từ đó
đến nay đã có thêm rất nhiều quốc gia khác nghiên cứu và đưa 3G vào ứng dụng
trong đời sống hàng ngày.
Tại Việt Nam, cuộc thi tuyển cấp phép 3G do Bộ Thông tin và Truyền thông
tổ chức vào tháng 2/2009 đã chọn lựa ra 4 doanh nghiệp có tiềm năng, hứa hẹn
thúc đẩy thị trường dịch vụ 3G sẽ phát triển sôi động trong thời gian tới. Tính đến
thời điểm hiện tại, cả bốn nhà mạng được cấp giấy phép 3G gồm Vinaphone,
Mobifone, Viettel và liên minh EVN Telecom và Hanoi Telecom đều đã chính
thức triển khai cung cấp dịch vụ 3G cho khách hàng của mình trên phạm vi cả
nước theo đúng cam kết.
Tuy nhiên, 3G ở Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Các
hình thức sử dụng 3G tương đối đa dạng nhưng sự phát triển của 3G vẫn chưa
tương xứng với tiềm năng đầu tư. Bên cạnh đó, cho đến nay chưa có tài liệu
nghiên cứu khoa học nào đánh giá cụ thể về sự phát triển cũng như các kết quả
đạt được của 3G tại Việt Nam. Mặt khác, cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh
vực, cụ thể là Bộ Thông tin và Truyền thông cũng chưa xây dựng một chính sách
cụ thể nào để thúc đẩy sự phát triển 3G tại Việt Nam. Chính vì thế, cần có cơ chế,
chính sách ra sao để thúc đẩy 3G phát triển tại thị trường viễn thông Việt Nam là
một bài toán đòi hỏi phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng để có lời giải đáp thỏa đáng.
Đây cũng chính là lý do em chọn thực hiện đề tài “Chính sách thúc đẩy phát triển
dịch vụ 3G cho thị trường viễn thông Việt Nam” làm luận văn Thạc sỹ chuyên
ngành Quản trị kinh doanh tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng phát triển cũng như những bất cập trong quá trình phát
triển 3G tại Việt Nam; từ đó đề xuất chính sách thúc đẩy phát triển 3G cho
thị trường viễn thông Việt Nam.
- Xây dựng tư liệu tham khảo mang tính khoa học phục vụ cho công tác tham
mưu hoạch định chính sách, ban hành cơ chế quản lý của cơ quan quản lý
chuyên ngành, đồng thời là cơ sở tham khảo hữu ích cho các doanh nghiệp
năm 1979. Đây là hệ thống truyền tín hiệu tương tự (analog). Tuy chưa hoàn hảo
về mặt công nghệ và kỹ thuật, thế hệ thông tin di động 1G này thực sự là một mốc
phát triển quan trọng của ngành viễn thông. Những điểm yếu nổi bật của thế hệ
1G liên quan đến chất lượng truyền tin kém, vấn đề bảo mật và việc sử dụng tài
nguyên tần số kém hiệu quả.
Thế hệ thứ hai (2G): Đến những năm 1980 hệ thống thông tin thế hệ thứ
nhất đã trở nên quá tải khi nhu cầu về số người sử dụng ngày càng tăng lên, là
động lực cho sự ra đời của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 2. Hệ thống
mạng 2G được đặc trưng bởi công nghệ chuyển mạch kỹ thuật số (digital circuit-
switched). Kỹ thuật này cho phép sử dụng tài nguyên băng tần hiệu quả hơn nhiều
so với 1G. Hầu hết các thuê bao di động trên thế giới hiện đang dùng công nghệ
2G này.
Thế hệ di động thứ ba (3G):
Sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ dữ liệu đã đặt ra các yêu mới đối
với công nghệ viễn thông di động. Thông tin di động thế hệ thứ hai mặc dù sử
dụng công nghệ số nhưng là hệ thống băng hẹp và được xây dựng trên cơ chế
chuyển mạch kênh nên không thể đáp ứng được yêu cầu về băng thông của các
dịch vụ mới. Trong bối cảnh đó ITU đã đưa ra đề án tiêu chuẩn hóa hệ thống
thông tin di động thế hệ thứ 3 với tên gọi IMT-2000. IMT-2000 đã mở rộng đáng
kể khả năng cung cấp dịch vụ và cho phép sử dụng nhiều phương tiện thông tin.
