- 1 - BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CÔNG TÁC ĐẤU THẦU TRONG CÁC DỰ ÁN XÂY LẮP, LẮP
ĐẶT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ
KỸ THUẬT VIỄN THÔNG (TST)
NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.05
TÊN HỌC VIÊN: HOÀNG LÊ MINH
- Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về công tác đấu thầu.
- Nghiên cứu các vấn đề về công tác đấu thầu xây lắp, lắp đặt tại Công ty TST.
4. Phương pháp nghiên cứu, ứng dụng
- Dựa vào các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử;
các phương pháp phân tích, so sánh, điều tra thống kê.
- Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho Công ty TST và các Công ty khác có điều kiện
tương tự.
- 3 -
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU THẦU
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẤU THẦU
* Khái niệm đấu thầu
Theo Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006, đấu thầu được hiểu là quá trình lựa chọn
nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án trên
cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.
* Các loại hình đấu thầu
Đấu thầu gồm có bốn loại hình sau: đấu thầu tuyển chọn tư vấn, đấu thầu mua sắm hàng
hoá, đấu thầu để lựa chọn đối tác thực hiện dự án và đấu thầu xây lắp.
* Các hình thức lựa chọn nhà thầu
Hình thức lựa chọn nhà thầu có bảy hình thức, đó là: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế,
chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh tranh, tự thực hiện, lựa chọn nhà thầu
trong trường hợp đặc biệt.
* Các phương thức đấu thầu
Theo quy định, có ba phương thức đấu thầu, đó là: phương thức đấu thầu một túi hồ sơ,
phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ, phương thức đấu thầu hai giai đoạn.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẤU THẦU XÂY LẮP, LẮP ĐẶT
* Khái niệm đấu thầu xây lắp, lắp đặt
Đấu thầu xây lắp là đấu thầu các công việc có liên quan đến xây dựng, lắp đặt công trình
tới chủ đầu tư và các cơ quan nhà nước có liên quan để thẩm định và xét duyệt lần cuối
cùng.
- Công bố trúng thầu, thương thảo hoàn thiện hợp đồng: sau khi lựa chọn được nhà thầu,
chủ đầu tư tiến hành công bố trúng thầu và thương thảo hợp đồng. Sau đó, chủ đầu tư tiến
hành trình duyệt nội dung hợp đồng và ký kết hợp đồng.
* Trình tự dự thầu của nhà thầu xây lắp, lắp đặt
- Tìm kiếm thông tin về các dự án đầu tư: thường được tìm kiếm thông qua thông báo mời
thầu, thư mời thầu, thông qua giới thiệu của đối tác trung gian hoặc thông tin từ nội bộ.
- Tiến hành nghiên cứu hồ sơ mời thầu: phân tích đánh giá sơ bộ thông tin về công trình,
sau đó phân tích cụ thể để đưa ra quyết định có hoặc không tham gia dự thầu hoặc tham gia
bằng liên danh, liên kết, liên doanh.
- Tham gia sơ tuyển (nếu có): để tham gia sơ tuyển nhà thầu phải nộp một ngân phiếu bảo
đảm cho việc tham gia dự thầu (có thể lên 20% chi phí đấu thầu). Nếu nhà thầu không
trúng thì khoản tiền này được chủ đầu tư trả lại. Khi tham gia sơ tuyển, nhà thầu nộp tài
- 5 -
liệu sơ tuyển gồm: thông tin chung về nhà thầu, năng lực và kinh nghiệm trong 2-5 năm
gần nhất, khả năng về nguồn nhân lực, thực trạng tài chính và khả năng máy móc thiết bị,
công nghệ.
- Chuẩn bị, lập hồ sơ dự thầu: hồ sơ dự thầu thông thường gồm các phần chủ yếu sau: đơn
dự thầu, bảo lãnh dự thầu, năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu (kèm tài liệu chứng
minh), biểu giá dự thầu, điều kiện tài chính, thời gian bảo hành, phương án tổ chức thi
công, biểu đồ tiến độ thi công, khả năng đáp ứng vật tư, khả năng huy động máy móc thiết
bị thi công, nhân sự thi công.
