Xây dựng chiến lược trong quản trị sản xuất tại Công ty Vận tải dầu khí - Pdf 10

Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
Lêi më §Çu
Mọi tổ chức, mọi doanh nghiệp đều phải lập kế hoạch hoạt động, xây dựng
chiến lược và từ đó tổ chức thực thi chiến lược. Đối với các doanh nghiệp trong
nền kinh tế Thị trường với sự tồn tại và điều tiết của những quy luật khách quan
như: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, giá cả… đòi hỏi phải cung cấp những
thông tin một cách chính xác, kịp thời và toàn diện thì công tác này có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như ngày nay, người xây dựng chiến lược
phải tính đến nhiều yếu tố khách quan bên ngoài và chủ quan bên trong doanh
nghiệp. Đồng thời phải phân tích những yếu tố đó một cách khoa học và có hệ
thống để làm cơ sở, căn cứ cho công tác xây dựng chiến lược hoạt động kinh doanh
cho doanh nghiệp trong dài hạn và ngắn hạn sao cho chiến lược lập ra mang lại
hiệu quả cao nhất cho xã hội nói chung và cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nói riêng. Hơn nữa do ảnh hưởng của các yếu tố môi trường luôn thay đổi,
cạnh tranh và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành
kinh tế nên công tác xây dựng chiến lược không ngừng đổi mới cho phù hợp với
điều kiện kinh tế Thị trường. Vì đó mà việc xây dựng chiến lược, lập kế hoạch
ngày càng phải được chú trọng.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác xây dựng chiến lược nên cũng
như các doanh nghiệp khác, Công ty Vận tải dầi khí thực sự chú trọng đến công tác
này. Bởi lẽ dầu mỏ và khí thiên nhiên vốn là tài nguyên quý hiếm và không thể tái
tạo được. Hiện nay và trong nhiều thập niên kế tiếp dầu khí vẫn là nguồn năng
lượng, nhiên liệu và quan trọng của nước ta và các nước khác trên Thế giới. Ngành
Dầu khí nói chung và Công ty vận tải Dầu khí nói riềng thường xuyên chú trọng
xây dựng chiến lược để có thể đảm bảo cho Công ty hoạt động có hiệu quả và nắm
1
11
Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
thế chủ động trong kinh doanh từ đó có sức cạnh tranh với các đối thủ trong nước
cũng như trên trường quốc tế.

Thực chất của quản trị sản xuất là quá trình biến đổi, chế biến, chuyển hóa các
yếu tố đầu vào thành hàng hóa hoặc dịch vụ mong muốn, đáp ứng nhu cầu xã hội.
1.2/ Nội dung của Quản trị sản xuất :
Quản trị sản xuất bao gồm các nội dung sau :
a / Xây dựng chiến lược trong quản trị sản xuất
Chiến lược kinh doanh là chiến lược nhằm đảm bảo sự thành
công của Công ty. Một chiến lược tốt là chiến lược trong đó công ty có thể chiếm
được lợi thế chắc chắn so với các đối thủ cạnh tranh với chi phí có thể chấp nhận
được. Vì vậy hoạch định chiến lược là một công việc không thể thiếu của người
quản trị nói chung và người quản trị sản xuất nói riêng.Công tác xây dựng chiến
lược trong doanh nghiệp là một hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng và chiếm
vị trí quan trọng hàng đầu. Bởi nếu không có chiến lược thì doanh nghiệp không
thể thực hiện bất kì việc gì có hiệu quả cao được.
b / Dự đoán cầu đối với hàng hóa hoặc dịch vụ
3
33
Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
Đây là nội dung quan trọng đầu tiên, là xuất phát điểm của Quản trị sản xuất.
Tìm hiểu, nghiên cứu tình hình thị trường,dự báo nhu cầu sản phẩm để trả lời câu
hỏi cần sản xuất sản phẩm gì? Bao nhiêu? Vào thời gian nào? Những đặc điểm kinh
tế - kỹ thuật cần có của sản phẩm là gì? Kết quả dự báo cho thấy số lượng sản
phẩm cần sản xuất trong từng thời kì, trên cơ sở đó xác định các kế hoạch sản xuất
sản phẩm và khả năng sản xuất cần có. Đây là căn cứ để xác định có nên sản xuất
hay không nên sản xuất. Nếu tiến hành sản xuất thì cần thiết kế hệ thống sản xuất
như thế nào để đảm bảo thỏa mãn được nhu cầu đã dự báo một cách tốt nhất. Tất cả
các hoạt động thiết kế, hoạch định và tổ chức điều hành hệ thống sản xuất đều phải
căn cứ vào dữ liệu dự báo và nhằm đáp ứng nhu cầu sản phẩm trên thị trường.
c / Lựa chọn địa điểm và bố trí mặt bằng doanh nghiệp
Ngày nay lựa chọn địa điểm và bố trí mặt bằng doanh nghiệp được coi là nội
dung không thể thiếu của QTSX. Hầu hết các doanh nghiệp đều coi định vị doanh

