Tài liệu Tiểu luận: Vấn đề việc làm của người nông dân sau khi bị thu hồi đất để xây dựng và phát triển các khu công nghiệp - Pdf 10

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA

Tiểu luận

Vấn đề việc làm của người nông dân sau khi bị thu hồi
đất để xây dựng và phát triển các khu công nghiệp Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
Lớp :
MSSV :


Bên cạnh việc góp phần thực hiện chủ trương CNH, HĐH đất nước,
thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các KCN còn phục vụ cho chính yêu
cầu phát triển ngành nông nhiệp và kinh tế nông thôn:
- Thứ nhất, thông qua sự phát triển của công nghiệp, KCN, khu chế xuất,
khu kinh tế mở, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật được hình thành,
ngày càng hoàn chỉnh, đồng bộ và có chất lượng, tạo đà cho các ngành kinh
tế khác, biến những vùng nông thôn vốn lạc hậu, chậm phát triển thành
những vùng đô thị mới phát triển năng động, hiệu quả; thu hẹp khoảng cách
phát triển giữa các vùng, khu vực kinh tế. Chẳng hạn, việc phát triển công
nghiệp, KCN sẽ hình thành những tuyến đường giao thông huyết mạch,
những cảng biển; hình thành mạng lưới điện, mạng lưới thông tin, các
trường kỹ thuật
- Thứ hai, xây dựng các KCN góp phần tạo nhiều việc làm, góp phần làm
giảm tỷ lệ thất nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế; chuyển một bộ phận
lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn, là khu vực có năng suất lao
động thấp sang khu vực công nghiệp, dịch vụ có năng suất lao động cao hơn,
làm tăng thu nhập, nâng cao mức sống của người nông dân. Theo tính toán
của các nhà khoa học, hiện nay ở nước ta cứ 1 héc ta đất nông nghiệp, sẽ thu
hút tối đa khoảng 10-15 lao động làm việc, với giá trị gia tăng thấp. Nhưng,
nếu chuyển sang phát triển công nghiệp nói chung, KCN nói riêng sẽ tạo ra
hàng trăm chỗ làm việc có giá trị gia tăng cao hơn nhiều so với sản xuất
nông nghiệp. Trung bình một KCN lấy đi khoảng 100 - 150 héc ta đất, nếu
được lấp đầy sẽ thu hút khoảng 15.000 - 18.000 lao động trực tiếp và hàng
vạn lao động vệ tinh. Bên cạnh đó còn có một số lượng lớn lao động hoạt
động trong các ngành nghề phi nông nghiệp, như dịch vụ ăn uống, buôn bán
nhỏ phục vụ cho đời sống sinh hoạt do đòi hỏi tất yếu của KCN. Tính
thuần túy về kinh tế từ việc thu hồi đất để phát triển KCN, KCX, lợi ích kinh
tế đó là rất lớn.
4

5

chức, cá nhân sử dụng và có quyền thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử
dụng. Vì vậy, khi có quyết định thu hồi của Nhà nước, người dân phải giao
đất cho Nhà nước và được nhận một mức giá đền bù phù hợp.
II. Thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp sang phát triển các KCN ở
nước ta trong những năm qua và tác động của nó đến vấn đề việc làm
của người nông dân sau khi bị thu hồi đất:
1. Thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp sang phát triển các KCN ở
nước ta trong những năm qua:
Trong những năm qua, diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi
mục đích theo hai hướng chính là phục vụ xây dựng các khu công nghiệp,
khu chế xuất, cụm công nghiệp vừa và nhỏ hoặc phát triển các khu đô thị tập
trung theo các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.
Tính đến năm 2007, cả nước đã có 137 KCN, khu chế xuất, với tổng
diện tích là 29.063 ha, phân bố rộng khắp trên 45 tỉnh, thành phố của cả
nước; ngoài ra còn có trên 200 cụm công nghiệp với tổng diện tích là 13.991
ha; nếu tính cả các khu kinh tế như Chu Lai, Dung Quất thì trong thời gian
qua, cả nước đã chuyển đổi khoảng 79.000 ha đất nông nghiệp, đất ven đô
thị sang xây dựng các KCN. Như vậy, bình quân mỗi năm nông dân cả nước
phải nhường 74.000 ha đất sản xuất phục vụ cho các khu công nghiệp, đô
thị
Các khu vực kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông
nghiệp chuyển đổi lớn nhất, chiếm trên 50% tổng diện tích thu hồi. Mặc dù,
số diện tích đất nông nghiệp được thu hồi chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng diện
tích đất nông nghiệp, nhưng do thu hồi mang tính tập trung nên một số xã bị
mất từ 70 - 80% diện tích, kéo theo nhiều hộ bị thu hồi 100% diện tích,
không còn đất sản xuất. Còn lại, đa phần các hộ ở các địa phương có diện
tích đất thu hồi lớn như Hà Nội (5.469 ha), TP. Hồ Chí Minh (4.000 ha), Hải
Phòng (4.126 ha), Bắc Ninh (3.800 ha), Bình Dương (3.500 ha), thường bị

