Đại hội cổ đông
Ban lãnh đạo
Ban kiểm soát
P.HC
P.TCNS
P.KHĐT
P.Kthác
P.Kthuật
P.TCKT
P.THPC
Ban DA
CNhánhVT
CNhánh HN
Hội đồng
Quản trị
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
Lêi më §Çu
Mọi tổ chức, mọi doanh nghiệp đều phải lập kế hoạch hoạt động, xây dựng
chiến lược và từ đó tổ chức thực thi chiến lược. Đối với các doanh nghiệp trong
nền kinh tế Thị trường với sự tồn tại và điều tiết của những quy luật khách quan
như: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, giá cả… đòi hỏi phải cung cấp những
thông tin một cách chính xác, kịp thời và toàn diện thì công tác này có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như ngày nay, người xây dựng chiến lược
phải tính đến nhiều yếu tố khách quan bên ngoài và chủ quan bên trong doanh
nghiệp. Đồng thời phải phân tích những yếu tố đó một cách khoa học và có hệ
thống để làm cơ sở, căn cứ cho công tác xây dựng chiến lược hoạt động kinh
doanh cho doanh nghiệp sao cho chiến lược lập ra mang lại hiệu quả cao nhất cho
xã hội nói chung và cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng. Hơn
nữa do ảnh hưởng của các yếu tố môi trường luôn thay đổi, cạnh tranh và xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế nên công tác
Trần Minh Huệ
2
2
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
CHƯƠNG I
Cơ sở lý luận về công tác xây dựng chiến
lược trong quản trị sản xuất
I./ Khái niệm và nội dung của quản trị sản xuất :
1.1/ Khái niệm quản trị sản xuất
“Quản trị sản xuất là một trong những chức năng cơ bản trong quản trị doanh
nghiệp, nó tác động trực tiếp đến việc sử dụng hiệu qủa nguồn lực, tái sản xuất
doanh nghiệp và đến việc cung cấp cho thị trường sản phẩm và dịch vụ chất lượng,
đáp ứng nhu cầu biến đổi và hiệu quả kinh tế”.( Nguyễn Thanh Liêm& Nguyễn
Hữu Hiển- Quản trị sản xuất và tác nghiệp-NXB Giáo Dục 2002) [ 1, trang 1]
Thực chất của quản trị sản xuất là quá trình biến đổi, chế biến, chuyển hóa các
yếu tố đầu vào thành hàng hóa hoặc dịch vụ mong muốn, đáp ứng nhu cầu xã hội.
1.2/ Nội dung của Quản trị sản xuất :
Quản trị sản xuất bao gồm các nội dung sau :
a / Xây dựng chiến lược trong quản trị sản xuất
Chiến lược kinh doanh là chiến lược nhằm đảm bảo sự thành
công của Công ty. Một chiến lược tốt là chiến lược trong đó công ty có thể chiếm
được lợi thế chắc chắn so với các đối thủ cạnh tranh với chi phí có thể chấp nhận
được. Vì vậy hoạch định chiến lược là một công việc không thể thiếu của người
quản trị nói chung và người quản trị sản xuất nói riêng.Công tác xây dựng chiến
lược trong doanh nghiệp là một hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng và chiếm
vị trí quan trọng hàng đầu. Bởi nếu không có chiến lược thì doanh nghiệp không
thể thực hiện bất kì việc gì có hiệu quả cao được.
b / Dự đoán cầu đối với hàng hóa hoặc dịch vụ
Trần Minh Huệ K12QT1
Đây là nội dung quan
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
phẩm và công nghệ, đặc biệt là vai trò, vị trí của công tác thiết kế sản phẩm và công
nghệ trong toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Việc thiết kế sản phẩm
dựa trên sự đổi mới công nghệ thường gắn với việc thiết kế những sản phẩm mới
hoàn toàn hoặc cải tiến về cơ bản những sản phẩm đã được biết đến, theo hướng
tạo cho sản phẩm có chất lượng cao hơn hẳn, hoặc làm cho nó có kết cấu khác rõ
ràng, hoặc làm giảm chi phí sản xuất 1 cách đáng kể.