- Nộp hồ sơ dự thầu và tham gia mở thầu: sau khi hoàn thành xong hồ sơ dự thầu, nhà thầu
sẽ nộp hồ sơ dự thầu cho bên mời thầu trong thời hạn quy định. Công tác mở thầu sẽ tiến
hành mở từng hồ sơ dự thầu, chủ đầu tư sẽ ghi tên các ứng thầu hợp lệ và ứng thầu không
hợp lệ. Sau khi mở thầu, chủ đầu tư đánh giá xếp hạng các nhà thầu theo những tiêu chuẩn
về năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật, giá bỏ thầu, để chọn ra nhà thầu phù hợp nhất. Kết
quả đấu thầu sẽ được công bố chính thức sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Các nhân tố về nguồn nhân lực và chính sách nguồn nhân lực: năng lực và sự nhanh nhạy
của lãnh đạo, năng lực, trình độ của cán bộ lập hồ sơ dự thầu, cũng như việc bố trí nhân lực
tại hiện trường là những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác đấu thầu (chất lượng
hồ sơ dự thầu, chất lượng thi công công trình,…)
- Các nhân tố về máy móc thiết bị thi công: đó là tính đồng bộ, phù hợp với nhu cầu thi
công và đạt hiệu quả cao. Một nhân tố nữa là khả năng đáp ứng số lượng và chủng loại
máy móc thiết bị thi công của doanh nghiệp hiện có. Hai nhân tố này tác động trực tiếp tới
khả năng thắng thầu của doanh nghiệp.
- Các nhân tố về nguồn vật tư: đó là nguồn cung cấp vật tư và mức giá của nguồn cung cấp
vật tư. Kết hợp hai nhân tố đó lại với nhau, tức là có đủ nguồn cung cấp vật tư với mức giá
phù hợp chắc chắn sẽ tạo cho nhà thầu sức cạnh tranh hơn hẳn nhà thầu khác nhờ tiết kiệm
được các chi phí như: vận chuyển, giao dịch, của nhà thầu khi thi công công trình (giảm
được giá thành của dự án).
Tóm lại, tất cả các nhân tố trên đều ảnh hưởng tới tình hình thực hiện công tác đấu thầu
xây lắp, lắp đặt của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mỗi nhân tố có sự ảnh hưởng ở từng mức độ
và phương diện khác nhau, nhưng nhân tố nào cũng có tính hai mặt: tích cực và tiêu cực.
Do đó, khi tham gia đấu thầu xây lắp, lắp đặt doanh nghiệp cần phải phát huy các thế mạnh
của từng nhân tố, tạo mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau, nhân tố này làm cơ sở
cho nhân tố kia phát triển để đạt được mục đích của doanh nghiệp đề ra.
- 7 -
1.4. CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐẤU
THẦU XÂY LẮP, LẮP ĐẶT
* Chỉ tiêu giá trị trúng thầu và số công trình trúng thầu
Chỉ tiêu số công trình trúng thầu và giá trị trúng thầu góp phần giúp doanh nghiệp đánh giá
khả năng của doanh nghiệp trong đấu thầu.
Chỉ tiêu giá trị trúng thầu và số công trình trúng thầu cho thấy một cách khái quát nhất tình
hình kết quả đấu thầu của doanh nghiệp. Thông qua đó, có thể đánh giá khả năng của
doanh nghiệp trong đấu thầu.
* Chỉ tiêu xác suất trúng thầu
- 8 -
vốn của doanh nghiệp dựa vào chỉ tiêu này ta có thể thấy được vị thế của doanh nghiệp
trên thị trường xây lắp.
* Chỉ tiêu về uy tín của doanh nghiệp
Uy tín là chỉ tiêu mang tính vô hình, rất khó định lượng, chỉ tiêu này mang tính chất bao
trùm, nó liên quan đến tất cả các chỉ tiêu trên và nhiều yếu tố khác.
Uy tín là chỉ tiêu giữ vai trò quan trọng trong đấu thầu và giành thắng lợi của doanh
nghiệp. Chính uy tín giúp cho doanh nghiệp giành được lòng tin của chủ đầu tư và tạo lợi
thế trong tham gia đấu thầu. Vì vậy, mà trong từng thời kỳ doanh nghiệp phải chú trọng
đến việc nâng cao uy tín trên thị trường.
