CHUYÊN ĐỀ
TOÀN CẦU HÓA VÀ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Câu 1.Tác động tích cực, tiêu cực của toàn cầu hóa kinh tế.
a. Khái niệm toàn cầu hóa kinh tế.
Thuật ngữ toàn cầu hoá (Globalization) đã xuất hiện lần
đầu tiên vào năm 1961. Trước đó khái niệm hội nhập toàn cầu
(Global Integration) đã được sử dụng với ý nghĩa tương tự toàn
cầu hoá. Do vậy có thể xem toàn cầu hoá và hội nhập toàn cầu là
những khái niệm tương đồng nhau. Và có thể hiểu toàn cầu hóa
là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong
nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng
tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ
văn hoá, kinh tế, v.v. trên quy mô toàn cầu.
Tuỳ theo cách hiểu nội dung toàn cầu hoá mà xác định thời
điểm toàn cầu hoá bắt đầu và cái đích mà nó đi tới cùng với
những hình thức thực hiện đa dạng. Nếu hiểu toàn cầu hoá là
những mối quan hệ kinh tế vượt ra ngoài biên giới quốc gia thì
toàn cầu hoá đã bắt đầu từ rất sớm. Nếu hiểu đó là những quan
hệ kinh tế quốc tế phát triển tới quy mô toàn cầu, thì toàn cầu
hoá lại chỉ bắt đầu từ đầu thế kỷ 20, khi chủ nghĩa tư bản chuyển
từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa độc quyền.
Nhưng nếu hiểu toàn cầu hoá là quá trình quốc tế hoá kinh tế
trên quy mô toàn cầu, bao gồm hai quá trình song song - tự do
hoá kinh tế và hội nhập quốc tế, phải tuân theo những cam kết
toàn cầu, thì quá trình này mới thực sự bắt đầu từ thập kỷ 90.
Nhưng dù hiểu khác nhau, nhưng cái đích cuối cùng mà quá
trình toàn cầu hoá hướng tới là một nền kinh tế toàn cầu thống
nhất không còn biên giới quốc gia về kinh tế.
Ngày nay, toàn cầu hóa mà trước hết và thực chất là toàn
cầu hóa kinh tế đang trở thành một xu thế, đặc trưng chủ yếu của
sự phát triển thế giới.
Grahane Thonpdion: Introsuctron, Sitmating Globalization, International Social Siences Journal, Unesco,
1999, N.160, P.139-152.
2
Chủ tịch quỹ Ford Berresford, 1997
lại trên quy mô quốc tế thông qua một loạt quy trình, giao lưu,
trao đổi
3
. Quan điểm này đã tiến xa hơn hai quan điểm trên,
theo đó, toàn cầu hoá không chỉ là sự phụ thuộc lẫn nhau, dù là
phụ thuộc toàn diện giữa các nền kinh tế mà là sự hoà nhập các
nền kinh tế này để hình thành nên một nền kinh tế toàn cầu
thống nhất.
Ba định nghĩa trên đây về toàn cầu hoá tuy khác nhau,
nhưng thực chất vẫn là một quá trình tiến triển của các quan hệ
kinh tế của các quốc gia từ mức phụ thuộc vào nhau, đến mức
phụ thuộc toàn diện, rồi hoà tan vào nhau thành một nền kinh tế
toàn cầu, không còn biên giới.
Trên cơ sở phân tích các khái niệm liên quan, có thể hiểu:
Toàn cầu hóa, mà trước hết và chủ yếu là toàn cầu hóa kinh
tế, là bước phát triển cao của quá trình quốc tế hóa
(Internationnalisation) nền kinh tế thế giới, là giai đoạn chuyển
biến về chất của quá trình quốc tế hóa.
Toàn cầu hóa tác động và ảnh hưởng tới phát triển xã hội
trên tất cả các cấp độ: quốc gia – dân tộc, khu vực và thế giới,
3
Flie Cohen, Toàn cầu hóa, sự hấp dẫn và cơ chế điều tiết, Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia
Pháp, Hội thảo khoa học "Những thách thức về phương diện pháp lý của quá trình toàn cầu hóa",
file://E:\NDVF\SITES/Viét\Sites\logo.htm.