Mục đích của IMT-2000 là đưa ra nhiều khả năng mới đồng thời đảm bảo sự phát
triển liên tục của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai (2G) vào những năm
2000. IMT-2000 sau này được gọi là 3G, và điểm nổi bật nhất của mạng 3G so
với mạng 2G nằm ở khả năng cung ứng truyền thông gói tốc độ cao nhằm triển
khai các dịch vụ truyền thông đa phương tiện trên mạng di động.
Do có nhiều chuẩn công nghệ cho 2G nên sẽ có nhiều chuẩn công nghệ 3G đi
theo, tuy nhiên trên thực tế chỉ có 02 tiêu chuẩn quan trọng nhất đã có sản phẩm
thương mại và có khả năng được triển khai rộng rãi trên toàn thế giới là WCDMA
và CDMA 2000.
Cùng với đó, Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) đã và đang làm việc để
Cụ thể hơn, thuật ngữ 3G là viết tắt của “third generation - thế hệ thứ 3” và
dịch vụ 3G biểu thị cho công nghệ truyền thông dữ liệu đa phương tiện và thoại
tốc độ cao, cho phép các thiết bị di động có thể kết nối Internet băng rộng mà
không phải ở gần điểm phát sóng (wireless hotspot).
Phân loại dịch vụ 3G
Có nhiều cách phân loại dịch vụ 3G tùy theo mục đích và nhu cầu của đối
tượng thực hiện. Qua điều tra của một số hãng nghiên cứu thị trường, nổi lên một
vài xu hướng cho dịch vụ 3G Việt Nam: Social Media (Facebook, Blog), Mobile
Broadband, Mobile TV, điện thoại truyền hình, nhạc mobile và dịch vụ định vị
toàn cầu.
Theo các xu hướng này, có bảy nhóm dịch vụ mà các nhà cung cấp có thể
chia thành bảy gói dịch vụ: Gói dịch vụ truy nhập Internet – Mobile Broadband;
Gói truyền thông xã hội – Email, Mobile chat, chia sẻ dữ liệu; Gói dịch vụ giải trí
– Mobile TV, mobile music, nhạc chờ; Gói dịch vụ Everyday Life – quảng cáo
qua mobile, dịch vụ thông tin, lưu trữ liên lạc; Gói dịch vụ liên lạc – Video
7
Telephony, push to talk; Gói dịch vụ định vị; Gói dịch vụ kinh tế: thanh toán qua
mobile, chuyển tiền qua mobile, ví tiền mobile, dịch vụ tài chính qua mobile.
1.1.3. Sự cần thiết phát triển 3G tại Việt Nam
Vai trò của thông tin, truyền thông nói chung và 3G nói riêng đối với sự
phát triển kinh tế, xã hội
Vai trò của viễn thông nói chung đã được khẳng định trong tư tưởng chỉ đạo
của Đảng, Nhà nước và thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn
bản chỉ đạo điều hành chuyên ngành.
Trên thực tế, sau 10 năm phát triển (2000 - 2010), lĩnh vực công nghệ thông
tin và truyền thông Việt Nam đã có những thay đổi vượt bậc, và đạt được nhiều
kết quả ngoạn mục, trở thành ngành kinh tế-kỹ thuật rất quan trọng của đất nước,
có mức tăng trưởng hàng năm gấp từ 3-4 lần mức tăng trưởng GDP và đóng góp
khoảng 6,7% GDP của cả nước. Mục tiêu đến năm 2020, tỷ trọng CNTT-TT đóng
Mở cửa thị trường là một chính sách hết sức quan trọng bởi Việt Nam đã
chính thức tham gia các tổ chức khu vực cũng như quốc tế là ASEAN, APEC,
WTO. Hầu hết những nước thành viên thuộc các tổ chức này đều đi theo nền kinh
tế thị trường cạnh tranh ở mức độ cao. Điều đó đã đặt ra đòi hỏi các doanh nghiệp
Việt Nam cần phải chủ động phát triển các nguồn lực đặc biệt là nguồn nhân lực,
nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể hội nhập thành công với nền kinh tế khu
vực cũng như thế giới.
