Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam trong xu thế hội nhập hiện nay - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà
phê của Tổng công ty cà phê Việt Nam
trong xu thế hội nhập hiện nay

Lời mở đầu

Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Hàng năm

Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lê nin, đề tài sử dụng các phương pháp thống kê so sánh, phương
pháp phân tích tổng hợp trong quá trình thực hiện.
Nội dung và kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm có 3 chương.
Chương 1: Vai trò của xuất khẩu cà phê với sự phát triển kinh tế xã hội Việt
Nam.
Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của Tổng công ty cà phê
Việt Nam trong thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu cà phê
của Tổng công ty cà phê Việt Nam trong quá trình hội nhập.

Chương I
vai trò của xuất khẩu cà phê với sự phát triển kinh tế xã hội

1.Khái quát tình hình cà phê thế giới và việt nam
1.1. Giới thiệu sản phẩm cà phê:
Cà phê là loại đồ uống được ưa thích ở hầu hết các nước trên thế giới, nó là sản
phẩm nhiệt đới nhưng lại tiêu thụ nhiều ở các nước ôn đới. Ngày nay cà phê được sử
dụng rộng rãi vì trong hạt cà phê nhân sống thông thường có chứa 1 - 2,5% chất cafein
có tác dụng kích thích thần kinh, tăng cường hoạt động của tế bào não. Ngoài ra trong

trồng cà phê là có tầng dày từ 70cm trở lên, thoát nước tốt, không bị úng lầy. Đất trồng
cà phê có thể có nguồn gốc địa chất khác nhau.
Cà phê có thể phát triển trên tàn dư núi lửa mà phần lớn là tro như ở Trung Mỹ,
trên đất có tầng phong hóa như Braxin. ở đó người ta trồng trên đất phát triển từ đá mẹ,
bazan hoặc sa thạch. ở Tây Phi, ấn Độ chủ yếu trồng trên đất granit. ở Việt Nam, các
loại đất như granite, sa phiến thạch, phù sa cổ, dốc tụ đều trồng được cà phê. Phần lớn
cà phê ở Việt Nam được trồng trên đất bazan như ở Đăk Lăk, Gia Lai, Đồng Nai, Lâm
Đồng, Phủ Quỳ (Nghệ An), miền trung du và vùng núi phía Bắc. Cũng có những vùng
cà phê trồng trên vùng đất granite như EaKa (Đăk Lăk), trên vùng đất xám pha granite
như Đăk Uy (Kon Tum). Các vùng trung du và miền núi phía Bắc nước ta trồng cà phê
chủ yếu trên đất có nguồn gốc từ đá thạch.
Địa hình trồng cà phê thường bằng phẳng hoặc lượn sóng. Những nơi địa hình có
độ dốc > 15
0
phải xử lý tốt công trình xói mòn, không được trồng cà phê vào vùng trũng
không thoát nước được.
Dù trồng cà phê trên loại đất nào thì vai trò của con người có tính quyết định trong
việc duy trì, bảo vệ, nâng cao độ phì nhiêu của đất. Ngay cả trên đất bazan, nếu không
được chăm sóc tốt thì cà phê vẫn không phát triển được. Ngược lại, những vùng đất
không phải là bazan, nếu tăng cường thâm canh vẫn có thể tạo nên khả năng vườn cây
phát triển tốt, năng suất cao.
1.2.2. Khí hậu:
Không phải vùng nào trên trái đất cũng trồng được cà phê. Cà phê chỉ trồng được
ở những vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Ngoài yếu tố đất đai, cây cà phê còn đòi hỏi một
số yêu cầu về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, ánh sáng, gió. Vì vậy, khi chọn vùng trồng
cà phê phải chú ý đến các yếu tố quan trọng này.
- Nhiệt độ: Phạm vi nhiệt độ phù hợp với mỗi giống cà phê có khác nhau. Cà phê