- 9 -
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC
ĐẤU THẦU XÂY LẮP, LẮP ĐẶT TẠI CÔNG TY TST
2.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TST
* Giới thiệu về Công ty TST
Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông (TST) là thành viên của Tập đoàn Bưu
chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) được thành lập theo Quyết định số 232/2000/QĐ-
TCCB ngày 10/03/2000 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện. Hoạt động theo Giấy
chứng nhận ĐKKD số 0103000095 ngày 07/08/2000 do Sở Kế hoạch Đầu tư Hà Nội cấp
và đăng ký thay đổi lần thứ 9 ngày 23/5/2008.
* Ngành nghề kinh doanh và sản phẩm dịch vụ cung cấp
Ngành nghề kinh doanh và các sản phẩm dịch vụ cung cấp là xây lắp, lắp đặt, bảo dưỡng,
sửa chữa, hỗ trợ vận hành và ứng cứu đột xuất cho các công trình viễn thông, điện, điện tử,
tin học.
* Một số đặc điểm chủ yếu của Công ty TST ảnh hưởng đến tình hình thực hiện công
tác đấu thầu xây lắp, lắp đặt
- Đặc điểm về tổ chức quản lý: Mô hình tổ chức toàn Công ty là mô hình thống nhất, theo
trúng thầu và được những cơ quan chức năng có liên quan công nhận đạt yêu cầu, gây
được uy tín với chủ đầu tư.
- Đặc điểm về nguyên vật liệu thi công: Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây
lắp, lắp đặt các công trình viễn thông nên các nguyên vật liệu của Công ty TST thường
dùng là: cáp quang và phụ kiện, ống nhựa, ống sắt các loại, cột bê tông, sắt, thép, cát, đá
dăm, xi măng, Nói chung, nắm bắt được tầm quan trọng của yếu tố nguyên vật liệu, nên
Công ty đã thường xuyên mở rộng mối quan hệ với các nguồn cung cấp để có thể thương
lượng được giá cả cũng như phương thức thanh toán.
- Đặc điểm về Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 của Công ty: Công ty TST đã
xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 từ
17/05/2006 theo chứng chỉ BVQI cấp và đã thay đổi sang tiêu chuẩn mới ISO 9001:2008
vào tháng 09/2009 theo chứng chỉ TUV NORD cấp. Hiện nay, hệ thống quản lý chất lượng
ISO 9001:2008 đã được triển khai có hiệu quả tại Công ty, toàn bộ CBCNV đều có nhận
thức tốt về việc thực hiện công tác chuyên môn hàng ngày theo ISO 9001:2008, tất cả các
quá trình diễn ra tại Công ty đều được kiểm soát theo đúng quy trình.
- 11 -
2.2. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐẤU THẦU XÂY LẮP, LẮP
ĐẶT TẠI CÔNG TY TST
* Trình tự tham gia dự thầu của Công ty TST
Trình tự tham gia dự thầu của Công ty TST được quy định trong Quy trình xây dựng hồ sơ
tham dự thầu, mã hiệu QT06NV thuộc Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9001:2008. Theo quy trình này, trình tự tham dự thầu của Công ty TST được quy định rất
rõ ràng và chặt chẽ. Chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, bộ phận được phân công hợp lý,
giúp các đơn vị, bộ phận dễ dàng phối hợp, hỗ trợ và liên kết với nhau. Trình tự tham dự
thầu được bố trí khoa học như hiện nay đã góp phần tăng hiệu quả công tác đấu thầu của
Công ty trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt.
* Kết quả đấu thầu của Công ty TST từ năm 2007 đến nay
Trong ba năm gần đây, Công ty TST đã gặt hái được khá nhiều thành công trên phương
diện tham gia dự thầu và thắng lợi trong đấu thầu. Điều này được thể hiện ở hai mặt là số
thay đổi và hoàn thiện hơn nữa công tác đấu thầu tại đơn vị mình.