chuyền sản xuất, đảm bảo sản xuất đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của người tiêu
dùng trong bất kỳ tình huống nào nên doanh nghiệp có ý tăng dự trữ, nhưng ngược
lại dự trữ tăng lên doanh nghiệp phải tốn thêm những chi phí khác có liên quan đến
dự trữ. Do đó doanh nghiệp phải tìm cách xác định điểm cân bằng giữa mức độ đầu
tư cho hàng dự trữ và lợi ích thu được do thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và nhu cầu
của hàng tiêu dùng với chi phí thấp nhất.
Hàng dự trữ và hàng tồn kho của doanh nghiệp có nhiều loại và nó phụ thuộc vào
từng loại hình doanh nghiệp. Vì vậy từng doanh nghiệp có nội dung và cách kiểm
soát hàng dự trữ khác nhau.
f / Xây dựng kế hoạch sản xuất và cung ứng sản phẩm cho doanh nghiệp
Trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải phân
tích đặc điểm sản phẩm và khả năng sản xuất để xác định xem nên tién hành sản
xuất hay đặt hàng gia công bên ngoài. Quyết định được lựa chọn không chỉ căn cứ
vào nhu cầu sản phẩm mà còn căn cứ vào khả năng sản xuất của doanh nghiệp.
5
55
Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá là chi phí sản xuất trên 1 đơn vị sản phẩm
có chất lượng tương tự nhau được khách hàng chấp nhận. Trường hợp khả năng
máy móc, thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp có thể tự sản xuất được nếu chi phí
tự sản xuất thấp hơn giá gia công với cùng loại sản phẩm có cùng chất lượng thì
nên đặt hàng gia công. Ngược lại, chi phí sản xuất thấp hơn hoặc tiến hành sản xuất
sẽ cho chất lượng sản phẩm cao hơn, giúp doanh nghiệp tận dụng được khả năng
sản xuất, mở rộng thị trường thì nên tiến hành sản xuất.
g / Quản trị tiến độ và kiểm soát sản xuất
Tiến độ sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Vì vậy bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải kiểm soát tiến độ sản
xuất của doanh nghiệp mình. Thực chất quản trị tiến độ là toàn bộ các hoạt động
xây dựng lịch trình sản xuất, điều phối, phân giao các công việc cho từng người,
nhóm người, từng máy và sắp xếp thứ tự các công việc ở từng nơi làm nhằm hoàn

II / Khái niệm chiến lược và nội dung của chiến lược
2.1 / Khái niệm chiến lược
Có nhiều cách định nghĩa về chiến lược. Thong thường có 3 khuynh hướng
sau
- Khuynh hướng 1: Coi chiến lược là 1 nghệ thuật
+ Chiến lược là nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để chống lại cạnh tranh và
dành thắng lợi.
+ Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc nhằm
phòng thủ.
- Khuynh hướng 2 : Theo quan điểm về phạm trù quản lý coi chiến lược là 1
dạng kế hoạch
+ Chiến lược là việc xác định những con đường và những phương tiện để đạt
tới các mục tiêu đã được xác định thông qua chính sách.
7
77
Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
+ Chiến lược là những kế hoạch tổng quát dẫn dắt hoặc hướng doanh nghiệp
đi đến những mục tiêu mong muốn. Nó là cơ sở cho việc định ra các chính sách và
các thủ pháp tác nghiệp.
+ Chiến lược là một loại kế hoạch mang tính thống nhất, toàn diện và tổng
hợp được thiết kế để đảm bảo các mục tiêu của doanh nghiệp sẽ được thực hiện.
- Khuynh hướng 3 : Khuynh hướng này là sự kết hợp của 2 khuynh hướng 1
và 2
+ Chiến lược là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng đạt
tới các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp
+ Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu dài hạn cơ bản của doanh
nghiệp đồng thời chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bổ các nguồn
lực thiết yếu của doanh nghiệp, tổ chức thực thi các mục tiêu đó.
Từ 3 khuynh hướng trên ta có thể định nghĩa về chiến lược 1 cách tổng quát như
sau:

- Môi trường kinh tế . Trong đó chúng ta phải phân tích các yếu tố sau
+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
+ Tỷ lệ lạm phát
+ Tỷ lệ thất nghiệp
+ Sự ổn định của đồng tiền
+ Xu hướng và thực tế đầu tư nước ngoài
+ Thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người
- Môi trường chính trị - luật pháp
Sự ổn định hay không ổn định về chính trị, sự thay đổi luật pháp và chính sách
quản lý vĩ mô có thể gây sức ép hay tạo cơ hội cho doanh nghiệp kinh doanh có
hiệu quả hơn. Phải nhận thức được nguy cơ hay cơ hội đối với từng loại thay đổi.
- Môi trường kỹ thuật và công nghệ
9
99
Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
Là yếu tố môi trường ảnh hưởng lớn đến chiến lược kinh doanh của ngành và
nhiều doanh nghiệp. Sự biến đổi công nghệ làm chao đảo nhiều lĩnh vực, ngược lại
nhưng lại làm xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới hoàn thiện hơn.
- Môi trường văn hóa – xã hội
Khi thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi,hay khi trình độ dân trí tăng cao thì
doanh nghiệp sẽ thế nào? Những nguy cơ đe dọa, những cơ hội nào có thể nắm bắt?
Nhiệm vụ của nhà quản lý phải phân tích kịp thời các thay đổi này. Có như vậy
thông tin mới đầy đủ và có hệ thống giúp cho hoạch định chiến lược có căn cứ toàn
diện hơn.
3.2/ Phân tích mối đe dọa của đối thủ mới và cường độ cạnh tranh của các doanh
nghiệp hiện có
Doanh nghiệp phải biết được đối thủ nào mới xuất hiện. Nó có bị cản trở
xâm nhập thị trường từ phía các đối thủ khác không? Có thể làm gì cản trở đối thủ
này.
Cường độ cạnh tranh đặc trưng bởi số lượng đối thủ cạnh tranh và tỷ trọng

hội (O),rủi ro ( T)
Ma trận này giúp ta phát bốn loại chiến lược:
+ Chiến lược điểm mạnh- cơ hội (SO)
+ Chiến lược điểm yếu - cơ hội (SW)
+ Chiến luợc điểm mạnh - nguy cơ(ST)
+ Chiến lược điểm yếu - nguy cơ(WT)
Bước 3: hình thành chiến lược
Bước này thực hiện tuần tự các công việc sau:
a/ Đề xuất chiến lược tổng quát, tức vạch ra mục tiêu chiến lược tổng quát
b/ Đưa ra chiến lược bộ phận dựa vào ma trân SWOT
c/ Đưa ra giải pháp thực hiện ý đồ chiến lược đã chọn
11
1111
Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
d/ Đưa ra các biện pháp cụ thể để triển khai giải pháp( đưa ra kế hoạch hoạt
động )
e/ Tính hiệu quả kinh tế của biện pháp
f/ Quyết định áp dụng biện pháp để khai triển ý đồ chiến lược( thực chất là đưa
biện pháp vào kế hoạch khoa học- công nghệ để chuẩn bị áp dụng)
V/ Sự cần thiết phải xây dựng chiến lược
Trước khi làm bất kì một công việc gì ta thường phải xác định hoặc trả lời
các câu hỏi như: làm việc đó để làm gì, làm bằng cách nào? Làm để làm gì? Vì vậy
doanh nghiệp trước khi quyết định sản xuất hoặc kinh doanh 1 mặt hàng nào đều
phải có sự tính toán phù hợp nhằm đảm bảo cho việc hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp có hiệu quả.
Doanh nghiệp cần thiết phải xây dựng các chiến lược kinh doanh để đạt được
những mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra. Các chiến lược được xây dựng ra giúp
doanh nghiệp có các cách đi đúng đắn, không bị sai lệch hoặc không cũng là sai
lệch ít nhất trong phạm vi cho phép . Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có
vai trò hết sức to lớn. Các chiến lược được coi như một mũi tên chỉ đường cho