đầu tiên ở Matinique và vùng Swriname vùng đảo Caribê. Kể từ đó nó được trồng rộng
khắp vành đai nhiệt đới, cận nhiệt đới và Châu Mỹ la tinh. Sau này dù cà phê được nhân
rộng ở châu á, châu Phi nhưng Mỹ la tinh vẫn chiếm 2/3 sản lượng sản xuất và xuất
khẩu cà phê thế giới.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 75 quốc gia trồng cà phê, trong đó có khoảng 51
nước xuất khẩu cà phê. Những nước trồng cà phê chủ yếu là những quốc gia đang hoặc
chậm phát triển. Tổng diện tích cà phê thế giới niên vụ 2000/2001 đạt 11,75 triệu ha
(tăng 2,2% so với niên vụ 1999/2000). Sản lượng cà phê nhân hàng năm biến động
trong khoảng 6,5 - 7,0 triệu tấn. Theo số lượng thống kê của FAO, niên vụ 2000/2001
sản lượng cà phê thế giới đạt 7,259 triệu tấn, tăng 6,0% so với niên vụ trước, trong đó
các nước Nam Mỹ và vùng Caribê đạt 4,175 triệu tấn (chiếm 57,6% sản lượng thế giới),
các nước Châu á là 1,78 triệu tấn ( chiếm 24,8%), còn lại là Châu Phi - 1,22 triệu tấn
(chiếm 16,8%). Nước có diện tích và sản lượng cà phê lớn nhất thế giới là Braxin-
chiếm tới 20% diện tích và 25% sản lượng cà phê thế giới. Thứ hai là Colombia (13%),
Việt Nam (7,2%), Indonesia (7%), Mexico (5,3%), ấn độ (4,5%) và Guatemala 4.2%.
Chính sự tăng giảm cà phê của các nước này sẽ chi phối trực tiếp đến tình hình cung -
cầu và giá cả cà phê trên thế giới.
Năng suất cà phê trên thế giới hàng năm đạt rất thấp - bình quân khoảng
600kg/ha. Gần đây nhiều nước đã tích cực áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ, lai
tạo ra các bộ giống cà phê mới, tăng mật độ trồng cà phê dày hơn, giải quyết tốt khâu
nước tưới nên năng suất cà phê tăng lên đạt đến 1 tấn/ha. Nước có năng suất cà phê
nhân cao nhất thế giới là Việt Nam đạt đến gần 2,0 tấn/ha.
Trong giai đoạn 1994 - 2005, do giá cà phê trên thị trường thế giới tăng lên đã
kích thích việc mở rộng sản xuất nên sản lượng cà phê dự tính tăng 2,7%/năm. Nhưng
sau đó do giá giảm nên sản lượng sẽ giảm dần và đạt nhịp độ tăng trưởng khoảng
1,5%/năm trong giai đoạn 2005 - 2010. Theo dự đoán của FAO, sản lượng cà phê toàn
cầu năm 2005 sẽ đạt 7,31 triệu tấn và năm 2010 sẽ là 8,0 triệu tấn. Khu vực sản xuất cà