2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐẤU THẦU
XÂY LẮP, LẮP ĐẶT TẠI CÔNG TY TST
* Những kết quả đạt được
Trong những năm gần đây, đặc biệt là năm 2009, Công ty đã có nhiều cố gắng và đã đạt
được những kết quả đáng kể, cụ thể là:
- Trong công tác đấu thầu, Công ty ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực về mặt tổ
chức và quản lý. Đặc biệt là lĩnh vực đối ngoại, mở rộng thị trường.
- Đã lựa chọn được nhiều cán bộ giỏi, có kiến thức tổng hợp, hiểu sâu về kỹ thuật, trực tiếp
tham gia đấu thầu và giám sát thi công công trình của Công ty.
- Các công trình do Công ty thi công đều đạt yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng cao, có tính
thẩm mỹ.
- Về công tác quản lý, tổ chức thi công công trình: áp dụng hình thức khoán chi phí sản
xuất ở các xí nghiệp và các chi nhánh trực thuộc để nâng cao năng suất lao động của công
nhân nhưng vẫn đảm bảo tiến độ và chất lượng thi công.
* Những tồn tại và nguyên nhân
- Những tồn tại chủ yếu:
+ Không chú trọng đến đấu thầu rộng rãi, chỉ chú trọng thầu chỉ định.
+ Công tác tiếp thị còn bị hạn chế, đang ở trong vùng hẹp nên khả năng tìm kiếm thông tin
về các dự án còn ít, đội ngũ cán bộ còn chưa nhiệt tình.
- 13 -
+ Quá trình bóc tách, lắp giá cả bỏ thầu dự án đôi khi bị động, chưa linh hoạt theo giá thị
trường nên có khi đưa ra mức giá không hợp lý dẫn đến trượt thầu.
+ Số vốn dùng để sản xuất kinh doanh còn bị hạn chế, phải vay nợ nhiều.
- Những nguyên nhân chủ yếu của những vấn đề tồn tại trên:
+ Do vẫn còn tư tưởng là một thành viên của Tập đoàn nên Công ty không tập trung, chú
trọng tham gia đấu thầu rộng rãi mà trông chờ vào chỉ định thầu.
+ Ban lãnh đạo Công ty đã chú ý, quan tâm đến công tác đầu thầu, tuy nhiên chưa được
nhiều và chưa có phương án cụ thể cho công tác đầu thầu.
đồng nhận thầu, giao thầu giúp cho việc thanh toán được dễ dàng và thuận lợi hơn; nhanh
chóng huy động vốn nhàn rỗi tạm thời của cán bộ trong toàn Công ty với lãi suất thấp; tạo
và mở rộng tăng cường hơn nữa mối quan hệ với các tổ chức Tài chính, Ngân hàng nhằm
khai thác tối đa nguồn vốn tín dụng; lập kế hoạch về vốn dài hạn, trung hạn, cũng như ngắn
hạn.
- Lợi ích của giải pháp:
Khi Công ty đã sử dụng các giải pháp trên một cách đồng bộ thì khả năng huy đồng và thu
hồi vốn sản xuất kinh doanh sẽ đạt được kết quả cao. Trong các giải pháp trên thì giải pháp
thi công dứt điểm từng hạng mục công trình, rút ngắn thời gian thi công là có hiệu quả
nhất, chủ động nhất cho Công ty.
* Giải pháp về máy móc thiết bị thi công, cụ thể là tăng cường đầu tư vào máy móc thiết
bị thi công để nâng cao năng lực thi công và quản lý sử dụng một cách hợp lý
- 15 -
- Cơ sở lý luận và thực tiễn:
Khi Công ty tham gia đấu thầu một dự án nào đó, Công ty cần phải giới thiệu về năng lực
của mình. Trong đó, yếu tố máy móc thiết bị thi công được Chủ đầu tư rất quan tâm và
đánh giá cao khi lựa chọn đơn vị nhận thầu dự án. Với thực tế của chủng loại cũng như giá
trị và độ phù hợp của các loại máy móc thiết bị thi công mà Công ty TST đang hiện có,
Công ty vẫn cần phải đầu tư vào việc mua sắm một số loại máy móc thiết bị thi công mới,
cần thiết để nâng cao phục vụ cho việc thi công các công trình của mình.