Tuy nhiên việc mở cửa thị trường cần được thực hiện theo một lộ trình khoa
học phù hợp với từng giai đoạn phát triển và điều kiện của Việt Nam. Lộ trình mở
cửa này tuân theo nguyên tắc sau: mở cửa cạnh tranh đối với các dịch vụ viễn
thông trong nước trước rồi mới đến các dịch vụ viễn thông quốc tế. Cũng tương
tự như vậy thực hiện cạnh tranh đối với các dịch vụ gia tăng giá trị trước và các
dịch vụ cơ bản sau, đồng thời cũng mở các dịch vụ di động trước rồi mới đến các
dịch vụ cố định.
1.2.2. Chính sách cổ phần hóa
Nhằm phát huy nội lực, chính phủ Việt Nam có chính sách khuyến khích sự
tham gia của các thành phần kinh tế vào việc phát triển công nghiệp viễn thông
đất nước. Để có thể huy động được vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác
nhau, chính phủ đã cho phép cổ phần hóa một số công ty và doanh nghiệp nhà
nước trong lĩnh vực bưu chính viễn thông. Cán bộ công nhân viên thuộc các công
ty và doanh nghiệp này được ưu tiên mua cổ phiếu do công ty hay doanh nghiệp
của họ phát hành. Điều này tạo điều kiện cho người lao động trở thành những chủ
sơ hữu của doanh nghiệp và như vậy sẽ dễ dàng nâng cao được hiệu quả hoạt
động của các doanh nghiệp đó.
Thông qua tiến trình cổ phần hóa, Việt Nam cũng khuyến khích các thành
phần kinh tế khác nhau của đất nước tham gia xây dựng hạ tầng cơ sơ thông tin
quốc gia. Các nguồn lực và vốn đầu tư cần được huy động trong toàn quốc và từ
các nhà đầu tư nước ngoài phục vụ cho việc phát triển hạ tầng cơ sơ thông tin và
các ứng dụng cũng như dịch vụ trên đó.
- Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy nâng cao chất lượng dịch vụ
- Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy các nhà khai thác giảm giá cước dịch vụ để
hấp dẫn khách hàng
10
Chương 2
HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN 3G TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC CHÍNH SÁCH
ĐÃ ĐƯỢC XÂY DỰNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN 3G
2.1. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN VIỄN THÔNG DI ĐỘNG VÀ 3G TẠI
VIỆT NAM
2.1.1. Hiện trạng phát triển hạ tầng, mạng lưới viễn thông di động
Hạ tầng mạng viễn thông di động là một phần của hạ tầng mạng viễn thông
nói chung. Ở Việt Nam hiện nay, ngoài hạ tầng mạng viễn thông dùng riêng phục
vụ an ninh, quốc phòng và các cơ quan Đảng, Nhà nước thì hạ tầng mạng viễn
thông công cộng trong đó có liên quan tới mạng di động bao gồm:
- Mạng truyền dẫn quốc tế
- Mạng truyền dẫn trong nước
- Mạng chuyển mạch
- Mạng truy nhập
Trực tiếp liên quan đến hạ tầng mạng di động, tính đến hết quý II/ 2010, cả
nước có hơn 76.000 trạm BTS, trong đó số trạm BTS 2G chiếm khoảng 74,4% và
còn lại là trạm BTS 3G. Vùng phủ của sóng di động 2G đã đạt 95% theo diện tích
và 100% theo dân cư, cung cấp dịch vụ tại 63/63 tỉnh thành cả nước. Bên cạnh đó,
mạng di động 3G mặc dù mới được triển khai xây dựng chưa lâu nhưng đã đạt
được một số kết quả nhất định: vùng phủ sóng 3G đạt 85% diện tích lãnh thổ và
phủ tới gần 90% dân cư.
Bảng 2.1: Hiện trạng phát triển hạ tầng mạng viễn thông di động
TT
Chỉ tiêu
có 2.500 trạm. Lãnh đạo của Viettel cho biết, đến cuối năm 2010, số trạm BTS
NodeB của doanh nghiệp này sẽ đạt con số 17.000 trạm và bước tiếp theo Viettel
sẽ lắp thêm 10.000 trạm BTS 3G và nâng số trạm BTS 3G của mạng này lên con
số 27.000 trạm vào quý I/2011.