tất cả trên lĩnh vực kinh tế - chính trị, xã hội và văn hóa trong
đời sống xã hội và cả trong môi trường sinh thái tự nhiên. Tác
b. Tác động của toàn cầu hóa kinh tế
Tác động tích cực
Toàn cầu hóa kinh tế có tác động to lớn đối với sự phát triển
kinh tế của các nước trên thế giới, thể hiện trên một số mặt:
Thứ nhất, TCHKT thúc đẩy rất mạnh, rất nhanh sự phát triển và
xã hội hóa lực lượng sản xuất, đưa lại tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao (vào nửa đầu thế kỷ XX, GDP của thế giới tăng 2,7 lần, đến
nửa cuối thế kỷ tăng 5,2 lần). Toàn cầu hóa kinh tế góp phần
làm chuyển biến cơ cấu kinh tế thế giới, đặc biệt làm tăng mạnh
tỷ trọng hàng chế tác (chiếm 21,4%), và các dịch vụ (62,4%)
trong cơ cấu kinh tế thế giới.
Thứ hai, TCHKT làm tăng sự phụ thuộc và tác động lẫn nhau
giữa các nền kinh tế các nước. TCHKT làm cho kinh tế mỗi
nước có thể trở thành bộ phận của cái tổng thể, hình thành cục
diện kinh tế thế giới mới. Việc giao lưu trao đổi các hoạt động
kinh tế để tìm kiếm các lợi ích giữa các nước, các nền kinh tế
ngày càng tăng lên đã tạo cơ sở cho xu thế đối thoại, hiệp tác,
biết mình, biết ta diễn ra ngày càng mạnh. TCHKT cũng làm
giảm thiểu các chướng ngại trong việc lưu chuyển vốn, hàng
hóa, dịch vụ giữa các nền kinh tế, các nước, làm tăng vai trò
kinh tế đối ngoại, mậu dịch và đầu tư nước ngoài đối với sự phát
triển kinh tế mỗi nước, làm cho việc phân bổ các nguồn lực trên
thế giới hợp lý và có hiệu quả hơn.
Thứ ba, TCHKT truyền bá và chuyển giao trên quy mô ngày
càng lớn, tuy chưa được như mong muốn, những thành quả mới
mẻ về khoa học và công nghệ, về tổ chức và quản lý sản xuất
kinh doanh, đưa kiến thức và kinh nghiệm đến các dân tộc, tại
nhiều nước dọn đường cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thứ năm TCHKT gây sức ép mãnh liệt và gay gắt về cạnh tranh
đối với mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp. Bởi vậy, nó làm thay
Hai là, nền kinh tế toàn cầu là nền kinh tế rất bị chấn thương, sự
trục trặc ở một khâu có thể lan ra phạm vi toàn cầu. Cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam Á vào những năm cuối thể
kỷ XX, hay vấn đề nợ công ở các nước châu Âu thời gian
qua đã chứng minh rõ điều đó.
Ba là, TCHKT cũng làm xói mòn quyền lực nhà nước, dân tộc,
trong khi lại làm cho quyền lực của các công ty xuyên quốc gia
tăng lên. Khi các hoạt động giao lưu kinh tế, thương mại quốc tế
ngày càng mạnh mẽ thì trên thế giới vai trò của quốc gia dân tộc
ngày càng mất đi những ý nghĩa nhiều mặt của nó. Các truyền
thống văn hóa, truyền thống dân tộc, sắc thái dân tộc, nếu không
có sự bảo vệ, giữ gìn thì cũng bị băng hoại. Như vậy thế giới sẽ
mất đi tính phong phú và đa dạng của nó, còn các quốc gia dân
tộc nói chung, đặc biệt là các quốc gia dân tộc nhỏ yếu sẽ rất bị
xâm thực, chủ quyền kinh tế gắn với lợi ích đất nước dễ bị xâm
hại.
Bốn là, về văn hóa, xã hội, toàn cầu hóa cũng tạo ra nguy cơ mất
bản sắc dân tộc, đánh mất độc lập tựu chủ của quốc gia. TCHKT
cũng làm cho một số vấn đề tiêu cực trở nên quốc tế hóa như:
buôn bán và sử dụng ma túy, mại dâm, du nhập lối sống đồi
trụy, lan tràn chủ nghĩa khủng bố
Ngay trong những mặt tích cực nêu trên cũng ẩn chứa không ít
mặt tiêu cực. Về trao đổi hàng hóa, việc tự do hóa thương mại
thường đem lại lợi ích lớn hơn cho các nước công nghiệp phát
triển vì sản phẩm của họ có chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu
mã đẹp, do đó, có sức cạnh tranh cao, chiếm lĩnh thị trường. Tuy
nói là tự do hóa thương mại song các nước công nghiệp phát
triển vẫn áp dụng những hình thức bảo hộ công khai (như áp
dụng hạn ngạch) hoặc trá hình (như tiêu chuẩn lao động). Tuy
có chuyển giao công nghệ song các nước công nghiệp phát triển
hàng trăm các dân tộc và các nhà nước khác nhau: các nước tư
bản phát triển, các nước đang phát triển, các nước đi theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Các nước tư bản phát triển không chỉ theo đuổi mục tiêu trực
tiếp là lợi nhuận mà còn tìm cách chi phối, khống chế thị trường
thế giới, cải biến kinh tế các nước khác theo quỹ đạo của mình.