năng lương thực tại chỗ chỉ đạt 1.022 tấn, như vậy xã này thiếu chừng 5.000
tấn lương thực/năm. Và, dự báo đến năm 2011 thì toàn bộ lương thực của xã
7

phải phụ thuộc vào nhập khẩu từ xã ngoài. Đời sống khó khăn cũng là
nguyên nhân sinh ra các tệ nạn: cờ bạc, lô đề, nghiện hút, trộm cắp…ở
những vùng nông thôn vốn bình yên.
2. Vấn đề việc làm của người nông dân sau khi bị thu hồi đất:
Đứng trên quan điểm phát triển, việc thu hồi đất nông nghiệp để xây
dựng các KCN là cần thiết và đúng đắn tạo điều kiện chuyển dịch lao động
từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ; góp phần tạo ra cơ hội việc làm
mới, ổn định hơn, thu nhập cao hơn so với sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên,
nếu xét riêng bộ phận bị thu hồi đất thì quá trình thu hồi đất nông nghiệp
phục vụ cho việc phát triển các KCN đang xuất hiện nhiều vấn đề bất cập.
Đó là tình trạng không ít lao động nông nghiệp bị mất đất, mất việc làm,
chưa tìm được việc làm mới dẫn đến thất nghiệp; và tình trạng nông dân bị
thu hồi đất phải chuyển đổi sang làm những nghề không cơ bản do trình độ
thấp, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất công nghiệp và dịch vụ.
2.1. Nguy cơ thất nghiệp của người nông dân sau khi bị thu hồi đất:
Sau khi thực hiện việc chuyển một phần đất nông nghiệp sang xây
dựng các KCN, khu chế xuất, khu kinh tế mở, một bộ phận không nhỏ
những người nông dân bị mất việc, phải chuyển đổi nghề nghiệp.
Theo kết quả khảo sát của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,
trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có
việc làm và mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc
làm, phải chuyển đổi nghề nghiệp.
Đặc biệt, ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng là nơi đất chật người đông,
lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn, thì vấn đề đảm bảo việc làm cho nông
dân càng trở nên bức xúc hơn. Trung bình mỗi ha đất nông nghiệp thu hồi ở
vùng Đồng bằng sông Hồng có 15,33 người bị mất việc làm.

Để thấy rõ hơn tình trạng việc làm của người nông dân sau khi mất
đất, ta có thể tham khảo kết quả khảo sát tại Hà Nội (2008) – thủ đô, nằm
trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.
9

- Khác với nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, Hà Nội chỉ có 33.446 ha đất
nông nghiệp; nếu kể cả đất lâm nghiệp thì cũng chỉ có 41.149 ha, chiếm
44,56% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố (theo mức chung, đất
nông nghiệp chiếm 28% diện tích đất tự nhiên của cả nước). Tức là ở Hà
Nội, khi những người nông dân bị thu hồi đất, họ có rất ít khả năng để tiếp
tục sinh sống bằng nghề nông, mà phải chuyển sang làm công nghiệp, dịch
vụ.
- Thực trạng công việc của những người sau khi bị thu hồi đất tại Hà Nội
được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng so sánh tỷ lệ số người có việc làm trước và sau khi
bị thu hồi đất ở Hà Nội ( %)
Công việc
Trước khi thu
hồi đất
Sau khi thu hồi
đất
Chênh lệch
Làm nông nghiệp 69,5 53,0 - 16,5
Làm công nghiệp 8,3 10,3 + 2,0
Buôn bán 4,6 6,2 + 1,6
Làm thuê, xe ôm 1,5 6,2 + 4,7
Làm hành chính 3,6 4,4 + 0,8
Làm các công việc khác

8,8 7,5 - 1,3

thị trường lao động.
- Theo một cuộc điều tra khảo sát về trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao
động ở các hộ bị thu hồi đất ( 5/2008), số người có trình độ cao đẳng, đại
học trở lên chỉ chiếm 8,2%, trung cấp 6,8%, học nghề và tương đương 8,8%,
không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 76,2% .
- Về cơ cấu nghề nghiệp, công việc của những người này trước khi bị thu hồi
đất có tới 69,5% số người trong độ tuổi lao động làm nông nghiệp, 8,3% làm
công nhân, 4,6% làm thương mại, 3,6% làm các công việc hành chính, 1,5%
làm nghề xe ôm và 7,8% làm nghề khác, 4,7% không có việc làm. Tuy nghề
nghiệp của họ khá đa dạng, nhưng phần lớn là nghề nông.
11