Vùng phủ sóng 3G của các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam tính đến hết
quý II/2010 đã đạt 85% theo dân cư và đạt gần 90% theo diện tích.
2.1.3.2. Hiện trạng phát triển dịch vụ và thuê bao 3G
Đến thời điểm hiện tại, tất cả các nhà mạng được cấp giấy phép 3G đều đã
cung cấp dịch vụ một cách thương mại hóa đến người dùng trên cả nước. Tuy
nhiên, hầu hết những dịch vụ 3G đang được ưa chuộng và dùng nhiều hiện nay là
những dịch vụ không mất phí, giá trị gia tăng thấp (truy cập thông tin, mạng xã
hội, giải trí…); những dịch vụ có giá trị gia tăng cao, đem lại tiện ích góp phần
nâng cao chất lượng cuộc sống người dân thì chưa được chú ý (cụ thể là nhóm
dịch vụ ít/chưa hình thành thị trường như ở bảng dưới đây). Bên cạnh đó, các dịch
vụ 3G mới chủ yếu phát triển tại khu vực thành thị còn khu vực nông thôn cũng
như vùng xa, biên giới, hải đảo có tỉ lệ rất nhỏ thuê bao sử dụng dịch vụ 3G.
Trong khi nông thôn là mảng thị trường còn nhiều tiềm năng cho 3G phát triển,
do vậy các doanh nghiệp viễn thông cũng như cơ quan quản lý có thể cần chú ý
hơn tới thì trường này để tìm ra lời giải tốt nhất cho bài toán 3G tại Việt Nam.
Bảng 2.3: Thống kê dịch vụ 3G tại Việt Nam
Nhóm dịch vụ
đã hình thành thị trường
Nhóm dịch vụ
chưa (ít) hình thành thị trường
• Truy cập, tìm kiếm thông tin:
phần lớn là miễn phí nội dung
• Truyền thông xã hội (email, chat,
blogs, mạng xã hội…): phần lớn
là miễn phí nội dung
• Giải trí (music, game, rington,
Nếu tính theo kiểu các thuê bao phải đạt mức cước nhất định nào đó (chẳng
hạn 20.000 – 30.000 đồng/tháng) liên tục trong các tháng thì số thuê bao 3G của
Việt Nam thấp hơn nhiều so với con số 7 triệu. Mới đây nhất, theo một nguồn tin
từ phía các doanh nghiệp viễn thông, tính đến hết tháng 5/2011, tổng số thuê bao
3G của Việt Nam đạt khoảng 8 – 10 triệu. Tuy nhiên, kết quả này vẫn chưa được
kiểm định cũng như công bố chính thức từ phía cơ quan quản lý.
2.2. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN 3G CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN
THẾ GIỚI
2.2.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản
2.2.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
2.2.3. Bài học áp dụng cho Việt Nam
2.2.3.1. Bài học về sự thành công trong triển khai các dịch vụ 3G
Internet là kho tàng nội dung hết sức phong phú mà các nhà cung cấp dịch vụ
di động ít phải đầu tư xây dựng. Nhà mạng/nhà cung cấp nội dung cần nắm bắt
được những nhu cầu thông tin của khách hàng, từ đó định hướng đối với nội dung
mình cung cấp. Đồng thời, nhà mạng cũng cần biết cách tạo ra sự hấp dẫn đối với
cổng thông tin portal của mình và có thể tự sản xuất các dịch vụ nội dung.
Trong môi trường 3G, thoại và SMS vẫn là những ứng dụng chủ đạo và dịch
vụ thoại có hình Video Telephony không phải là “killer application” như kết quả
của các cuộc điều tra thị trường được tiến hành trước khi các dịch vụ 3G đi vào
thương mại hóa.
Các nhà cung cấp dịch vụ di động có thể đặt hàng nhà sản xuất điện thoại
những mẫu được thiết kế sẵn nút truy cập nhanh (cứng hoặc mềm) liên kết trực
tiếp đến portal của nhà mạng.
