Phát triển phần mềm quản lý nhân sự tại chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn Dược phẩm Đô Thành - Pdf 10


Luận văn
Phát triển phần mềm quản
lý nhân sự tại chi nhánh
công ty trách nhiệm hữu
hạn Dược phẩm Đô Thành

Danh mục từ viết tắt

CNTT : Công nghệ thông tin
CNPM : Công nghệ phần mềm
GCPM : Gia công phần mềm
VN : Việt Nam
DNPM : Doanh nghiệp phần mềm
CMMI : Tiêu chuẩn quốc tế xác nhận độ trưởng thành về quy trình sản
xuất phần mềm
R&D : Nghiên cứu và phát triển
DN : Doanh nghiệp
DNPMVN : Doanh nghiệp phần mềm Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU
Bước vào thế kỉ XXI, cuộc cách mạng KHCN hiện đại tiếp tục có tác
động sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội. Phát triển dựa vào KHCN trở
thành xu hướng tất yếu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi
KHCN là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết trung ương II (khoá VIII ) về
KHCN đã khẳng định vai trò động lực của KHCN đối với sự nghiệp công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Đại hội IX của Đảng đã khẳng định nước

học kinh nghiệm quý báu từ Trung Quốc và Ấn Độ
1. Thực trạng ngành gia công phần mềm ở Việt Nam
2. Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc v à Ấn Độ.

Chương 1. Ngành gia công phần mềm Trung Quốc và Ấn Độ.
1. Quan điểm về gia công phần mềm:
Như chúng ta đã biết cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ
nhất có bản chất là quá trình cơ khí hoá, nội dung là sử dụng máy móc thay
thế lao động chân tay. Kết quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này là
sự ra đời của các nước công nghiệp, cơ cấu kinh tế được chuyển đổi từ thuần
tuý nông nghiệp sang công nghiệp với tỷ trọng cao hơn nhiều lần. Từ những
năm 50 con người bắt đầu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai có

thuộc biên giới vật lý, chi phí đầu tư cho máy móc, thiết bị sản xuất không
cao… nên thực sự là cơ hội lịch sử hiếm có cho các nước đang phát triển đi
tắt, đón đầu bắt kịp các nước phát triến. Hiện nay nhiều nước coi trọng phát
triển gia công phần mềm và có xu hướng biến ngành này thành ngành kinh tế
mũi nhọn.
Gia công là quá trình chuyển một phần công việc sang làm tại nước khác
để tận dụng nguồn nhân lực và các tài nguyên khác(cả trực tiếp mở chi nhánh,
trung tâm nghiên cứu sản xuất lẫn thuê các công ty bản địa thực hiện).
Gia công phần mềm được hiểu như việc làm thuê một phần hay toàn phần
các dự án phần mềm với tư cách gia công sản phẩm thay vì sở hữu sản phẩm.
Việc định đoạt sản phẩm thuộc về nơi thuê gia công phần mềm. Nhiệm vụ của
đơn vị gia công phần mềm là làm ra sản phẩm thoả mãn yêu cầu của đơn vị,
tổ chức thuê gia công, không tham gia vào việc kinh doanh sản phẩm .
Như vậy GCPM chỉ là 1 giai đoạn trong quá trình sản phẩm đến với
người dùng. Các công ty GCPM phải tính toán chi phí phù hợp được trả ngay
khi gia công, vì thực chất họ không được sở hữu sản phẩm hay các lợi ích từ
thương hiệu, uy tín của sản phẩm đó. Giá trị của phần mềm khi xuất hiện trên
thị trường có thể rất lớn nhưng phần được hưởng của công ty GCPM nói
chung là nhỏ. Việc Kinh doanh phần mềm trên thị trường Quốc tế và sự đáp
ứng cầu về phần mềm chủ yếu rơi vào các tập đoàn lớn - và cách của các Tập
đoàn lớn làm là thuê các công ty bé (trong nước hay nước ngoài, nước kém