106,40 107,60 108,02 109,74 118 123,82
Nguồn: Tổng công ty cà phê Việt Nam
Qua bảng thống kê trên ta thấy rằng quan hệ cung - cầu cà phê trên thế giới bị
mất cân đối trong giai đoạn 2000- 2003. Trong những năm này lượng cung cà phê luôn
cao hơn cầu, chính điều này là nguyên nhân khiến cho giá cà phê trên thế giới trong giai
đoạn này giảm mạnh. Tuy nhiên đến 2 niên vụ gần đây 2004 và 2005 lượng cung và cầu
cà phê thế giới đã cân bằng , đặc biệt niên vụ 2005 lượng cầu đã vượt cung, nguyên
nhân là do hạn hán kéo dài ở các nước Châu á và một số nước Nam Mỹ nên sản lượng
cà phê thế giới giảm mạnh điều này đã làm cho giá cà phê thế giới những tháng đầu
năm 2005 tăng mạnh có khi lên trên 1000 USD/tấn. Còn theo dự đoán của FAO thì năm
2010 nhu cầu cà phê thế giới sẽ là 123,82 triệu bao, trong khi đó lượng cung là 133,33
triệu bao. Như vậy, theo FAO thì trong những năm tới giá cà phê thế giới vẫn khó có
thể tăng cao.
Trong những nước có nhu cầu cao về cà phê thế giới thì những quốc gia phát triển
có nhu cầu tiêu thụ khoảng 4,711 triệu tấn (năm 2005). Trong đó các nước Châu ÂU là
2,736 triệu tấn. Các nước Châu á có nhu cầu tiêu thụ khoảng 400.000 tấn. Cũng theo dự
báo của FAO thì cà phê xuất khẩu năm 2005 sẽ là 5,696 triệu tấn cao hơn mức 5,1 triệu
tấn năm 2000 và đạt mức tăng trung bình hàng năm khoảng 2%/năm còn nhập khẩu cà
phê thế giới năm 2005 sẽ là 5,149 triệu tấn tăng khoảng 1,9%/năm. Đến năm 2010 thì
xuất khẩu cà phê thế giới đạt khoảng 6,3 triệu tấn với mức tăng bình quân là 2,2%/năm,
còn nhu cầu nhập khẩu là 5,72 triệu tấn với mức tăng bình quân là 2,05%/năm. Đối với
các quốc gia phát triển thì nhu cầu về nhập khẩu cà phê tăng chậm hơn với mức tăng
trung bình hàng năm chỉ khoảng hơn 1%/năm. Nếu mức tăng trưởng kinh tế thế giới
phục hồi trở lại và có mức tăng trưởng cao hơn thì nhu cầu về nhập khẩu cà phê cũng có
thể tăng lên trong những năm tới.
1.3.3. Nhận xét chung về xu hướng thị trường cà phê thế giới.
Sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2004/2005 ước tính là 115,4 triệu bao. Theo sự
đánh giá của các chuyên gia thì sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2005/2006 được dự
đoán ở mức 110 triệu bao, giảm chút ít so với vụ 2004/2005. Nếu so với nhu cầu thì
dường như nguồn cung đang bị thiếu hụt nhưng chính lượng tồn kho lớn ở các nước tiêu

Trước Cách mạng tháng Tám, diện tích cà phê toàn quốc là 10.500 ha, sản lượng
năm cao nhất đạt 4.500 tấn. Hầu hết cà phê được xuất sang Pháp qua cảng nhập Le
Havre của Pháp.
* Thời kỳ kháng chiến chống pháp (1946 - 1954):
Thời kỳ này, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập ra các doanh điền quốc
gia quản lý những đồn điền cũ do Pháp mở ra.
Do chiến tranh, vùng trung du và miền núi là vùng tranh chấp nên một phần lớn
diện tích bỏ hoang. Đến năm 1954, diện tích cà phê cả nước còn lại khoảng 4.000 ha,
chủ yếu ở các tỉnh miền Nam, sản lượng cà phê còn khoảng 2.500 tấn, trong đó Tây
Nguyên sản xuất được 2.300 tấn.
* Thời kỳ chống Mỹ cứu nước (1955 - 1975):
Sau khi miền Bắc giải phóng Nhà nước chủ trương xây dựng các nông trường
quốc doanh trong đó có nông trường cà phê, chủ yếu tập trung ở Phủ Quỳ, Nghệ An.
Trong vòng 6 năm 1956 - 1962, diện tích cà phê từ 500 ha tăng lên 14.800 ha, sản lượng
từ 225 tấn tăng lên 4.850 tấn (1968). Cà phê Việt Nam chủ yếu xuất sang các nước Liên
Xô và Đông Âu.
ở miền Nam, tình hình cà phê không có nhiều biến động. Từ 1946 - 1957, cà phê
tăng không đáng kể, từ 3.019 ha lên 3.370 ha. Từ năm 1957 - 1964 Ngụy quyền Sài Gòn
chủ trương lập các khu định điền khuyến khích tư nhân khai hoang, nên diện tích tăng
nhanh từ 3.370 ha(năm 1957) lên 11.120 ha(năm 1964). Năm 1963, sản lượng cà phê
đạt 3.000 tấn, năm 1973 trên 3.500 tấn, đại bộ phận cà phê được tiêu dùng trong nước,
xuất khẩu không đáng kể.
* Thời kỳ 1976 đến nay:
Sau khi nước nhà hoàn toàn thống nhất, Nhà nước đã quan tâm đúng mức đến việc
phát triển ngành cà phê. Để đưa ngành cà phê trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn,
Nhà nước đã thành lập Liên hiệp các Xí nghiệp cà phê Việt Nam, ở các địa phương đều
có các công ty cà phê, đưa vào phát triển kinh tế về quy mô, tốc độ và các dự án đầu tư