- Phương thức tiến hành:
Thực hiện theo những phương án đầu tư sau: mua sắm thiết bị để lắp ráp và thay thế cho
các thiết bị sẵn có; mua sắm các loại phương tiện máy móc cũ (giá trị còn lại trên 75%)
đồng bộ; mua từng cái một, một thời gian sau lại mua tiếp các thiết bị cần thiết khác; liên
doanh, hợp tác với các tổ chức, tập đoàn đấu thầu lớn trong và ngoài nước tăng năng lực về
máy móc thiết bị; thuê tài sản cố định (máy móc, thiết bị,…).
- Lợi ích của giải pháp:
Để có đầy đủ năng lực về máy móc thiết bị thi công, và xét về tình hình thực tế, Công ty
nên áp dụng các phương án trên vì như vậy Công ty giảm được số vốn đầu tư và trang thiết
Yếu tố con người là gốc rễ của mọi sự thành công của các Công ty và sự thắng lợi hay thất
bại trong tranh thầu của các Công ty đó. Thực tế hiện nay tại Công ty TST, việc đào tạo,
bồi dưỡng năng lực trình độ cho CBCNV được thực hiện chưa liên tục, đầy đủ và toàn
diện.
- Phương thức tiến hành:
Có thể thực hiện việc bồi dưỡng bằng các phương pháp sau: tổ chức các buổi nói chuyện,
thảo luận,… mời các cán bộ kinh nghiệm nhất và công nhân thợ bậc cao trong Công ty
hoặc có thể mời các nhà chuyên môn; tạo điều kiện cho các cán bộ làm công tác đấu thầu
tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức về đấu thầu, về kinh tế tài chính, pháp luật do các
trường đại học hoặc các cơ sở chuyên nghiệp tổ chức; thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng
nâng cao tay nghề, bậc thợ cho các công nhân để đảm bảo thực hiện được các yêu cầu xây
dựng (như: chất lượng, tiến độ,…); tổ chức các lớp học bồi dưỡng kỹ năng vi tính và ngoại
ngữ cho các cán bộ, chuyên viên tham gia vào quá trình đấu thầu để nâng cao hiệu quả
thuyết trình các giải pháp thi công và tăng khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng.
- Lợi ích của giải pháp:
Việc đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện kịp thời và liên tục sẽ nâng cao trình độ, tay nghề,
bậc thợ cho đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân trong toàn Công ty. Đảm bảo nguồn nhân
lực có thể đáp ứng quản lý thi công xây lắp theo yêu cầu của chủ đầu tư. Qua đó, công tác
- 17 -
chuẩn bị đấu thầu, lập hồ sơ dự thầu sẽ có chất lượng cao, góp phần nâng cao chất lượng
và hiệu quả đấu thầu của Công ty.
* Giải pháp về quản lý chất lượng, cụ thể là tăng cường công tác quản lý
chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008
- Cơ sở lý luận và thực tiễn:
Trong những năm gần đây, Tiêu chuẩn ISO 9001 đã trở thành một tiêu chuẩn mang tính
chuẩn mực, phổ biến nhất trong quản lý chất lượng của các tổ chức, doanh nghiệp trên toàn
thế giới. Nhận thấy tầm quan trọng của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001, Công ty
TST đã xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 từ năm 2006 và
thay đổi thành ISO 9001:2008 từ năm 2009.
đầu tư xây lắp, lắp đặt sắp và sẽ mời thầu.
Đối với việc điều tra dự án: sau khi phát hiện các dự án, gói thầu chuẩn bị mở thầu thì cử
các cán bộ, kỹ sư đi điều tra khảo sát kỹ hơn, sâu hơn (cụ thể về chủ đầu tư, địa điểm công
trình, yêu cầu kỹ thuật, thẩm mỹ của công trình).
- Lợi ích của giải pháp:
Khi thực hiện đầy đủ, tích cực việc tìm kiếm, điều tra về các dự án đấu thầu, Công ty sẽ có
được nhiều thông tin đáng tin cậy và đây cũng là cơ sở, căn cứ quan trọng đối với quá trình
đấu thầu. Mặt khác, nhờ có việc tìm kiếm, điều tra về các dự án đấu thầu, Công ty sẽ hoạt
động có trọng điểm vì luôn xác định được lĩnh vực sở trường của mình.