Cùng với Wifi, 3G tạo ra cơ hội để con người có thể kết nối, truy cập Internet
mọi lúc, mọi nơi. 3G không đơn thuần thay thế cho Wifi, mà là sự bổ khuyết: tại
những khu vực không có sóng hoặc không thể triển khai Wifi-hotspot thì sóng di
động 3G là giải pháp đơn giản, hữu hiệu. Nhờ đó, các dịch vụ dữ liệu sẽ được sử
dụng rộng rãi hơn, linh hoạt hơn và tiết kiệm hơn.
để khắc phục những bất cập trong quá trình phát triển 3G, tạo điều kiện và thúc
đẩy 3G phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam thì về mặt quản lý nhà nước cần có
những chính sách nhất định, bên cạnh các nỗ lực phát triển thị trường của các
doanh nghiệp viễn thông.
14
Chương 3
ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ 3G CHO
THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM
3.1. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN NỀN 3G TẠI VIỆT NAM
Các dịch vụ 3G phổ biến ở Việt Nam hiện nay bao gồm truy cập, tìm kiếm
thông tin, các dịch vụ truyền thông xã hội, dịch vụ giải trí, quảng cáo và lưu trữ
liên lạc. Phần lớn trong số những dịch vụ này hiện tại cho phép khách hàng sử
dụng miễn phí. Những dịch vụ có giá trị gia tăng cao và đóng góp trực tiếp vào
việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì ít được sử dụng thậm chí
chưa hình thành thị trường.
Để thúc đẩy phát triển 3G tại Việt Nam, trong thời gian tới cần hiện thực hóa
và đẩy mạnh hơn nữa việc triển khai các dịch vụ hành chính công, chính phủ điện
tử thanh toán điện tử… đặc biệt là trên nền hạ tầng, công nghệ 3G. Đây là các
nhóm dịch vụ có tiềm năng phát triển lớn, mang tính lâu dài, không chỉ tạo ra sự
phát triển riêng cho 3G mà còn thúc đẩy các lĩnh vực có liên quan như thương
mại điện tử, y tế điện tử, giáo dục điện tử… cùng phát triển. Khái quát hơn và cao
hơn đó là phát triển các dịch vụ M2M (Machines to Machines) trên nền 3G.
Hướng đi này không chỉ phù hợp với xu thế phát triển chung trên thế giới, đồng
thời cũng là định hướng phát triển dịch vụ 3G cho Việt Nam mà luận văn muốn
đưa ra.
Ngoài ra, để thúc đẩy sự phát triển của 3G tại Việt Nam thì cần có chính sách
phổ cập dịch vụ 3G theo vùng, miền, nhất là tại các vùng nông thôn, vùng sâu,
vùng xa, biên giới, hải đảo. Có thể nói đây là một hướng đi khá mạnh dạn và nếu
thực hiện được thì những lợi ích cũng như tác động tích cực đối với chất lượng
quan đô thị.
Một trong các giải pháp để phát triển mạnh trên hạ tầng viễn thông sẵn có là
mở mạch vòng nội hạt (Unbundling local loop). Việc mở mạch vòng nội hạt sẽ
tạo sự cạnh tranh ở mức hạ tầng mạng và đem lại nhiều dịch vụ tiện ích và tiện
nghi cho khách hàng và đặc biệt đối với hạ tầng cáp quang hóa. Nhiệm vụ sắp tới
trong xây dựng chính sách điều tiết sự cạnh tranh lĩnh vực băng rộng chính là mở
mạch vòng nội hạt. Trong vài năm vừa qua, Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu
vấn đề này nhưng hệ thống văn bản ở thời điểm hiện tại chưa cho phép thực hiện
được.
Việc phân bổ tài nguyên một cách công bằng, minh bạch theo hình thức thi
tuyển và đấu thầu cần phải xây dựng một khung pháp lý tương ứng.
Riêng đối với khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, Nhà nước cần có các
chính sách kích cầu đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông và
phổ cập các dịch vụ. Muốn thông tin, truyền thông nông thôn phát triển, Nhà
nước cần thực hiện đồng thời việc khuyến khích đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
đối với các doanh nghiệp và khuyến khích sử dụng dịch vụ đối với người dân,
thực chất là Nhà nước thực hiện kích cầu sản xuất và kích cầu tiêu dùng. Biện
pháp này sẽ tạo ra mối quan hệ thúc đẩy phát triển qua lại giữa phát triển cơ sở hạ
tầng và gia tăng nhu cầu sử dịch vụ.