Ỷ thế có sức mạnh về kinh tế và khoa học công nghệ, các nước
tư bản phát triển đang thao túng các tổ chức kinh tế tài chính
toàn cầu như IMF, WB, WTO, áp đặt những quy chế và
phương thức hoạt động không bình đẳng gây thiệt hại càng
nghiêm trọng chủ quyền quốc gia của các nước đang và chậm
phát triển. Các nước dân tộc chủ nghĩa hội nhập để có điều kiện
phát triển thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Các nước đi theo định
hướng xã hội chủ nghĩa chủ động hội nhập để tranh thủ những
mặt có lợi trên thị trường thế giới phục vụ mục tiêu phát triển
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thu hẹp
khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế so với các nước phát
triển.
Trong bối cảnh đó để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia các
nước đang phát triển thông qua các tổ chức như UNTCAD,
nhóm G7, trung tâm Phương Nam và nhiều diễn đàn khác tăng
cường đoàn kết không ngừng đấu tranh ra sức chống lại sức ép
và sự thao túng của các nước tư bản phát triển.
Câu 2. Quan niệm về hội nhập kinh tế quốc tế và tính tất yếu
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và
lãnh đạo trong những năm qua đánh dấu bước phát triển mới
trong sự đổi mới tư duy lý luận cũng như phương thức lãnh đạo
của Đảng và Nhà nước ta trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống
kinh tế xã hội kể cả trong lĩnh vực mở rộng quan hệ đối ngoại và
là tự do hóa thương mại hàng hóa; là mở cửa thương mại dịch
vụ; là sự gia tăng các luồng giao lưu quốc tế về vốn, đầu tư, tài
chính, công nghệ thông qua đó mà thiết lập các mối quan hệ
thương mại, đầu tư, khoa học công nghệ với các nước trên thế
giới dưới hình thức quan hệ song phương hay đa phương.
Xu thế mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đi liền với xu
thế toàn cầu hóa kinh tế, diễn ra với nhịp độ ngày càng tăng. Để
tránh nguy cơ tụt hậu và khỏi bị gạt ra ngoài quỹ đạo phát triển
chung đó, các nước đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung,
ra sức cạnh tranh kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của mình.
Nhìn chung, các nước đang phát triển hội nhập vào nền kinh tế
thế giới và khu vực là nhằm tạo ra những điều kiện quốc tế
thuận lợi cho việc khai thác tối đa nội lực, khơi dậy các tiềm
năng kinh tế, đi đôi với việc tận dụng các ngoại lực nhằm thúc
đẩy hợp tác quốc tế có hiệu quả. Sự kết hợp hai loại yếu tố này
mở ra những cơ hội cho quá trình hội nhập quốc tế của các nước
đang phát triển (trong đó có Việt Nam).
2. Tính tất yếu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
a.Về mặt khách quan:
- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã và đang
tác động mạnh đến sự phát triển của thế giới.
Cách mạng khoa học và kỹ thuật trước đây và cách mạng
khoa học và công nghệ hiện nay (nhất là công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động
hóa ) đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển vượt bậc, tạo ra
những phương tiện giao thông vận tải và thông tin liên lạc hiện
đại, mở rộng phân công lao động quốc tế trên phạm vi toàn cầu,
làm tăng sự phụ thuộc, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền kinh tế
dân tộc.
Trước hết, phải kể đến công nghệ thông tin vì công nghệ
nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng
không vũ trụ… ra đời, mở ra những tiềm năng mới, triển vọng
mới. Ngày nay, việc sử dụng nguồn điện nguyên tử, thuỷ điện và
điện mặt trời ngày càng nhiều trong đời sống xã hội. Các vật liệu
mới như chất dẻo đặc biệt, vật liệu tổng hợp, sợi quang học…
thay thế ngày càng nhiều những nguyên liệu truyền thống.