* Giải pháp về lập giá dự thầu, cụ thể là xác định giá bỏ thầu hợp lý, linh
hoạt phù hợp với chiến lược của Công ty và xu thế của thị trường
- Cơ sở lí luận và thực tiễn:
Thắng thầu là mục tiêu của các nhà thầu khi tham gia đấu thầu. Thường các trường hợp
thắng thầu là do giá bỏ thầu thấp. Một công trình dù đạt chất lượng cao, thoả mãn được các
yêu cầu kỹ thuật, thời gian hoàn thành,… mà giá dự thầu lại quá cao thì khó có khả năng
thắng thầu. Do đó, các chủ đầu tư thường kết hợp các yếu tố về chất lượng công trình và
giá dự thầu để đánh giá và xét thầu.
- Phương thức tiến hành:
Giảm giá dự thầu bằng việc giảm các chi phí trực tiếp và chi phí chung. Giảm chi phí trực
tiếp thông qua giảm chi phí vật liệu (bằng cách xác định đúng chi phí nguyên vật liệu, hạn
chế đến mức nhỏ nhất mất mát, hao hụt, hư hỏng trong thi công và vận chuyển, bảo quản),
giảm chi phí nhân công (bằng cách tăng năng suất lao động và nâng cao trình độ cơ giới
hoá, tự động hoá trong thi công) và giảm chi phí máy (bằng việc sử dụng tiết kiệm nhiên
liệu, năng lượng phục vụ cho các ca máy). Giảm chi phí chung bằng cách tính toán hợp lý
- 19 -
đến mức thấp nhất các chi phí thuộc khoản mục chi phí chung, đặc biệt là giảm thiểu các
chi phí thuộc quản lý doanh nghiệp.
- Lợi ích của giải pháp:
Sử dụng giải pháp này Công ty sẽ đưa ra được mức giá bỏ thầu có sức cạnh tranh cao và
những người có trình độ kinh nghiệm và có sự kết hợp giữa các phòng ban để hoàn thành
hồ sơ dự thầu với chất lượng cao nhất; quy định trách nhiệm rõ Aràng đối với từng cá
nhân, tập thể, các bộ phận liên quan tham gia lập và hiệu chỉnh hồ sơ dự thầu.
- Lợi ích của giải pháp:
Sử dụng giải pháp về lập và hiệu chỉnh hồ sơ dự thầu sẽ giúp Công ty tránh được những sai
sót có thể xảy ra trong quá trình lập hồ sơ.
- 21 -
KẾT LUẬN
Tăng cường hiệu quả công tác đấu thầu thường là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp
xây lắp, lắp đặt nói chung và Công ty TST nói riêng trong cơ chế thị trường với tính cạnh
tranh đầy gay gắt hiện nay.
Luận văn: “Công tác đấu thầu trong các dự án xây lắp, lắp đặt tại Công ty Cổ phần
Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông (TST)” với mục tiêu đặt ra, đã giải quyết được một số vấn
đề cơ bản sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về công tác đấu thầu và đấu thầu xây lắp, lắp đặt.
- Vận dụng các phương pháp để đánh giá đúng thực trạng công tác đấu thầu xây lắp, lắp
đặt của Công ty TST và chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến những khó khăn và tồn tại trong
công tác đấu thầu xây lắp, lắp đặt của đơn vị.
- Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực trạng công tác đấu thầu xây lắp, lắp đặt của Công ty
TST, luận văn đã nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần tăng cường hiệu
quả công tác đấu thầu xây lắp, lắp đặt tại đơn vị trong thời gian tới. Các giải pháp này
không những áp dụng cho Công ty TST mà còn có thể áp dụng với các mức độ khác nhau
cho các đơn vị thành viên khác có lĩnh vực kinh doanh tương tự của Tập đoàn trong từng
điều kiện cụ thể.
Mặc dù đã cố gắng nhưng do lượng thời gian có hạn và trình độ kiến thức còn hạn chế nên
những thiếu sót của luận văn là không tránh khỏi. Vì thế, tác giả rất kính mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô giáo và các bạn.
Xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của GS.TS.NGƯT Bùi Xuân Phong, sự giúp