e / Quản trị vật liệu và quản trị hàng tồn kho
Vật liệu dự trữ và hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của
doanh nghiệp khoảng từ 40 – 50%. Chính vì vậy việc quản lý và kiểm soát vật liệu
và hàng tồn kho có ý nghĩa thực sự quan trọng. Nó góp phần đảm bảo cho quá trình
sản xuất tiến hành liên tục và có hiệu quả. Vấn đề quản trị vật liệu và hàng tồn kho
có 2 mặt trái ngược nhau là : Để đảm bảo sản xuất liên tục, tránh gián đoạn trên dây
chuyền sản xuất, đảm bảo sản xuất đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của người tiêu
dùng trong bất kỳ tình huống nào nên doanh nghiệp có ý tăng dự trữ, nhưng ngược
lại dự trữ tăng lên doanh nghiệp phải tốn thêm những chi phí khác có liên quan đến
dự trữ. Do đó doanh nghiệp phải tìm cách xác định điểm cân bằng giữa mức độ đầu
tư cho hàng dự trữ và lợi ích thu được do thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và nhu cầu
của hàng tiêu dùng với chi phí thấp nhất.
Hàng dự trữ và hàng tồn kho của doanh nghiệp có nhiều loại và nó phụ thuộc vào
từng loại hình doanh nghiệp. Vì vậy từng doanh nghiệp có nội dung và cách kiểm
soát hàng dự trữ khác nhau.
f / Xây dựng kế hoạch sản xuất và cung ứng sản phẩm cho doanh nghiệp
Trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải phân
tích đặc điểm sản phẩm và khả năng sản xuất để xác định xem nên tiến hành sản
xuất hay đặt hàng gia công bên ngoài. Quyết định được lựa chọn không chỉ căn cứ
vào nhu cầu sản phẩm mà còn căn cứ vào khả năng sản xuất của doanh nghiệp.
Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá là chi phí sản xuất trên 1 đơn vị sản phẩm
Trần Minh Huệ K12QT1
có chất lượng tương tự nhau
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
Mục tiêu của quản trị chất lượng trong các doanh nghiệp là đảm bảo chất lượng sản
phẩm phù hợp với nhu cầu và chi phí tối thiểu. những biện pháp không chỉ tập
trung vào nâng cao mức phù hợp của các đặc tính kinh tế- kỹ thuật của sản phẩm
mà còn giảm tối đa những lãng phí trong mọi hoạt động của doanh nghiệp
k / Quản trị tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là khâu của các hoạt động có liên quan đến sản phẩm của
doanh nghiệp. Việc sản xuất ra sản phẩm nhưng không tiêu thụ được sản phẩm đó
ra thị trường thì quá trình quản trị sản xuất không đạt hiệu quả. Doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả hay không được đánh giá chủ yếu thông qua khâu tiêu thụ sản
phẩm. Sản phẩm được sản xuất ra phải được tiêu thụ mới là thành công. Chính vì
vậy quản trị tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức.
II / Khái niệm chiến lược và nội dung của chiến lược
2.1 / Khái niệm chiến lược
Có nhiều cách định nghĩa về chiến lược. Thông thường có 3 khuynh hướng
sau:
- Khuynh hướng 1: Coi chiến lược là 1 nghệ thuật
+ Chiến lược là nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để chống lại cạnh tranh và
giành thắng lợi.
+ Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc nhằm
phòng thủ.
- Khuynh hướng 2 : Theo quan điểm về phạm trù quản lý coi chiến lược là 1
dạng kế hoạch
+ Chiến lược là việc xác định những con đường và những phương tiện để đạt
tới các mục tiêu đã được xác định thông qua chính sách.