Hiện nay nước ta đang trong tiến trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế nên phải
cam kết mở rộng thị trường, nới lỏng tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan. Theo lịch trình
thực hiện AFTA từ 1/7/2003, thuế nhập khẩu cà phê thành phẩm giảm từ 50% xuống
còn 20%. Hiệp định khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - Asean quy định: thuế nhập
khẩu sẽ giảm xuống 0% đối với Trung Quốc vào năm 2010 và vào năm 2015 đối với
các nước Việt Nam, Lào, campuchia, Myanma. Lộ trình cắt giảm này đang được đàm
phán để đẩy nhanh hơn nữa. Như vậy việc nhập cà phê thành phẩm của các doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cà phê Việt Nam từ Lào và Trung Quốc sẽ có tác
động tích cực. Việc giảm thuế nhập khẩu cà phê thành phẩm để phục vụ cho chế biến
xuất khẩu sẽ làm giảm giá thành cà phê xuất khẩu của các doanh nghiệp. Tuy lượng cà
phê thành phẩm nhập khẩu là không đáng kể, nhưng điều này cũng làm cho việc kinh
doanh xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam có thêm điều
kiện thuận lợi để kinh doanh mặt hàng cà phê trên thị trường quốc tế.
2.1.2. Cầu và thị trường nước nhập khẩu.
Cũng như bất kỳ một loại hàng hoá nào khác, cà phê xuất khẩu cũng chịu ảnh
hưởng bởi cầu của nước nhập khẩu. Khi các nước nhập khẩu có nhu cầu cao về cà phê
sẽ giúp cho nước xuất khẩu cà phê thúc đẩy xuất khẩu cà phê của mình. Nhưng nhu cầu
từ nước nhập khẩu không chỉ là nhu cầu chung về cà phê mà là nhu cầu về loại cà phê
nào. Như chúng ta đã biết cà phê có loại cà phê Arabica(cà phê chè), Robusta(cà phê
vối). Việt Nam là nước chủ yếu sản xuất cà phê vối, nếu nước nhập khẩu cà phê có nhu
cầu cao loại cà phê này thì sẽ thúc đẩy xuất khẩu cà phê của chúng ta, còn nếu nước
nhập khẩu có nhu cầu cao về cà phê nhưng lại là loại cà phê chè thì cũng không làm
tăng xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
Dung lượng của thị trường nước nhập khẩu về cà phê cũng ảnh hưởng lớn tới
hoạt động xuất khẩu cà phê. Nếu nước nhập khẩu có nhu cầu về cà phê nhưng dung
lượng của thị trường này không lớn thì lượng cà phê được nhập vào thị trường này cũng
không lớn và cũng không làm tăng xuất khẩu cà phê của nước nhập khẩu là bao nhiêu.

