Công tác trả lương ở Công ty xây dựng công trình 56: thực trạng và giải pháp - Pdf 10

Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường TCCN và Kinh tế Đối ngoại
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường và sự hoạt động của thị trường sức lao
động, sức lao động là hàng hoá do vậy tiền lương là giá cả của sức lao dộng.
Khi phân tích về nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. C.Mác viết "Tiền công không
phải là giá trị hay giá cả của lao động mà chỉ là hình thái cải trang của giá trị
hay giá cả của sức lao động.
Tiền lương phản ánh nhiều quan hệ kinh tế xã hội khác nhau. Tiền
lương trước hết là số tiền mà người sử dụng lao động (người mua sức lao
đọng) trả cho người lao động (người bán sức lao động). Đó là quan hệ kinh tế
của tiền lương, mặt khác do tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động mà
tiền lương không phải thuần tuý là vấn đề kinh tế mà còn là một vấn đề xã hội
rất quan trọng liên quan đến đời sống trật tự xã hội. Đó là quan hệ về xã hội.
Trong quá trình hoạt động nhất là hoạt động kinh doanh đối với các chủ
doanh nghiệp, tiền lương là một phần của chi phí cấu thành chi phí sản xuất
kinh doanh. Vì vậy tiền lương luôn được tính toán và quản lý chặt chẽ. Đối
với người lao động tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ. Phần
thu nhập chủ yếu đối với đại đa số lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến mức
sống của họ phấn đấu nâng cao tiền lương là mục đích của mọi người lao
động. Mục đích này tạo động lực để người lao động phát triển trình độ khả
năng của mình. Để thúc đẩy sản xuất phát triển thì doanh nghiệp cần có
những chính sách chiến lược quan trọng đúng mức đến người lao động. Các
khoản về trích lập lương, trả lương phải phù hợp với định hướng phát triển
của công ty cũng như không đi ngược với chính sách mà nhà nước đã ban
hành.
Trong sự hội nhập và phát triển kinh tế nhằm đưa đất nước thoát khỏi
đói nghèo từng bước hội nhập kinh tế với thế và trong khu vực. Việc Nam đã
và đang tiến hành cải cách toàn diện, triệt để hệ thống tiền lương, theo những
1
SVTH: Hứa Thị Khiêm - QT5B
1

SVTH: Hứa Thị Khiêm - QT5B
2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường TCCN và Kinh tế Đối ngoại
Chương III: Kiến nghị và giải pháp công tác trả lương ở Công ty Xây
dựng công trình 56.
3
SVTH: Hứa Thị Khiêm - QT5B
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường TCCN và Kinh tế Đối ngoại
MỤC LỤC
4
SVTH: Hứa Thị Khiêm - QT5B
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường TCCN và Kinh tế Đối ngoại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Quản trị nhân lực
2. Đề cương sơ bộ của trường
3. Tài liệu công ty XDCT 56 (Binh đoàn 11) trong 3 năm 2005, 2006, 2007
5
SVTH: Hứa Thị Khiêm - QT5B
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường TCCN và Kinh tế Đối ngoại
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Bản chất tiền lương trong cơ chế thị trường
1.1.1. Khái niệm
Tiền lương là giá trị của sức lao động biểu hiện giá cả của sức lao động
chủ sử dụng lao động trả cho người lao động trên cơ sở thoả thuận dựa trên
quan hệ cung cầu và pháp luật của nhà nước.

tháng, tuần, ngày, giờ.
+ Tiền lương tháng là tiền lương trả lương cố định hàng tháng trên cơ
sở hợp đồng cố định lao động.
Tiền lương tháng = x
+ Tiền lương tuần: là tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào mức
lương tháng và số tuần thực tế trong tháng. Lương tuần áp dụng trả cho các
đối tượng lao động có thời gian lao động không ổn định mang tính chất thời
vụ.
Tiền lương tuần = Lương ngày x Ngày làm việc trong tháng
+ Tiền lương ngày: là tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào mức
lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng. Lương ngày thường áp
dụng cho người lao động trực tiếp hưởng thời gian tính lương cho người lao
động trong những ngày hội họp học tập hoặc làm nghĩa vụ khác và làm căn cứ
để tính trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH) hình thức này có ưu điểm đơn giản
dễ tính toán phản ánh được trình độ kỹ thuật và điều kiện làm việc của người
lao động.
7
SVTH: Hứa Thị Khiêm - QT5B
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường TCCN và Kinh tế Đối ngoại
Tiền lương ngày =
+ Tiền lương giờ: là tiền lương tính dựa trên cơ sở mức lương ngày nó
thường được áp dụng để trả cho lao động trực tiếp trong thời gian làm việc
không được hưởng lương theo sảnphẩm.
Tiền lương giờ =
Hình thức trả lương theo thời gian có những hạn chế nhất định (mang
tính bình quân chưa thực sự gắn với kết quả sản xuất) nên để khắc phục phần
nào những hạn chế đó. Việc trả lương theo thời gian có thể kết hợp chế độ tiền
thưởng để khuyến khích người lao động hăng hái làm việc.
1.2.2. Hình thức trả lương theo sản phẩm trong doanh nghiệp