Cuối cùng, đó là tự động hoá trong sản xuất. Tự động hoá
trong sản xuất giải phóng con người khỏi những công việc nặng
nhọc, nguy hiểm, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, mở ra triển
vọng mới trong sự phát triển.
- Xu thế toàn cầu hóa đang gia tăng mạnh mẽ, buộc các
nền kinh tế quốc gia dân tộc phải mở cửa, hội nhập vào nền
kinh tế thế giới để phát triển nếu không bị lạc hậu.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ:
“Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan”. Tính khách quan ấy
bắt nguồn từ một số nhân tố sau:
Một là, toàn cầu hóa kinh tế - bước phát triển mới, cao của
quốc tế hóa kinh tế đã hình thành và phát triển qua một chặng
đường lịch sử khá dài, nó bắt nguồn từ sự phát triển lực lượng
sản xuất, từ tính chất xã hội hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế.
Trong các xã hội cổ xưa, các quốc gia dân tộc tồn tại tương
đối biệt lập, ít có quan hệ với nhau. Nhưng cùng với sự phát
triển của lực lượng sản xuất thì các quan hệ cũng dần dần mở
rộng khỏi danh giới quốc gia, hình thành các mối quan hệ quốc
tế và quá trình quốc tế hóa được bắt đầu.
Hai là, sự tác động trực tiếp của cuộc cách mạng khoa học
– công nghệ.
Ở vào thế kỷ thứ XV, XVI nhờ có những phát kiến lớn về địa lý,
cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật hàng hải đã giúp các nước trên
châu lục thông thương, mở rộng giao lưu kinh tế, thương mại.
500.000, như những vòi của con bạch tuộc khổng lồ bao trùm
khắp thế giới. Mặt khác, trao đổi giữa các chi nhánh trong nội bộ
TNCs ở các nước ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng giá trị thương mại của nhiều nước. Hầu hết các hoạt động
đầu tư nước ngoài được thực hiện qua kênh TNCs. Với lợi thế
về quy mô vốn lớn, kỹ thuật hiện đại, quản lý tiên tiến và mạng
lưới thị trường rộng lớn TNCs tích cực đầu tư ra ngoài nhằm tối
đa hoá lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu. TNCs ngày càng đóng
vai trò quan trọng thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
vào các nước đang phát triển. Tóm lại, cách mạng khoa học -
công nghệ cùng với sự bành trướng của TNCs đã thúc đẩy phân
công lao động quốc tế, nhất là phân công trong nội bộ ngành
ngày càng sâu rộng, thúc đẩy mậu dịch và đầu tư quốc tế tăng
nhanh, làm tăng sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế dân
tộc, phát triển mạnh mẽ hơn xu thế toàn cầu hóa kinh tế và các
lĩnh vực khác của xã hội.
Bốn là, các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại quốc tế
đóng vai trò thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa.
Trong quá trình toàn cầu hoá nổi lên xu hướng liên kết kinh
tế, dẫn đến sự ra đời các tổ chức kinh tế và thương mại, tài chính
quốc tế, trước hết phải kể đến đó là Tổ chức thương mại thế giới
(WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB)…
Thông qua các tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế
này, quy mô lưu thông vốn quốc tế lớn chưa từng thấy, tốc độ
tăng trưởng mậu dịch thế giới vượt xa tốc độ tăng trưởng kinh
tế; các lĩnh vực hợp tác trong toàn cầu hoá kinh tế không ngừng
phát triển.
Do vậy có thể thấy, Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế là
sự cần thiết – tất yếu khách quan.
b.Về mặt chủ quan:
quốc tế.
Chúng ta cũng nhận thức rõ hội nhập kinh tế quốc tế là việc
một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia vào các
định chế tài chính, kinh tế, thương mại quốc tế, mở rộng hợp tác
kinh tế với bên ngoài, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá
thương mại, đầu tư. Tham gia hội nhập quốc tế thực chất là tham
gia cuộc đấu tranh phưc tạp để góp phần phát triển kinh tế và
củng cố an ninh, chính trị, độc lập kinh tế và bản sắc dân tộc của
mỗi nước thông qua việc thiết lập các mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn
nhau, đan xen, nhiều chiều, ở nhiều tầng nấc với các quốc gia
khác.
Chúng ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển
đất nước, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ,
văn minh.
Câu 3: tác động của HNKTQT đến nền kinh tế Việt Nam kể
từ sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)