+ Chiến lược là những kế hoạch tổng quát dẫn dắt hoặc hướng doanh nghiệp
đi đến những mục tiêu mong muốn. Nó là cơ sở cho việc định ra các chính sách và
các thủ pháp tác nghiệp.
Trần Minh Huệ K12QT1
+ Chiến lược là một loại
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
+ Chiến lược giao tiếp khuếch trương
- Riêng trong quản trị sản xuất chiến lược lại được phân thành
+ Chiến lược thuần túy và chiến lược hỗn hợp
+ Chiến lược chủ động và chiến lược bị động
III / Nội dung phân tích chiến lược
Trước khi hoạch định chiến lược kinh doanh, nhà quản trị phải tiến hành
phân tích nhằm giúp cho chiến lược hình thành có căn cứ khoa học.
3.1/ Phân tích môi trường kinh doanh
Phân tích này nhằm xác định thời cơ và các đe dọa từ môi trường. Các yếu tố
của môi trường bao gồm:
- Môi trường kinh tế . Trong đó chúng ta phải phân tích các yếu tố sau:
+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
+ Tỷ lệ lạm phát
+ Tỷ lệ thất nghiệp
+ Sự ổn định của đồng tiền
+ Xu hướng và thực tế đầu tư nước ngoài
+ Thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người
- Môi trường chính trị - luật pháp
Sự ổn định hay không ổn định về chính trị, sự thay đổi luật pháp và chính sách
quản lý vĩ mô có thể gây sức ép hay tạo cơ hội cho doanh nghiệp kinh doanh có
hiệu quả hơn. Phải nhận thức được nguy cơ hay cơ hội đối với từng loại thay đổi.
- Môi trường kỹ thuật và công nghệ
Là yếu tố môi trường ảnh hưởng lớn đến chiến lược kinh doanh của ngành và
nhiều doanh nghiệp. Sự biến đổi công nghệ làm chao đảo nhiều lĩnh vực, ngược lại
nhưng lại làm xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới hoàn thiện hơn.
- Môi trường văn hóa – xã hội
Trần Minh Huệ K12QT1
Khi thị hiếu của người tiêu
dùng thay đổi, hay khi trình độ dân trí tăng cao thì doanh nghiệp sẽ thế nào? Những
Những phân tích nội bộ góp phần tạo nên một hệ thống căn cứ hoạch định
chiến lược hoàn chỉnh, không bỏ qua căn cứ nào.
Nhà chiến lược phân tích uy tín sản phẩm, năng lực sản xuất, các nguồn lực tài
chính, nhân lực…để xác định vị trí của mình mới có thể đưa ra chiến lược kinh
doanh phù hợp với khả năng và có hiệu quả nhất.
IV/ Quá trình hoạch định chiến lược
Hoạch định chiến lược kinh doanh đi theo các bước sau:
Bước 1: Phân tích chiến lược
Bước 2: Lập ma trận SOWT để xác định điểm mạnh (S), điểm yếu (W), cơ
hội (O),rủi ro ( T) ( như hình 1)
Ma trận này giúp ta phát triển được bốn loại chiến lược:
+ Chiến lược điểm mạnh- cơ hội (SO);
+ Chiến lược điểm yếu - cơ hội (SW);
+ Chiến luợc điểm mạnh - nguy cơ(ST);
+ Chiến lược điểm yếu - nguy cơ(WT);
Bước 3: hình thành chiến lược
Bước này thực hiện tuần tự các công việc sau:
a/ Đề xuất chiến lược tổng quát, tức vạch ra mục tiêu chiến lược tổng quát
b/ Đưa ra chiến lược bộ phận dựa vào ma trân SWOT
c/ Đưa ra giải pháp thực hiện ý đồ chiến lược đã chọn
d/ Đưa ra các biện pháp cụ thể để triển khai giải pháp( đưa ra kế hoạch hoạt
động )
e/ Tính hiệu quả kinh tế của biện pháp
f/ Quyết định áp dụng biện pháp để khai triển ý đồ chiến lược( thực chất là đưa
biện pháp vào kế hoạch khoa học- công nghệ để chuẩn bị áp dụng)
Trần Minh Huệ K12QT1
Cơ hội (O)
Cơ hội 1
Cơ hội 2
Cơ hội 3
có hiệu quả.