Việc quy hoạch vùng trồng cà phê hợp lý sẽ giúp cho chúng ta khai thác được lợi
thế vùng trong sản xuất cà phê. Nâng cao được năng suất, chất lượng của cà phê, qua đó
tạo điều kiện thuận lợi cho chế biến và xuất khẩu cà phê.
Công nghệ chế biến cũng ảnh hưởng tới xuất khẩu cà phê. Nếu chúng ta có được
công nghệ chế biến cà phê hiện đại với công suất lớn thì chúng ta sẽ nâng cao được giá
trị của cà phê xuất khẩu. Tạo ra sức cạnh tranh mạnh cho cà phê xuất khẩu của chúng ta
so với các nước xuất khẩu cà phê khác.
Việc phân bố các nhà máy chế biến, các cơ sở kinh doanh cà phê cũng như các
vùng sản xuất cà phê hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình vận chuyển, chế
biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê. Qua đó sẽ giảm được chi phí trong hoạt động,
tăng khả năng cạnh tranh của cà phê xuất khẩu trên thị trường cà phê thế giới.
Ngoài ra các yếu tố cơ sở hạ tầng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới xuất khẩu cà
phê. Nếu có được cơ sở hạ tầng tốt thì giúp cho việc vận chuyển cà phê từ nơi sản xuất
tới nơi chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê thuận tiện. Cơ sở hạ tầng tốt cũng tạo
điều kiện giúp cho việc chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê thuận lợi. Góp phần
nâng cao khả năng cạnh tranh của cà phê xuất khẩu, qua đó nâng cao được kết quả và
hiệu quả của cà phê xuất khẩu.
2.1.6. Các nhân tố thuộc về quản lý.
Có thể nói con người có ý nghĩa quyết định trong mọi vấn đề, đặc biệt là trong
kinh doanh. Với kinh doanh xuất khẩu cà phê cũng vậy, cho dù có đầy đủ các nhân tố
thuận lợi khác nhưng nếu như không có những công nhân lành nghề, có khả năng vận
dụng khoa học kỹ thuật hay khả năng sử dụng máy móc trang thiết bị hiện đại trong sản
xuất chế biến cà phê thì cũng làm cho hoạt động xuất khẩu cà phê không có hiệu quả.
Ngoài ra, cho dù chúng ta có được mặt hàng cà phê có chất lượng và có sức
cạnh tranh cao nhưng không có người am hiểu về kinh doanh xuất nhập khẩu để tham
gia quản lý điều hành công việc kinh doanh xuất nhập khẩu thì xuất khẩu cà phê của
chúng ta cũng không thể có được kết quả tốt.

các nước nhập khẩu thì giảm nhu cầu từ cà phê, qua đó nước xuất khẩu cà phê có thể
xuất khẩu với lượng ít đi nhưng giá trị lại tăng lên, đem lại hiệu quả cao cho hoạt động
xuất khẩu cà phê.
2.2.3. Công nghệ chế biến của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp có công nghệ chế biến hiện đại thì sản phẩm chế biến của
doanh nghiệp sẽ có sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường xuất khẩu. Năng suất lao
động được nâng lên, chất lượng hàng hoá được tốt hơn, giá trị gia tăng trong mỗi đơn vị
hàng hoá sẽ cao hơn. Qua đó sẽ tạo cho doanh nghiệp được lợi thế cạnh tranh tiêu thụ
tốt hàng hoá của mình trên thị trường thế giới, lợi nhuận sẽ tăng lên qua việc tăng năng
suất lao động và giá trị gia tăng trong mỗi đơn vị sản phẩm. Vì thế sẽ thúc đẩy doanh
nghiệp xuất khẩu sản phẩm của mình. Ngược lại nếu doanh nghiệp chế biến xuất khẩu
cà phê có máy móc, trang thiết bị và công nghệ lạc hậu thì các sản phẩm xuất khẩu của
doanh nghiệp sẽ không có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới, đặc biệt là trong
môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ
chỉ là sản phẩm thô, cà phê nhân có giá trị và chất lượng thấp nên sẽ bị ép giá. Qua đó
sẽ kìm hãm xuất khẩu của doanh nghiệp và cũng làm ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê
của cả ngành, đặc biệt với đơn vị lớn của ngành như Tổng công ty Cà Phê Việt Nam.
2.2.4. Nguồn lực tài chính của công ty.
Nguồn lực tài chính là yếu tố rất quan trọng đối với bất kỳ công ty nào đặc biệt là
những công ty tham gia xuất khẩu cà phê. Nếu không có đủ nguồn lực tài chính thì các
công ty xuất khẩu cà phê sẽ không thể dự trữ cà phê lâu để chờ đợi thời cơ thuận lợi để
xuất khẩu và như vậy sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh xuất khẩu
cà phê của các công ty. Mặt khác khi không đủ nguồn lực tài chính thì các công ty
không thể tiến hành các biện pháp liên quan đến xúc tiến bán hàng và tìm kiếm thị
trường xuất khẩu như thế sẽ làm giảm khả năng xuất khẩu cà phê của công ty và góp
phần ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê của cả ngành.
2.2.5. Nguồn nhân lực của công ty.