Hình 3.1: Mô hình kích cầu của Nhà nước
Một số biện pháp kích cầu cụ thể có thể thực hiện bao gồm:
- Cho thuê đất dài hạn với giá hợp lý để xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin,
truyền thông nông thôn.
- Đào tạo nguồn nhân lực thông tin, truyền thông cho nông thôn.
Hỗ trợ của Nhà nước
cho các doanh nghiệp
và người dân
Gia tăng đầu tư
CSHT
Trong giai từ nay đến hết 2013, ưu tiên triển khai các nhóm dịch vụ công
trực tuyến mức độ 3.
Cần đặc biệt cần quan tâm, chú trọng phát triển các dịch vụ công trực tuyến
ứng dụng, hỗ trợ nền tảng di động băng rộng, 3G.
Giai đoạn 2015-2020, cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến
mức độ 3 hoặc 4, người dân và doanh nghiệp có thể trao đổi thông tin, gửi, nhận
hồ sơ, thanh toán phí dịch vụ, nhận kết quả dịch vụ qua mạng.
Bên cạnh đó, hướng tới xây dựng các cơ quan điện tử nhằm nâng cao năng
lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước.
Tăng dần và khuyến khích sử dụng các hình thức truyền thông cơ bản như
thư điện tử, hội nghị, họp truyền hình trực tuyến và đưa thông tin lên các Cổng
thông tin điện tử để trao đổi thông tin ở khoảng cách xa.
Nhóm các dịch vụ thanh toán điện tử:
Trong giai đoạn trước mắt, Việt Nam có thể tập trung vào một số lĩnh vực
sau:
- Thanh toán không dùng tiền mặt cho hải quan điện tử
- Thanh toán không dùng tiền mặt cho dự án thuế điện tử
- Chứng khoán (thanh toán chứng khoán)
17
Bên cạnh đó, khuyến khích việc mua bán hàng trực tuyến của người dân. Với
số lượng giao dịch ngày một tăng sẽ thúc đẩy thanh toán điện tử phát triển và
hoàn thiện.
Nhóm các dịch vụ cung cấp thông tin trực tuyến:
Dịch vụ cung cấp thông tin sẽ hoạt động như một thư viện điện tử trực tuyến.
Yêu cầu về thông tin được gửi đến, qua quá trình xử lý sẽ trả lại kết quả với nội
dung thông tin phù hợp. Để triển khai được dịch vụ này, Việt Nam cần xây dựng
các cơ sở dữ liệu thông tin về những lĩnh vực cung cấp. Trong giai đoạn trước
mắt, Việt Nam sẽ tập trung vào một số lĩnh vực sau: Thông tin về kỹ thuật nông
nghiệp; Thông tin về giao thông; Thông tin về y tế; Thông tin về giáo dục.
Đây là một số nhóm thông tin được quan tâm khá, đặc biệt là người dân tại
hình phát triển thông tin truyền thông nông thôn của các nước.
18
KẾT LUẬN
Luận văn đã đạt được một số kết quả nghiên cứu sau đây:
- Nêu và phân tích một số nét tổng quan về 3G và các chính sách phát triển
viễn thông của Việt Nam;
- Xây dựng và đánh giá hiện trạng phát triển 3G tại Việt Nam, chính sách đã
có về phát triển 3G, nêu bật những thành tựu đạt được; đồng thời nghiên cứu kính
nghiệm phát triển 3G của Nhật Bản, Hàn Quốc và từ đó rút ra bài học có thể áp
dụng cho Việt Nam;
- Đưa ra những xu hướng phát triển dịch vụ trên nền 3G tại Việt Nam. Thông
qua việc phân tích những mặt hạn chế, tồn tại trong hiện trạng phát triển 3G, luận
văn đề xuất một số chính sách thúc đẩy phát triển 3G cho thị trường viễn thông
Việt Nam.