Doanh nghiệp cần thiết phải xây dựng các chiến lược kinh doanh để đạt được
những mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra. Các chiến lược được xây dựng ra giúp
doanh nghiệp có các cách đi đúng đắn, không bị sai lệch hoặc nếu có thì cũng là sai
lệch ít nhất trong phạm vi cho phép . Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có
vai trò hết sức to lớn. Các chiến lược được coi như một mũi tên chỉ đường cho
doanh nghiệp hướng theo.
12
12
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
CHƯƠNG II
Phân tích các tác động của môi trường tới việc xây
dựng chiến lược sản xuất
I/ Vài nét chung về Công ty Vận tải Dầu khí
1.1./ Tên và địa chỉ của doanh nghiệp
- Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI DẦU KHÍ
- Tên đối ngoại : PETROVIETNAM TRANSPORTATION COMPANY
- Tên viết tắt : PV Trans
Số điện thoại : + 84-8- 911301
Số fax : +84-8- 911300
Email : pvtrans @ hcm.fpt.vn
- Giấy phép ĐKKD số 113087 ngày 11/10/2002 do Sở kế hoạch và Đầu tư
Thành phố Hồ Chí Minh cấp ( thay đổi lần 2 ngày 14/12/2005)
1.2 / Giám đốc hiện tại của Công ty : Ông Bùi Thọ Mạnh
1.3 / Địa chỉ :
Hiện nay PV Trans có trụ sở chính Thành phố HỒ CHÍ MINH và 02 chi
nhánh tại Hà Nội và Thành phố Vũng tàu. Cụ thể như sau:
STT Tên đơn vị Địa chỉ
1 Trụ sở chính 56 Nguyễn Đình Chiểu, P. Đa kao, Q1, TP. HCM
2 Chi nhánh Hà Nội 96 Nguyễn Du, Q. Hai Bà Trưng, Tp. Hà Nội
giao.
- Thuê và cho thuê tàu biển, phương tiện vận tải khác đối với các đối tác trong
và ngoài nước.
- Kinh doanh dịch vụ môi giới tàu biển, đại lý hàng hải, cung ứng tàu biển,
dịch vụ sửa chữa tàu biển, và dịch vụ hàng hải khác.
- Liên doanh trong và ngoài nước để triển khai các dự án về vận tải, tàng trữ,
kinh doanh các sản phẩm dầu khí, thiết bị vật tư tàu thuyền.
14
14
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
1.7 / Lịch sử phát triển của Công ty qua các thời kỳ :
- Công ty Vận tải Dầu khí ( PV Trans) có quyết định thành lập ngày
27/05/2002 theo quyết định số 358/QĐ-VPCP của Bộ trưởng, chủ nhiệm văn phòng
Chính phủ.
- Cuối tháng 05/2002 Công ty chính thức đi vào hoạt động trên cơ sơ tiến hành
sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực chính như sau :
+ Kinh doanh vận tải dầu thô và các sản phẩm dầu khí
+ Thuê và cho thuê tàu biển, phương tiện vận tải khác với các đối tượng trong
và ngoài nước
+ Kinh doanh dịch vụ môi giới tàu biển, đại lý hàng hải, cung ứng tàu biển,
dịch vụ sửa chữa tàu biển và các dịch vụ hàng hải khác. Bên cạnh đó còn các hoạt
động phụ khác như sửa chữa tầu biển và các dịch vụ hàng hải……
- Từ khi thành lập đến nay Công ty luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ do
Tổng Công ty dầu khí Việt Nam giao cho đồng thời tự mình gánh vác và vượt qua
những khó khăn, thử thách của nền kinh tế Thị trường nói chung và những khó
khăn của ngành vận tải dầu khí nói riêng. Trong giai đoạn từ đó đến năm 2006
Công ty vẫn tồn tại và hoạt động theo cơ chế của một Công ty Nhà nước. Công ty
có một con tầu mang tên Poseidon M có tổng trọng tải 100.000 DWT. Con tàu này
đã mang lại cho công ty số doanh thu đáng kể là 740,85 tỷ đồng.