sản xuất chính mà công việc của họ mang tính chất độc lập tương đối có thể
định mức và kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể và riêng biệt.
Tuỳ vào điều kiện sản xuất và quan điểm khuyến khích lao động của doanh
nghiệp, người lao động có thể được trả lương theo đơn giá cố định lũy tiến
hay luỹ thái.
TK
i
= ĐG.Q
1
ĐG = = TL
CBCVi
. T
Trong đó: ĐG: Đơn giá tiền lương cho 1 đơn vị sản phẩm hoặc đơn giá
thời gian.
TL
CBCVi
: sản lượng định mức giao cho người lao động
Q
0
: sản lượng định mức giao cho người lao động
Q
1
: Sản lượng thực tế của người lao động làm được
T: Thời gian lao động cung ứng để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
9
SVTH: Hứa Thị Khiêm - QT5B
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường TCCN và Kinh tế Đối ngoại
Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân có ưu điểm: đơn
giản dễ hiểu, quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, lương trả công

cùng quan tâm tới kết quả chung. Tuy nhiên hình thức này không đánh giá
được đúng kết quả lao động của người lao động gián tiếp.
10
SVTH: Hứa Thị Khiêm - QT5B
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường TCCN và Kinh tế Đối ngoại
c. Trả lương theo sản phẩm tập thể
Chế độ trả lương này thường được áp dụng với những công việc cần
một nhóm công nhân, đòi hỏi sự phối hợp giữa các công nhân và năng suất
lao động chủ yếu phụ thuộc vào sự đóng góp.
Trong đó: T

tổng số thời gian quy đổi
n
i
: Số công nhân của một nhóm công việc nào đó
h
i
: Thời gian lao động cung ứng của người công nhân ở bậc nào đó.
k
i
: Là hệ số lương cấp bậc công việc người công nhân nào đó TH.
Bước 2: Tình tiền lương của một giá quy đổi
Trong đó: TL
1qqđ
= thời gian của một giờ quy đổi
Bước 3: Tính tiền lương thực lĩnh của từng công nhân
TL
i
= TL

cuối cùng của tổ: nhược điểm: sản lượng của mỗi công nhân không trực tiếp
quyết định tiền công của họ, ít kích thích công nhân nâng cao năng suất lao
động cá nhân góp của cả nhóm như lắp ráp các thiết bị, sản xuất ở các bộ
phận làm việc theo dây chuyền, trông nom máy liên hợp.
TL
tt
= ĐG x Q
1
ĐG =
∑ ∑
= =
=
m
i
m
i
CBCVi
CBCVi
TxTL
Q
TL
1 1
0
Trong đó:
m: số công việc trong tổ
TL
CBCVi
: Tiền lương cấp bậc công việc của một công nhân nào trong tổ
Q
0

: Hệ số điều chỉnh nó cho biết tiền lương của một công
nhân nào đó trong tổ cao hơn tiền lương của người công nhân khác bao nhiêu
lần.
TL
CBCVi đ/c
: tiền lương cấp bậc công việc của từng người công nhân sau
khi đã điều chỉnh ra 1 đơn vị thống nhất.
12
SVTH: Hứa Thị Khiêm - QT5B
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường TCCN và Kinh tế Đối ngoại
TL
i
: tiền lương thực lĩnh của từng người công nhân
- Dùng phương pháp giờ hệ số
Bước 1: Tính thời gian quy đổi của cả tổ
T

=

=
m
i
iii
khn
1
..
d. Trả lương theo sản phẩm khoán
Theo hình thức này, công nhân được giao việc và tự chịu trách nhiệm
với công việc đó cho tới khi thoàn thành.