Bảng 1. Trụ sở chính và các chi nhánh của Công ty
13
1313
Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
1.4 / Cơ sở pháp lý thành lập của Công ty :
- Quyết định thành lập Công ty Vận tải Dầu khí số 358/ QĐ-VPCP ngày
27/05/2002 củ Bộ trưởng, chủ nhiệm văn phòng Chính phủ.
- Quyết định số 2024/ QĐ-HĐQT ngày 19/09/2002 của Hội đồng Quản Trị
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của
công ty Vận tải Dầu khí.
- Quyết đình số 288/QĐ – HĐQT ngày 28/02/2003 của Hội đồng Quản trị
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam về việc bổ sung chức năng nhiệm vụ cho Công ty
Vận tải Dầu khí .
1.5 / Loại hình doanh nghiệp :
Công ty Vận tải Dầu khí ( PV Trans) là doanh nghiệp Nhà Nước, đơn vị
thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty dầu khí Việt Nam từ khi thành lập
đến 2006.
Đến năm 2007 doanh nghiệp có xu hướng tiến hành cổ phần hóa Vốn Nhà
nước chiến 51%
Công ty Vận tải dầu khí (PV Trans) có tư cách pháp nhân và con dấu riêng
và được mở tài khoản tại Ngân hàng
1.6 / Nhiệm vụ của doanh nghiệp :
- Kinh doanh vận tải dầu thô và các sản phẩm dầu khí.
- Tham gia đào tạo và cung ứng thuyền viên cho các tàu vận tải dầu khí.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
giao.
- Thuê và cho thuê tàu biển, phương tiện vận tải khác đối với các đối tác trong
và ngoài nước.
- Kinh doanh dịch vụ môi giới tàu biển, đại lý hàng hải, cung ứng tàu biển,
dịch vụ sửa chữa tàu biển, và dịch vụ hàng hải khác.

1515
Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
thời cũng nâng cao tính hiệu quả kinh doanh nên Công ty đã tiến hành cổ phần hóa
Công ty với 51% vốn Nhà nước.
1.8 / Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty
Đại hội cổ đông
Ban lãnh đạo
Ban kiểm soát
P.HC
P.TCNS
P.KHĐT
P.Kthác
P.Kthuật
P.TCKT
P.THPC
Ban DA
CNhánhVT
CNhánh HN
Hội đồng
Quản trị
Hình 1 : Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty
II/ Tình hình xây dựng chiến lược phát triển đội tàu giai đoạn 2006- 2015, định
hướng đến 2025 của Công ty.
Với định hướng phát triển chung của ngành Dầu khí là : “ Đưa dầu khí trở
thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
của đất nước những thập kỷ tới; tiếp tục xây dựng ngành dầu khí Việt Nam hoàn
chỉnh từ thăm dò, khai thác, chế biến, tàng trữ, phân phối, dịch vụ và xuất nhập
khẩu; tăng cường công tác tìm kiến- thăm dò- khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu
16
1616

Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
Nhu cầu về khí có mức tăng trưởng trung bình là 2,3%/năm với mức tiêu thụ
năm 2002 là 92.000tỷ m và dự báo đến 2025 là 156.000tỷ m. Mức tăng trưởng của
cả giai đoạn này là 69% và đóng góp vào mức tăng nhu cầu năng lượng của Thế
giới 23% lên 25%.
Riêng đối với LPG, nhu cầu tiêu thụ trên thị trường thế giới ngày càng tăng
cao; năm 1990 nhu cầu tiêu thụ chỉ khoảng 128,4 triệu tấn, đến năm 2002 là 201,4
triệu tấn và 2005 là 211 triệu tấn (nguồn: hãng Purvin &Gertz). LPG được sử dụng
làm chất đốt trong dân dụng,trong công nghiệp,nhiên liệu động cơ, các nhà máy
hóa dầu và một vài lĩnh vực khác.
Bắc Mỹ là nơi sản xuất LPG lớn nhất Thế giới (59,7 triệu tấn/năm) tuy nhiên
chỉ đáp ứng đủ cho nhu cầu ở khu vực này. Lượng LPG cung cấp cho thị trường
Thế giới chủ yếu là từ khu vực Trung Đông và Châu Á- Thái Bình Dương. Trong
đó khu vực Trung Đông là nơi xuất khẩu LPG lớn nhất thế giới.Ở khu vực Đông
Nam Á, các nước xuất khẩu LPG bao gồm: Indonesia, Thái lan, Singgapore và
Malaysia với khôiư lượng khoảng 4,5 triệu tấn/năm. Ở khu vực này LPG xuất khẩu
chủ yếu bằng tầu định áp nhỏ đén các thị trường Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh,
Sri Lanka và các nước Đông Nam Á khác.
Với trữ lượng dầu khí hiện nay,dự kiến thế giới có thể khai thác thêm khoảng
40năm nữa đối với dầu thô và trên 60năm đối với khí.
18
1818
Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
* Thương mại và vận tải dầu khí thế giới
Trên Thế giới, có một số vùng có tiềm năng sản suất dầu khí rất lớn không
chỉ thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ tại khu vực mà còn có khả năng cung cấp cho thị
trường một khối lượng đáng kể. Dầu khí sẽ được mua bán, vận chuyển từ nguồn
cung tới nơi có nhu cầu và tới vùng chưa đủ cầu. Hướng vận chuyển dầu sẽ thể
hiện tình trạng kinh tế, mức dự trữ và tình trạng mất cân bằng cung/ cầu về dầu khí
tại các khu vực. Các khu vực tiêu thụ nhiều dầu khí hiện nay là Bắc Mỹ, Châu Âu,