- Trong năm 2006, do nhận thức được tầm quan trọng của mảng kinh doanh
2.1/ Tình hình Thế giới
* Dự báo cung- cầu dầu khí trên Thế giới giai đoạn từ nay đến 2025
Theo dự báo của EIA thì nguồn cung cấp năng lượng chính cho Thế giới
trong thời gian tới vẫn là từ dầu khí và than với số lượng tiêu thụ dầu khí hiện nay
là 82 triệu thùng/ngày, 103 triệu thùng/ngày vào năm 2015 và 119 triệu thùng/ngày
vào năm 2025. Mức tăng trưởng nhu cầu năng lượng trung bình trong giai đoạn từ
nay đến 2025 khoảng 2%/năm.Mặc dù giá dầu thô ngày càng cao, nhu cầu tiêu thụ
dầu thô sẽ không bị ảnh hưởng nhiều. Theo dự báo về mức tiêu thụ của Trung Quốc
là 7,5% trong giai đoạn từ nay đến 2010 và 2,9% trong giai đoạn sau đó. Theo như
Trần Minh Huệ K12QT1
dự báo tại Hội nghị dầu khí Châu
Á lần thứ 7 tổ chức tại Kuala Lumpur ngày 10/06/2002, Châu Á sẽ trở thành khu
vực nhập khẩu ròng dầu mỏ lớn nhất thế giới vào năm 2020, vượt cả Châu Âu và
Bắc Mỹ khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực này cao hơn các khu vực khác
trên Thế giới. Nhu cầu nhập khẩu ròng dầu mỏ của khu vực Châu Á sẽ tăng hơn
gấp 2 lần trong vòng 15năm tới cho đến năm 2020.
Nhu cầu về khí có mức tăng trưởng trung bình là 2,3%/năm với mức tiêu thụ
năm 2002 là 92.000tỷ m
3
và dự báo đến 2025 là 156.000tỷ m
3
. Mức tăng trưởng của
cả giai đoạn này là 69% và đóng góp vào mức tăng nhu cầu năng lượng của Thế
giới 23% lên 25%.
Riêng đối với LPG, nhu cầu tiêu thụ trên thị trường thế giới ngày càng tăng
cao; năm 1990 nhu cầu tiêu thụ chỉ khoảng 128,4 triệu tấn, đến năm 2002 là 201,4
triệu tấn và 2005 là 211 triệu tấn (nguồn: hãng Purvin &Gertz). LPG được sử dụng
làm chất đốt trong dân dụng,trong công nghiệp,nhiên liệu động cơ, các nhà máy
hóa dầu và một vài lĩnh vực khác.
Bắc Mỹ là nơi sản xuất LPG lớn nhất Thế giới (59,7 triệu tấn/năm), tuy nhiên
từ nơi khai thác tới thị trường gần nhất, sau đó mới tới các thị trường xa hơn. Tuy
nhiên, quy luật này cũng có ngoại lệ ảnh hưởng không nhỏ tới ngành vận tải biển:
cuộc khủng hoảng Suez năm 1957 đã làm các tàu dầu phải đi quãng đường dài
vòng qua mũi Hảo Vọng và VLCC để giảm giá thành vận chuyển trên các tuyến
đường dài. Chính trị, chính sách thuế và chính sách về môi trường của các quốc gia
cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến dòng chảy và chi phí vận tải dầu
khí: Mỹ cấm các công ty nhập dầu từ Iran, Liby; Liên hiệp quốc chỉ cho Irắc xuất
khẩu lượng dầu có giới hạn…
Trần Minh Huệ K12QT1
Trên thế giới hiện nay có hai
phương thức chính để vận tải dầu thô là: Tàu chở dầu và đường ống dẫn dầu. Ngoài
ra, dầu thô còn vận chuyển bằng đường sắt tuy nhiên số lượng rất ít( tuyến Nga-
Trung quốc). Vận tải bằng tàu biển có tính linh động cao hơn, giá rẻ và hiệu quả.