- Do trình độ chuyên môn và nghề nghiệp như vậy, nên cơ hội người dân tự
tìm việc làm trong công nghiệp và dịch vụ của những người sau khi bị thu
hồi đất là rất khó khăn.
- Trước thực tế ấy, Bộ Tài chính và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
đã ban hành Thông tư liên tịch số 65/2004/TTLT/BTC-BLĐTBXH quy định
về hỗ trợ kinh phí dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, trong đó có
các hộ bị thu hồi đất canh tác để xây dựng các công trình công cộng, KCN.
Một số địa phương cũng có những quy định cụ thể nhằm tạo điều kiện cho
người bị thu hồi đất đi học nghề và chuyển đổi nghề nghiệp như: hỗ trợ thêm
kinh phí đào tạo, thậm chí đào tạo miễn phí cho người bị thu hồi đất; mở
thêm nhiều cơ sở dạy nghề xuống tận huyện, xã, Tuy nhiên, trong những
năm qua, việc đào tạo nghề cho người lao động không bài bản, thiếu chiến
lược và kế hoạch rõ ràng, cụ thể. Số lao động mất đất, không có nghề, cần
đào tạo thì nhiều, nhưng đào tạo không được bao nhiêu. Các địa phương chủ
yếu cho lao động đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề nên người lao động
không được chủ động học nghề và doanh nghiệp cũng không chủ động đào
tạo nghề để tuyển dụng lao động. Không ít lao động bị thu hồi đất được đào
tạo nghề không phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động, chất lượng đào

xây dựng nhà cửa, trong khi đó, đầu tư cho sản xuất phi nông nghiệp chỉ
chiếm 1,27%, cho học nghề là 2,55%. Năm 2007, trong tổng số 20.000 lao
động bị thu hồi đất trên địa bàn chỉ có chưa đầy 5.000 lao động có nhu cầu
học nghề. Nhìn bề ngoài có vẻ như đời sống của họ được cải thiện rõ rệt,
nhưng bên trong tiềm ẩn một nguy cơ bất ổn rất lớn do không có nghề
nghiệp, không có thu nhập ổn định.
Thứ tư, công tác quản lý của Nhà nước còn nhiều bất cập ở nhiều
địa phương, kế hoạch thu hồi đất xây dựng KCN chưa gắn kết được với quy
hoạch tái định cư và kế hoạch đào tạo chuyển đổi nghề cho những người dân
bị mất đất; chưa chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho người dân có đất bị
thu hồi chuyển đổi nghề nghiệp. Hơn nữa, các cấp chính quyền chưa thông
tin, tuyên truyền đầy đủ về kế hoạch, quy hoạch thu hồi đất, làm cho người
13

lao động bị động trong việc chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm.
Khi qui hoạch KCN, đã có rất nhiều hộ ôm tiền đền bù mà không biết làm gì
để sống. Vài năm sau, khoản tiền ít ỏi ấy vơi dần nên phải đi làm thuê, làm
mướn sống lay lắt hoặc bỏ xứ đi nơi khác tìm kế mưu sinh.
Thứ năm, đào tạo chuyển đổi nghề chưa đáp ứng được nhu cầu thị
trường. Hệ thống cơ sở dạy nghề hiện nay chủ yếu là đào tạo nghề phổ
thông, các nghề truyền thống. Giáo trình, trang thiết bị dạy nghề còn lạc hậu
so với yêu sản xuất, với dây chuyền trong các doanh nghiệp, và nhất là với
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hệ quả là chất lượng đào tạo
không đáp ứng được yêu cầu của người tuyển dụng. Hơn nữa, chưa có sự
phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong việc định hướng cho người dân học
nghề, chuyển đổi nghề phù hợp sau khi bị thu hồi đất sản xuất.
Thứ sáu, Nhà nước và chính quyền địa phương chưa có chế tài cụ
thể quy định trách nhiệm của các doanh nghiệp đối với lao động bị mất
việc làm sau khi giải phóng mặt bằng. Nhiều nông dân thiếu việc làm có
nguyên nhân từ sự thất hứa của các chủ sử dụng lao động. Cục Hợp tác xã –