- Hiện nay Việt Nam có diện tích trồng cà phê rất lớn với khoảng 500.000 ha, với
sản lượng hàng năm đạt khoảng 800.000-900.000 tấn. Năng suất bình quân đạt gần 2
tấn/ha.
- Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ. Hơn nữa Việt Nam là
nước nông nghiệp, người nông dân có kinh nghiệm trồng cây lâu năm, khả năng nắm
bắt kỹ thuật và chăm sóc các loại cây công nghiệp dài ngày như cà phê là rất tốt.
* Tiềm năng lợi thế về xuất khẩu.
- Nhu cầu về cà phê trên thế giới không ngừng tăng lên, mà sản lượng cà phê của
Việt Nam là khá lớn trong khi nhu cầu trong nước về cà phê là không cao. Nên khả
năng cung cấp cà phê của Việt Nam cho thị trường thế giới là cao.
- Cùng với chính sách và đường lối mở cửa và chỉ đạo phát triển kinh tế sáng
suốt của Đảng và Nhà nước thì thị trường cho cà phê Việt Nam cũng không ngừng được
mở rộng.
- Cà phê xuất khẩu của Việt Nam được Nhà nước hỗ trợ về tài chính và các chính
sách hỗ trợ gián tiếp khác nên các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam có đủ khả
năng tài chính để tìm kiếm, xâm nhập các thị trường mới.
3.2. Vai trò của xuất khẩu cà phê với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam.
Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam thì cà phê là mặt hàng
có nhiều lợi thế và cũng là mặt hàng xuất khẩu chiến lược của chúng ta. Vì vậy khi
nghiên cứu vai trò của xuất khẩu cà phê với kinh tế xã hội thì nó có vai trò sau:
a. Vai trò đối với kinh tế.
- Đối với nền kinh tế.
+ Xuất khẩu cà phê mỗi năm đem về cho nền kinh tế chúng ta một lượng ngoại tệ
lớn, khoảng 500 triệu USD. Xuất khẩu cà phê góp phần không nhỏ vào việc thực hiện
mục tiêu của chiến lược xuất nhập khẩu nói riêng và mục tiêu phát triển chiến lược kinh
tế xã hội nói chung của đất nước. Mặt khác, xuất khẩu cà phê còn góp phần giúp tạo vốn
cho đầu tư máy móc trang thiết bị cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh

làm giàu trên chính mảnh đất của mình.
+ Ngoài ra việc trồng cà phê xuất khẩu còn giúp họ giải quyết được việc làm cho
người nhà trong thời buổi nông nhàn. Bên cạnh đó việc xuất khẩu cà phê còn giúp cho
người nông dân trồng cà phê được Nhà nước cũng như doanh nghiệp đầu tư vốn, giống
và kỹ thuật chăm sóc làm cho họ nâng cao năng suất lao động, cây trồng và chất lượng
sản phẩm qua đó tăng thu nhập cho chính họ.
b. Vai trò đối với xã hội.
Cà phê là một ngành sử dụng nhiều lao động cả trong sản xuất cũng như chế
biến. Theo Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa) thì ngành sản xuất, xuất khẩu cà
phê mỗi năm thu hút 600.000 đến 700.000 lao động, thậm chí vào vụ thu hoạch số lao
động có thể lên tới 800.000 lao động. Chính điều này đã giải quyết nhiều vấn đề xã hội,
đặc biệt những vùng trồng cà phê lại là những vùng tập trung nhiều đồng bào dân tộc
thiểu số và vùng đồng bào khó khăn như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Vùng núi phía
Bắc
Ngoài ra vụ thu hoạch cà phê thường vào tháng 9, tháng 10 khi mà vụ thu hoạch
lúa chưa tới nên việc thu hoạch cà phê sẽ thu hút thêm nhiều lao động trong thời buổi
nông nhàn, tạo cho người nông dân không những có việc làm, có thu nhập mà còn giúp
họ tránh mắc phải những tệ nạn xã hội vô ích khác như rượu chè, cờ bạc, gây gổ mất
trật tự Như người ta vẫn thường nói “Nhàn cư vi bất thiện”.
Như vậy, xuất khẩu cà phê giúp cho chúng ta giải quyết nhiều vấn đề xã hội như
việc thực hiện kế hoạch xóa đói giảm nghèo, giảm các tệ nạn xã hội
c. Vai trò đối với môi trường.
Như chúng ta đã biết, cà phê là loại cây thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng của
vùng đồi núi, vùng đất đỏ, những vùng mà có ít loại cây có thể thích ứng được với điều
kiện thổ nhưỡng ở đó. Chính vì vậy việc cây cà phê được trồng ở những vùng này sẽ
giúp chúng ta phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ được môi trường sinh thái. Tuy
nhiên việc chế biến cà phê còn có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, nhất là


chương II: thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của tổng công ty cà phê việt nam
trong thời gian qua.
1. Thực trạng hoạt động xuất khẩu của cà phê việt nam trong thời gian qua.
1.1. Tình hình sản xuất của cà phê Việt Nam trong thời gian qua.
Kể từ khi cây cà phê được trồng ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1857. Đến nay
diện tích cà phê của Việt Nam không ngừng được tăng lên qua các năm. Nếu sau ngày
giải phóng cả nước chỉ có khoảng 20.000 ha chủ yếu là ở hai tỉnh Gia Lai KonTom và
Đăk Lăk với sản lượng chỉ khoảng 4.000 - 5.000 tấn. Năm 1992, năm mà giá cà phê thế
giới xuống thấp kỷ lục, sau đó giá cà phê được phục hồi mọi người đua nhau mua đất
trồng cà phê làm cho diện tích trồng cà phê của Việt Nam tăng mạnh. Năm 2000 diện
tích trồng cà phê của cả nước là 500.000 ha với sản lượng lên tới 80 vạn tấn mỗi năm.
Bảng 2 : Diễn biến diện tích và sản lượng cà phê của Việt Nam trong những
niên vụ vừa qua.
Niên vụ Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
1999/2000 520.000 700.000
2000/2001 500.000 900.000
2001/2002 450.000 650.000
2002/2003 460.000 680.000
2003/2004 480.000 900.000
2004/2005 500.000 800.000
Nguồn: Tổng công ty cà phê Việt Nam.
Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam
1.2. Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
Cùng với sự mở cửa phát triển kinh tế của đất nước, thị trường cà phê xuất khẩu
Việt Nam cũng được mở rộng. Tính đến năm 2003 cà phê Việt Nam đã xuất khẩu sang
khoảng 60 nước và vùng lãnh thổ, gồm 65 hãng. Trong đó có những công ty kinh doanh


5.
Italia 27.796.789

6,88

6.
Pháp 20.147.381

4,99

7.
Ba lan 17.171.839

4,25

8.
Nhật Bản 13.274.686

3,29

9.
Anh 13.055.058

3,02

10.
Hàn Quốc 11.310.104

2,80

Tây Ban Nha 36.819.818

8,65

5.
Ba Lan 35.279.792

8,27

6.
Italia 32.947.315

7,47

7.
Pháp 24.008.977

5,6

8.
Hàn Quốc 22.138.266

5,11

9.
Anh 14.670.583

3,46

10.