Đường ống dẫn dầu cũng có phương thức vận tải dầu thô và các sản phẩm dầu khí
rất có hiệu quả vì lưu lượng ổn định và sử dụng trong khoảng thời gian dài. Hiện
nay, ngoài các đường ống từ mỏ về các nhà máy lọc dầu và từ nhà máy lọc dầu đến
các trung tâm tiêu thụ, con người đã xây dựng các đường ống xuyên lục địa để
phục vụ nhu cầu to lớn và ổn định của các quốc gia.
Các tuyến vận tải khác nhau thường không dùng chung một cỡ tầu nào mà mỗi
tuyến có một loại tàu đáp ứng việc vận chuyển một cách kinh tế nhất, căn cứ vào
độ dài tuyến, tình trạng cảng nhập, xuất, kích thước các kênh mà tàu phải đi qua, số
lượng dầu cần vận chuyển… Hiện nay dầu từ Trung Đông thường được vận chuyển
đi các vùng tiêu thụ bằng các tàu VLCC do số lượng lớn và cự ly xa. Do rất ít cảng
dầu trên Thế giới có khả năng tiếp nhận trực tiếp loại tàu này, người ta phải dùng
các tàu nhỏ hơn( thường là loại Aframax hoặc Suezmax) để chuyển tải( lightering;
transhipment). Ngược lại tuyến vận tải từ Caribean và Nam Mỹ đến các cảng của
Mỹ, các tuyến nội vùng Châu Á thường dùng loại tàu nhỏ hơn(Panamax; Aframax)
để có thể vào thẳng các cảng mà không cần chuyển tải.
Các nhà máy lọc dầu cần phải xây dựng gần thị trường tiêu thụ sản phẩm. Do
đó, cần các tàu chở dầu thô có kích cõ lớn để tiết kiệm chi phí trong việc vận
Suermax 120.000- 200.000 DWT 257 38.701
VLCC 200.000- 300.000 DWT 425 121.882
ULCC > 300.000 DWT 11 4.309
Tàu chở dầu sản phẩm
10.000-25.000 DWT 266 4.365
25.000- 50.000 DWT 918 35.457
Pananmax 128 8.251
Aframax 119 11.481
Suermax 11 1.548
Tàu chuyên chở/ chuyên tuyến
10.000-25.000 DWT 1 20
25.000- 50.000 DWT 3 137
Pananmax 4 268
Aframax 14 1.433
Suermax 29 3.677
VLCC
(Nguồn Fearnleys 2004)
Trần Minh Huệ K12QT1
Trên thị trường quốc tế, LPG
được vận chuyển bằng các hình thức: đường ống, đường bộ( xe bồn,xi-téc, bình có
dung tích nhỏ), đường sắt và đường thủy (tàu biển).
Trong các hình thức vận chuyển nêu trên, LPG cũng được vận chuyển ở 2
trạng thái: LPG định áp hoặc LPG lạnh với quy luật chung phổ biến hiện nay là:
khối lượng luân chuyển qua kho thấp hơn 350.000 tấn/năm thì phù hợp với việc sử
dụng công nghệ tồn trữ dạng định áp, còn nếu như sản lượng luân chuyển qua kho
lớn hơn 350.000tấn/năm thì nên lựa chọn giải pháp tàng trữ lạnh.
Ngoài các tàu có thể vừa chở dầu sạch và hóa chất, tàu chở hóa chất chủ yếu được
chia làm 2 loại:
có thể cao hơn mức trung bình từ trước tới nay và do vậy giá cước vận tải tuy nhiều
biến động nhưng cũng sẽ có mặt bằng trung bình cao hơn mức trước đây.