Với những kết quả như trên, luận văn có một số đóng góp như sau:
- Luận văn là báo cáo khoa học đề xuất một số chính sách thúc đẩy phát triển
dịch vụ 3G cho thị trường viễn thông Việt Nam;
- Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho cơ quan quản lý Nhà nước
chuyên ngành, cụ thể là Bộ Thông tin và Truyền thông trong quá trình hoạch định
chính sách phát triển, xây dựng cơ chế quản lý lĩnh vực viễn thông nói chung và
3G nói riêng; đồng thời là sở cứ tham khảo cho các doanh nghiệp khai thác, cung
cấp dịch vụ viễn thông tại Việt Nam. KIẾN NGHỊ CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
Để hoàn thiện hơn nữa đề tài này, luận văn đề xuất một số hướng nghiên cứu
mở rộng tiếp theo như sau:
1. Nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển 3G tại Việt Nam đến năm
August 4th to 6th, 2011 – Da Nang,
VietnamTECHNICAL
PROGRAM
Friday 05 August 201114:00 – 15:30 Policy and Humanitarian Technologies Session
Policy for promotion 3G mobile services in Vietnam, Tran Minh Tuan,
Nguyen Duc Manh (NIICS)
ii
978-1-4577-1261-6/11/$26.00 ©2011 IEEE
Policy for promotion 3G mobile services in Vietnam
Dr. Tran Minh Tuan
BBA. Nguyen Duc Manh
National Institute of Information and Communications Strategy
Ministry of Information and Communications
Hanoi, Viet Nam
Email: ;
Abstract: After more than one year of
deploying 3G mobile services with huge
investment from telecoms operators, 3G
services do not develop as expectation in
become an advanced country in ICT
which identified: Taking advantage of
existing infrastructure, building and
expanding broadband network to all
communes, wards and villages across the
country to serve the needs of people and
the direction and administration of the
Party and State. This master plan has a
large scope which mobilizes maximally of
resources from the State, enterprises and
society. With such determination,
broadband will contribute significantly to
the process of industrialization -
modernization of the country.
It can be said that information and
communications technology in general
and broadband in particular plays a role of
infrastructure platform to create tools and
utilities for developing other sectors as
well as improving quality of people’s life.
2. The current status and
characteristics of telecommunication
sector in Vietnam
In the recent years, Vietnam's
telecommunications network is developed
homogeneously across all three areas:
international telecommunications,
domestic telecommunications, data
transmission and Internet. The number of
telephone subscribers particularly mobile
inhabitants). Along with that, the
narrowband Internet access (dial-up) is
rapidly being replaced by broadband
Internet access (ADSL, 3G ). The
number of broadband Internet subscribers
over the country up to July 2010 was
estimated at 3.4 million, up 31.6% over
the same period last year.
Some highlight results of development
of Vietnam telecoms sector are as follows:
Fixed-line subscriber: 17.5m
Mobile phone subscriber: 140.3m
Broadband Internet subscriber
(xDSL): 3.4m
3G subscriber: 7m
Source: Ministry of Information and
Communications (MIC) and GSO of
Vietnam (July 2010)
3. The current status of 3G
development in Vietnam
From the right time of recruitment, all
four enterprises were immediately and
urgently establish their 3G network
infrastructure to keep up with the
committed progress to the MIC. By the
end of Q2/2010, the telecoms operators
have installed about 19,500 Node-B base
station, in which Viettel 10,500 stations,
Vinaphone 4,000 stations, Mobifone 2,500
Data Back-up, E -mail, Intranet ).
However, traditional services (Voice,
SMS) continue to be the main revenue of
operators in Vietnam.
4. Restrictions in 3G development in
Vietnam.
Besides the huge benefits of 3G, there
are some obstacles need to overcome in
the developing process to achieve
sustainable and long-term development.
The effectiveness does not
correspond to potential huge
investment.
Under the commitment, in the first 3
years after recruitment (2009), operators
will invest in building network
infrastructure with total budget of over
US$ 2 billion. With this investment, 3G
has been present in all provinces over the
country up to now. It brings opportunities
to access high speed and high quality ICT
services to users in almost every domain.