Các tuyến vận tải khác nhau thường không dùng chung một cỡ tầu nào mà mỗi
tuyến có một loại tàu đáp ứng việc vận chuyển một cách kinh tế nhất, căn cứ vào
độ dài tuyến, tình trạng cảng nhập, xuất,kích thước các kênh mà tàu phải đi qua, số
lượng dầu cần vận chuyển… Hiện nay dầu từ Trung Đông thường được vận chuyển
đi các vùng tiêu thụ bằng các tàu VLCC do số lượng lớn và cự ly xa. Do rất ít cảng
dầu trên Thế giới có khả năng tiếp nhận trực tiếp loại dầu này, ngừoi ta phải dùng
các tàu nhỏ hơn( thường là loại Aframax hoặc Suezmax) để chuyển tải( lightering;
transhipment). Ngược lại tuyến vận tải từ Caribean và Nam Mỹ đến các cảng của
Mỹ, các tuyến nội vùng Châu Á thường dùng loại tàu nhỏ hơn(Panamax; Aframax)
để có thể vào thẳng các cảng mà không cần chuyển tải.
Các nhà máy lọc dầu cần phải xây dựng gần thị trường tiêu thụ sản phẩm. Do
đó, cần các tàu chở dầu thô có kích cõ lớn để tiết kiệm chi phí trong việc vận
chuyển dầu thô từ các khu mỏ về nhà máy lọc dầu. Khái niệm về thị trường có thể
bị bó hẹp trong phạm vi một nước nhưng cũng có thị trường lớn hơn như thị trường
khu vực và ácc trung tâm lọc dầu ở Singgapore, Caribbean và Middle- East được
tập trung xây dựng là để phục vụ cho toàn bộ nhu cầu của từng khu vực. Chính vì
lý do này mà lượng tàu vận tải sản phẩm dầu chủ yếu có cỡ từ 50.000DWT trở
xuống thuận lợi cho vận chuyển nội vùng; loại tàu Panamax và Aframax( như
20
2020
Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
thống kê trong bảng dứoi đây) có số lượng ít hơn nhiều, phục vụ cho vận tải các
tuyến xa.
Tàu chở sản phẩm dầu bao gồm rất nhiều loại. Mỗi loại có thể chở một vài
sản phẩm khác nhau trong số những sản phẩm dầu từ dầu bẩn ( Dirty products) như
FO cho tới các sản phẩm sạch như naphta. Tàu chở dầu bẩn rất khó có thể chuyển
sang để chở dầu sạch, vì vậy các tàu chở dầu sản phẩm thường được sử dụng để
chở một số sản phẩm nhất định. Theo thống kê 2004( của Clarksons Research) thì
có 509 công ty kinh doanh tàu sản phẩm với 1.575tàu,trong đó 269 công ty chỉ sở
hữu 01 tàu và 26 công ty sở hữu 10 tàu trở lên. Mức đầu tư đóng mới trong những