Căn cứ vào những lý do trên, giá tàu có thể bắt đầu giảm vào khoảng cuối năm
2005 và tiếp tục giảm nhiều trong các năm sau do yếu tố cạnh tranh giữa các nước
có ngành công nghiệp đóng tàu lớn như Nhật bản, Hàn quốc, Trung quốc . Theo
phân tích, dự báo giá tàu trong thời gian tới sẽ giảm từ 10- 20% so với giá tàu tại
thời điểm giữa năm 2005.
2.2/ Tình hình phát triển đội tàu vận tải dầu khí trong khu vực:
Do tốc độ phát triển kinh tế của Trung Quốc trong các năm gần đây tăng
mạnh, nhu cầu năng lượng của nước này cũng tăng đột biến. Năm 2004 Trung
Quốc nhập khẩu 123 triệu tấn dầu thô, trở thành nước nhập khẩu dầu thô lớn thứ 2
thế giới, dự báo đến năm 2010 Trung Quốc sẽ nhập khẩu 150 triệu tấn và năm 2020
nhu cầu này sẽ là 250 triệu tấn. Nguồn nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc chủ yếu
là từ Trung Đông, Châu Phi, Châu Mỹ và từ các nước Đông Nam Á.
Trần Minh Huệ K12QT1
Đội tàu của Trung Quốc hiện
nay chủ yếu là loại Aframax trử xuống, có tuổi trung bình già hơn mức trung bình
của thế giới là 6năm tuổi( tuổi trung bình của đội tàu thế giới là 11,4năm) và chỉ
chuyên chở được 10% nhu cầu nhập khẩu. Theo tạp chí Singgapore( Dow Jones)
thì giữa các công ty vận tải dầu và các nhà nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc hiện
không có sự hợp tác chặt chẽ nên phần lớn lượng nhập khẩu dầu của nước này đều
do các công ty vận tải nước ngoài đảm nhận, trong khi các công ty vận tải trong
nước lại thực hiện phần lớn dịch vụ cho nước ngoài.
Nhằm đảm bảo an ninh năng lượng, Trung Quốc đặt mục tiêu xây dựng đội
tàu đủ năng lực vận tải 50% lượng dầu thô nhập khẩu,chủ yếu là các tàu VLCC.
Đội tàu dầu của Nhật Bản có công suất 20 triệu tấn và đảm bảo được 80% nhu cầu
nhập khẩu cho nước này.
Đội tàu của Hàn Quốc có công suất 6,6 triệu tấn, đáp ứng 30% nhu cầu nhập
khẩu.
Thái Lan hàng năm phải chi hàng tỷ USD cho việc vận tải dầu thô nhập khẩu
thực hiện nhiệm vụ vận chuyển trên.
Nhu cầu về năng lượng nói chung và nhiên liệu nói riêng tại Việt Nam tăng
lên nhanh chóng theo nhịp độ phát triển kinh tế của đất nước. Mức tiêu thụ xăng
dầu tại Việt Nam tăng đần từ 5,40 triệu năm 1996 lên 7,07 triệu tấn vào năm 1999
và gần 11,5 triệu tấn vào năm 2005. Nhu cầu này hiện nay chủ yếu được đáp ứng
bằng con đường nhập khẩu. Tổng công ty dầu khí Việt Nam đang xây dựng nhà
máy lọc dầu số 1 Dung Quất có khả năng cung cấp 5,62 triệu tấn xăng dầu/ năm, sẽ
bắt đầu hoạt động vào năm 2009; đang triển khai các thủ tục cần thiết để xây dựng
Khu liên hợp lọc hóa dầu số 2 Nghi Sơn tại Thanh Hóa với sản lượng 4,99
triệu tấn xăng dầu/ năm, dự kiến bắt đầu hoạt động vào năm 2012.
Trần Minh Huệ K12QT1