bị tốt về khả năng tìm kiếm việc làm trước khi Nhà nước thu hồi đất.
IV. Các giải pháp:
Giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi là một trong
những giải pháp để chuyển đổi cơ cấu lao động và phát triển bền vững. Tuy
nhiên, do nhiều nguyên nhân, vấn đề này đã gây bức xúc trong một bộ phận
dân cư, chủ yếu là ở nông thôn. Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi phải có
những biện pháp thiết thực, cụ thể và mang tính bắt buộc cao. Đồng thời
phải quan tâm đến lợi ích lâu dài của người dân, đảm bảo cuộc sống của họ
sau khi mất đất sản xuất, coi đó là mục tiêu cao nhất.
Sau đây là một số kiến nghị và đề xuất:
Thứ nhất, Nhà nước cần có chính sách cụ thể giúp người nông dân
tìm kiếm việc làm mới, ổn định, như:
- Hỗ trợ, cho vay ưu đãi đối với người dân bị thu hồi đất để họ đầu tư sản
xuất kinh doanh, phát triển nghề mới và học nghề mới.
15

- Khuyến khích phát triển các nghề thủ công truyền thống, nghề phụ, nghề
phi nông nghiệp, nghề phụ trợ cho các doanh nghiệp trong KCN. Điều này
không chỉ có ý nghĩa tạo ra việc làm và thu nhập cho lao động ở những vùng
bị thu hồi đất, mà còn góp phần giữu gìn bản sắc văn hóa dân tộc; góp phần
xây dựng nông thôn mới và đảm bảo cho người lao động ly nông nhưng bất
ly hương.
- Đẩy mạnh các hoạt động xuất khẩu lao động, trong đó chú trọng tuyển
dụng lao động bị thu hồi đất. Những đối tượng này cần phải được ưu tiên
tuyển dụng và hỗ trợ kinh phí để tham gia các khóa học giáo dục hướng
nghiệp và đào tạo nghề trước khi đi xuất khẩu. Có như vậy họ mới có cơ hội
nâng cao khả năng kiếm được công việc tốt khi đi xuất khẩu lao động.
Thứ hai, có chính sách tạo việc làm riêng đối với người lao động từ
độ tuổi 35 trở lên, ít có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khi bị thu hồi
đất. Nhà nước cần dành một phần đất trong hoặc sát với KCN cấp cho họ để

người lao động, hoặc kết hợp giữa cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp để
đào tạo lao động cho doanh nghiệp.
- Do khả năng tiếp nhận kiến thức về chuyên môn, kĩ thuật của người nông
dân hạn chế, nên cần tập trung nhiều hơn vào hướng dẫn thực hành cho họ.
Thứ sáu, có những chế tài bắt buộc quy định trách nhiệm, nghĩa vụ
cụ thể đối với các đơn vị sử dụng đất trong việc giải quyết việc làm cho
người dân bị mất đất. Đây phải coi là điều kiện tiên quyết để xem xét, phê
duyệt kế hoạch xây dựng KCN. Bên cạnh đó, có chính sách ưu đãi những
doanh nghiệp nào sử dụng nhiều lao động tại chỗ, đặc biệt là lao động bị thu
hồi đất để xây dựng KCN. Đây là một trong những giải pháp được Vĩnh
Phúc áp dụng triệt để và đã đem lại kết quả tốt. Mỗi doanh nghiệp khi nhận
lao động là nông dân vào làm sẽ được tỉnh hỗ trợ 100.000 - 200.000
đồng/người hoặc mỗi người tự tìm việc làm sẽ được hỗ trợ 300.000-700.000
đồng Đây có thể coi là mô hình điểm trong việc giúp nông dân mất đất tìm
được việc làm.
17

Thứ bảy, có chế tài xử lý "quy hoạch treo", "dự án treo" làm ảnh
hưởng trực tiếp đến việc làm, thu thập và đời sống của người bị thu hồi đất.
Cần xem xét kỹ các trường hợp xin bổ sung quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để tránh những tiêu cực. Phải
thực hiện lấp đầy các KCN hiện có, mới được xây dựng thêm các KCN mới
và có biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong từng KCN.
Ngoài ra, Nhà nước và chính quyền địa phương có thể áp dụng các
biện pháp nhằm hạn chế bồi thường bằng tiền, đa dạng hóa các hình thức
bồi thường như: Hoán đổi đất sản xuất nông nghiệp của những hộ không có
nhu cầu sản xuất cho hộ bị thu hồi đất; giao đất phi nông nghiệp để làm kinh
doanh, dịch vụ; góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất với nhà đầu tư KCN,
đô thị, kinh doanh dịch vụ và thương mại; hoặc tham gia bảo hiểm xã hội;…
KẾT LUẬN

1. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế - Số 10/2010
2. Tạp chí Kinh tế và Dự báo – Số 8/2007
3. Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu - 2008
4. http://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/VandeSukien/2007/7/5090.
html
5. http://nongdan.vn/channel.aspx?Code=NEWS&NewsID=32464&c=8
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status