+ ĐG
th
(Q
1
- Q
0
)
ĐG

: đơn giá cố định
13
SVTH: Hứa Thị Khiêm - QT5B
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường TCCN và Kinh tế Đối ngoại
Q
0
: sản lượng định mức
ĐG
th
: Đơn giá thưởng
Q
1
: Sản lượng thực tế
Ưu điểm: Hình thức này đánh giá vào lợi ích của người lao động do đó
tạo cho người lao động có ý thức công việc, hăng say lao động. Nhược điểm
nhưng hình thức này nếu làm tuỳ tiện sẽ dẫn đến việc trả thưởng bừa bãi,
không đúng người đúng việc gây tâm lý bất bình cho người lao động.
f. Trả lương theo sản phẩm lũy tiễn
Theo hình thức này. Ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp còn căn
cứ vào mức độ hoàn thành sản phẩm lũy tiến. Mức luỹ tiến này còn có thể

WTO thì các doanh nghiệp Việt Nam cần phải coi chính sách tiền lương và
công tác trả lương như là một công cụ để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Điều
đó có nghĩa là doanh nghiệp không thể không thường xuyên cải thiện công tác
trả lương cho người lao động. Sở dĩ nói như vậy là bởi vì:
Thứ nhất: tiền lương là một phạm trù có liên quan mật thiết đến kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh, đến sự phát triển của nền kinh tế, đến đời
sống của từng người lao động. Tiền lương hàm chứa nhiều mối quan hệ mâu
thuẫn như quan hệ giữa sản xuất và phát triển, quan hệ giữa tích luỹ và tiêu
dùng, quan hệ giữa thu nhập của các thànhphần dân cư. Nếu không thường
xuyên cải thiện công tác trả lương thì nền kinh tế đất nước nói chung và bản
thân từng doanh nghiệp nói riêng sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng.
Thứ hai: Trong giai đoạn hiện nay khi mà giá cả tư liệu sinh hoạt và các
chi phí khác thường xuyên có sự biến động lớn, gây ảnh hưởng không nhỏ tới
đời sống của người lao động và gia đình của họ nếu doanh nghiệp không
thường xuyên cải thiện công tác trả lương cho người lao động để tiền lương
tăng tương ứng với sự biến động đó thì người lao động sẽ không yên tâm làm
việc dẫn đến làm ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh chung của doanh nghiệp.
Cải thiện công tác trả lương trong doanh nghiệp sẽ kích thích người lao
động hăng say làm việc, tích cực học hỏi nâng cao trình độ tay nghề để nâng
cao năng suất lao động từ đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí và
mang lại nhiều giá trị thặng dư hơn cho doanh nghiệp.
15
SVTH: Hứa Thị Khiêm - QT5B
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trường TCCN và Kinh tế Đối ngoại
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG TRONG
CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 56
2.1. Quá trình hình thành và các đặc điểm kinh tế có ảnh hưởng
đến công tác trả lương trong công ty XDCT 56.

chính có trách nhiệm bảo toàn và phát triển đồng vốn.
Đối với nhiệm vụ quốc phòng: công ty xây dựng công trình 56 là đơn vị
quốc phòng sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc phòng khi
nhà nước cấp trên yêu cầu.
d. Quá trình hình thành công ty xây dựng công trình 56.
Sau đại thẳng mùa xuân năm 1975 cùng với toàn Đảng, toàn dân và
toàn quân. Các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi
nhiệm vụ giải phóng dân tộc thống nhất đất nước đưa cả nước tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới quân đội thực
hiện nhiệm vụ chiến lược là bảo vệ tổ quốc và xây dựng thành công CNXH
trên phạm vi cả nước.
Trước yêu cầu nhiệm vụ mới của cách mạng của quân đội tháng
06/1982 Quân uỷ trung ương BQP quyết định chuyển việc chỉ đạo xây dựng
cơ bản từ tổng cục hậu cần về BQP và thành lập Binh đoàn 11.
Quyết định trên của BQP phù hợp với yêu cầu mới của quân đội phù
hợp với phát triển của ngành xây dựng cơ bản đồng thời đáp ứng được
nguyện vọng chính đáng của cán bộ chiến sỹ công nhân viên. Để đảm bảo có
mô hình tổ chức phù hợp. Bình đoàn tập hợp chuyển nhập một số đơn vị cùng
chức năng nhiệm vụ tương đương thành lập các cơ sở Binhd doàn 11.
17
SVTH: Hứa Thị Khiêm - QT5B
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status