However, the fact that 3G does not create
robust traction to the user. Number of 3G
subscribers account for a modest percent
in total mobile subscribers in Vietnam
(about 5%). Besides, 3G-USB subscribers
(broadband Internet access over 3G-
Universal Serial Bus modem) offers just a
small part of revenue for telecoms
concentrated in major cities and urban
areas. However, these regions have many
alternative options to 3G (e.g. ADSL,
WiFi), so that 3G development potential
is not high. Meanwhile, Vietnam has
more than 70% of population live in rural
areas. Thus, there is very good potential
to develop 3G in rural areas in the long-
term.
In this article, the paper proposes some
priority policies for rural areas to partly
resolve drawbacks mentioned above and
to promote development of 3G as well as
broadband in Vietnam, as follows:
1. To construct and complete the
legal system related to developing
information and communications for
rural
- Guide of implementing the
Telecommunications Law, Postal Law,
Radio Frequencies Law, Information
v
978-1-4577-1261-6/11/$26.00 ©2011 IEEE
Technology Law, Press Law and
Publication Law about related contents to
development information and
communications for rural.
- Work to construct and promulgate
and implement of public benefit telecoms
functions of Vietnam Public-Utility
Telecommunication Service Fund (VTF)
to implement the universal policy of
public telecommunications services and to
bring the telecoms terminal equipment
and audio visual devices to households,
especially in rural areas.
4. To implement demand stimulus
policies of investment to develop
information and communications
infrastructure and to universalize ICT
service
The investment in building
infrastructure to provide ICT services for
inhabitants in rural, especially in remote
areas has several common characteristics,
as follows:
- The construction is very difficult;
- Big investment, low efficiency;
- Rate of profit is not high and long
capital-recovery.
So enterprises have not actively
invested in these areas. To achieve the
goal of development information and
communications in rural areas, the State
must be simultaneously carried out
encouraging enterprises to invest in
building infrastructure and encouraging
inhabitants to use services. Actually the
e
investment
by
enterprises
Increasing
services
demand by
inhabitantsvi
978-1-4577-1261-6/11/$26.00 ©2011 IEEE
- The State implements policies to
grant to build and maintain of
telecommunications infrastructure for
special difficulties regions.
- Apply preferential policies on
charges of basic ICT services to
encourage using of services.
- Formulate and implement scheme to
set up the integrated services broadband
transmission system of commune level
which takes a role as basis and motivation
for developing information and
communications on the basis of
fiberlization the transmission network (for
fiber non-reached area, using microwave
developing information and
communications for rural
The social organizations and
professional associations at the local such
as Vietnam Farmer Union, Veterans
Association of Vietnam, Vietnam
Women’s Union, Ho Chi Minh
Communist Youth Union have
characteristics as follows:
- Have a large force;
- Being held tightly;
- Educational level and experience of
members and officers are high because
most of them are educated; Officers and
members are always enthusiastic to lead
the revolutionary movement in the
countryside.
To above characteristics, the project
owners should coordinate closely with
related social and professional
organizations to implement developing
programs and projects of information and
communications in rural areas with
facilitation high efficiency.
7. To research, invest and develop
and apply new technologies of
information and communications
sector which meet the socio-economic
conditions in the countryside.
rural.
RECOMMENDATIONS AND
SUGGESTIONS
1. Propose Prime Minister to allow to
adjust the VTF’s functions, duties and
activity scope to expand the scope and
content of support.
2. Propose allowing to supplement
criterias (percentage of household has
telephones, percentage of village has
telephone) and raise the level of criteria
for evaluating fixed line service
universalization to suit with actually and
to rapidly shorten differences in density of
telephone and Internet subscribers
between rural and urban areas.
3. Propose allowing to research and
expand the area which is enjoyed to
benefits of public telecommunications
services.
4. Propose to bind the enterprise in
business of Internet services at central
districts of centrally governed cities with
obligation to contribute finance to the
VTF.
5. Allow to auction the saved spectrum
from the digitization of television to get
funding for deploying public projects in
information and communications sector.
Telecom
Operators,
Universal
Service
Fund,
ODA and
other
sources
350
Developing
Internet for
Rural Areas
MIC
ODA from
JBIC,
Vietnam
Governme
nt
Reciprocal
Capital
30
Improving
ICT skills
for Rural
Citizen
Univer
sal
Servic
e Fund
BMGF