thị trường mới thì chúng ta cũng cần phải giữ vững các thị trường cũ, những thị trường
lớn mà cà phê Việt Nam đã có được chỗ đứng trong thời gian qua.
1.3. Kết quả xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong thời gian qua.
1.3.1. Kim ngạch xuất khẩu.
Những năm trước đây cà phê là một ngành nhỏ có đóng góp khá khiêm tốn trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, trong những năm gần đây cà phê
đã vươn lên trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch lên tới 500
triệu USD lần đầu tiên vào năm 1995 và cho đến nay hàng năm kim ngạch xuất khẩu cà
phê trung bình hàng năm vẫn giữ vào khoảng 500 triệu USD/năm.

Bảng 4: Tình hình xuất khẩu cà phê Việt Nam giai đoạn 2000 - 2005
Năm Số lượng
(tấn)
Tốc độ
tăng (%)
Giá cả trung
bình (USD)
Giá trị (USD) Tốc độ tăng
(%)
2000 705.300 9,11 658,36 464.342.000 -
2001 844.452 19,7 459,46 388.094.000 -16,43
2002 702.017 -16,87 427,81 300.330.686 -22,62
2003 693.863 - 1,17 643,56 446.547.298 48,68
2004 889.705 28,22 647,5 576.087.360 29,01

xuống chỉ còn 427,81 USD/1tấn, điều này không khuyến khích các doanh nghiệp xuất
khẩu cà phê, cộng với vụ này cà phê Việt Nam bị mất mùa nên số lượng cà phê xuất
khẩu trong năm này cũng giảm 16,87% xuống còn 702.017 tấn. Chính hai nguyên nhân
này đã khiến cho giá trị xuất khẩu năm 2002 giảm mạnh xuống chỉ còn hơn 300 triệu
USD. Tuy nhiên một năm sau đó giá cà phê thế giới bắt đầu tăng trở lại, điều này giúp
cho giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam năm 2003 tăng hơn 50% so với giá năm 2002.
Vì vậy mặc dù khối lượng xuất khẩu trong năm này có giảm nhẹ so với năm 2002 (giảm
1,7%), nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng mạnh, tăng 48,68% so với năm 2002,
tương đương với khoảng hơn 146,2 triệu USD giúp cho các đơn vị kinh doanh cà phê
trong nước cũng như người nông dân trồng cà phê lấy lại được niềm tin vào cây cà phê.
Tuy nhiên, giá cà phê trên thị trường thế giới vẫn biến động phức tạp, trong niên vụ
2002/2003 tại sàn giao dịch London có những ngày giá cà phê chênh lệch tới +/- 50
USD/tấn trong một phiên giao dịch. Như vậy giá cà phê thế giới không chỉ chịu tác
động của quy luật cung cầu mà nó còn bị chi phối bởi các nhà đầu cơ trên thị trường.
Một lần nữa chúng ta thấy được cà phê xuất khẩu của Việt Nam gặp không ít khó khăn,
thách thức. Hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam chịu tác động của rất nhiều yếu
tố. Do đó để cho cà phê vẫn duy trì được là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
thì cần có các biện pháp và nỗ lực từ phía Nhà nước, doanh nghiệp và cả người nông
dân.
Năm 2005, sản lượng xuất khẩu của cả nước đạt 834.079 tấn giảm 6,26% so với
năm 2004. Bên cạnh đó, do giá xuất khẩu tăng cho nên kim ngạch xuất khẩu đạt được
612.142.604 USD tăng 6,25% so với năm 2004. Nguyên nhân của sự tăng giá và giảm
sản lượng cà phê xuất khẩu là do hạn hán kéo dài ở các nước Châu á và một số nước
Nam Mỹ . Chính điều này đã làm cho giá cà phê Robusta thế giới tăng mạnh vào những
tháng đầu năm 2005, có khi giá cà phê Robusta thế giới lên tới trên 1000 USD/tấn, còn
giá cà phê trong nước có khi lên tới trên 15.000 đồng/kg. Có nhiều khi giá cà phê trong
nước cao hơn giá cà phê xuất khẩu gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu cà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status