(Nguồn Fearnleys 2004)
21
2121
Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
Trên thị trường quốc tế, LPG được vận chuyển bằng các hình thức: đường
ống, đường bộ( xe bồn,xi-téc, bình có dung tích nhỏ), đường sắt và đường thủy (tàu
biển).
Trong các hình thức vận chuyển nêu trên, LPG cũng được vận chuyển ở 2
trạng thái: LPG định áp hoặc LPG lạnh với quy luật chung phổ biến hiện nay là:
khối lượng luân chuyển qua kho thấp hơn 350.000 tấn/năm thì phù hợp với việc sử
dụng công nghệ tồn trữ dạng định áp, còn nếu như sản lượng luân chuyển qua kho
lớn hơn 350.000tấn/năm thì nên lựa chọn giải pháp tàng trữ lạnh.
Ngoài các tàu có thể vừa chở dầu sạch và hóa chất, tàu chở hóa chất chủ yếu được
chia làm 2 loại:
- Tàu bồn với toàn bộ hoặc một số bồn làm bằng thép không rỉ đáp ứng được
yêu cầu tàu thuộc loại I và II theo bộ luật IBC( International Bulk Chemical) phù
hợp với quy định của IMO.
- Các tàu thuộc loại III có tính linh động cao có thể chở nhiều loại hàng từ hóa
chất thông thường tới Caustic Soda và Methanol đáp ứng được quy định của IMO.
Do đặc điểm của thị trường, các tàu hóa chất có thể được thiết kế có một khoang
chứa để chuyên chở mỗi lần một loại hàng hóa, cũng có thể có nhiều tới 30- 40
khoang chứa để chở cùng lúc nhiều loại hàng hóa khác nhau.
Tổng số tàu chở háo chất được thống kê như sau:
Bảng 3: Thống kê đội tàu chở hóa chất trên thế giới
Số tàu Triệu DWT
Số tàu đang hoạt động 2.179 32.5
Số lượng đang đặt đóng 329 8.2
(Nguồn: Clarksons Resarch Studies 2004)
22
2222

Xây dựng chiến lược trong kinh doanh
Đội tàu của Trung Quốc hiện nay chủ yếu là loại Aframax trử xuống, có tuổi
trung bình già hơn mức trung bình của thế giới là 6năm tuổi( tuổi trung bình của
đội tàu thế giới là 11,4năm) và chỉ chuyên chở được 10% nhu cầu nhập khẩu. Theo
tạp chí Singgapore( Dow Jones) thì giữa các công ty vận tải dầu và các nhà nhập
khẩu dầu thô của Trung Quốc hiện không có sự hợp tác chặt chẽ nên phần lớn
lượng nhập khẩu dầu của nước này đều do các công ty vận tải nước ngoài đảm
nhận, trong khi các công ty vận tải trong nước lại thực hiện phần lớn dịch vụ cho
nước ngoài.
Nhằm đảm bảo an ninh năng lượng,Trung Quốc đặt mục tiêu xây dựng đội
tàu đủ năng lực vận tải 50% lượng dầu thô nhập khẩu,chủ yếu là các tàu VLCC.
Đội tàu dàu của Nhật Bản có công suất 20triệu tấn và đảm bảo được 80% nhu cầu
nhập khẩu cho nước này.
Đội tàu cảu Hàn Quốc có công suất 6,6triệu tấn, đáp ứng 30% nhu cầu nhập
khẩu.
Thái Lan hàng năm phải chi hàng tỷ USD cho việc vận tải dầu thô nhập khẩu
nên từ năm 1997 đã có ý định đóng mới 7 tàu loại VLCC. Thái Lan dự tính sẽ
khuyến khách các công ty đàu tư tầu chở dầu bằng cách miễn thuế cho đội tàu mới
đầu tư trong 8 năm đầu hoạt động. Tuy nhiên, có lẽ do khủng hoảng kinh tế mà
Thái Lan đã chua thực hiện được chương trình này.
Malaysia: Công ty vận tải biển quốc tế Malaysia ( MISC) năm 2003 đã mua
lại toàn bộ công ty American Eagle Tanker ( AET), nâng tổng số đội tàu dầu của
mình lên 37 chiếc Aframax, 3 chiếc VLCC và MISC cũng đang đặt đóng mới 4
chiếc Aframax và 1 chiếc VLCC. Như vậy đội tàu chở dầu của MISC sẽ có tổng số
53 chiếc,chủ yếu hoạt động tại các vùng Arabian Gulf- far East qua kênh đào Suez
tới thị trường Mỹ, vùng biển Bắc, Châu phi…MISC còn có đội tàu vận tải LNG lớn
nhất thế giới với 6chiếc phục vụ tại vùng Châu Á Thái Bình Dương và Châu Âu.
24
2424
Xây dựng chiến lược trong kinh doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status