phát triển hay nhân lực rẻ mạt ) sản xuất sản phẩm. Luôn có rất nhiều dự án
phần mềm cần được gia công dành cho các công ty được coi là "làm thuê".
Khi một công ty nhận gia công một phần mềm, tuy công ty này làm trọn vẹn,
toàn phần phần mềm nhưng việc đó khác cơ bản so với việc mua hay đặt
hàng phần mềm.
Điển hình thành công là Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ từ một
quốc gia nghèo nhưng có nguồn lực con người dồi dào, nhờ tập trung phát
triển ngành phần mềm mà trong 15 năm đã vươn lên thành cường quốc phần

việc kiểm tra chương trình đã được thiết kế sẵn thì người lao động cần phải có
khả năng phát triển công đoạn nào đó trong toàn bộ chương mà khách hàng
yêu cầu.
Phân tích -thiết kế một ứng dụng (module) đã có sẵn: đây là công việc có
độ phức tạp và đòi hỏi trình độ cao, người lao động phải có chuyên môn sâu
để có thể phân tích chính xác, cụ thể một ứng dụng có sẵn.
Tư vấn: đây là cấp độ cao nhất, người lao động có thể thiết kế, kiểm tra
một chương trình phần mềm nào đó, có sự đánh giá, phân tích và giúp nhà
đầu tư đưa ra quyết định cuối cùng.
Có thể nói, gia công phần mềm là một ngành chiến lược của rất nhiều các
công ty hiện nay ở Việt Nam. Khi mà sự đòi hỏi về tin học hóa hoạt động
doanh nghiệp ngày càng lớn, nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, hơn nữa khi mà sự thiếu hụt về
chuyên gia trong lĩnh vực phần mềm và công nghệ thông tin đã trở nên khẩn
thiết, thì việc chuyển giao việc phát triển quản lý một phần hoặc toàn bộ mảng
tin học bao gồm phần cứng và phần mềm cho một đội ngũ chuyên nghiệp, có
chất lượng cao, sẵn sàng phục vụ đúng lúc và đáng tin cậy, trở thành một
trong những lựa chọn tốt nhất để giải quyết tình trạng này.

2. Ngành gia công phần mềm Ấn Độ:
2.1. Một vài nét về Ấn Độ:
Ấn Độ là một quốc gia Nam Á, chiếm hầu hết tiểu lục địa Ấn Độ. Đây
là quốc gia đông dân thứ nhì trên thế giới ( hiện nay dân số Ấn Độ đã gần 1,1
tỷ người ít hơn Trung Quốc 200 triệu người), và đồng thời lớn thứ 7 về diện
tích. Ấn Độ có nền văn minh Ấn Hà phát triển rực rỡ cách đây 5 nghìn năm,
đây là nơi sinh trưởng của bốn tôn giáo quan trọng trên thế giới (Ấn Độ giáo,
Phật giáo, đạo Jaini và đạo Sikh).
Kinh tế Ấn Độ là nền kinh tế thứ tư thế giới nếu tính theo sức mua
ngang giá, với GDP tính theo đôla Mỹ đạt 3,63 nghìn tỷ. Nếu tính theo tỷ giá
hối đoái với đôla Mỹ thì đây là nền kinh tế lớn thứ 12 thế giới với GDP tính

vốn,… Năm 2006, ngành phần mềm Ấn Độ đạt doanh số 29,5 tỷ USD, trong
đó doanh số xuất khẩu đạt tới 23,4 tỷ USD. Tất cả 500 tập đoàn và công ty
lớn nhất thế giới theo xếp hạng của Forbes đều đang phải sử dụng các chuyên
gia CNTT trong quản lý, điều hành hệ thống CNTT của mình. Tầm nhìn của
Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Ấn Độ NASSCOM là đưa Ấn Độ trở thành
một trung tâm quyền lực phần mềm của thế giới đang trở thành hiện thực.
Bảng doanh số của ngành công nghiệp CNTT Ấn Độ:
Đơn vị: Tỷ USD
2004 2005
2006

Công nghiệp phần mềm và dịch vụ
Riêng xuất khẩu
16.7 22.6 29.5
12.9 17.7 23.4
Công nghiệp phần cứng 5.0 5.9
6.9

Tổng doanh thu công nghiệp CNTT 21.6 28.4 36.3

( Nguồn: Nasscom, busisessweek.com)
Theo bảng số liệu cho thấy tổng doanh số công nghiệp CNTT năm 2006
ước đạt 36,3 tỷ USD, trong đó công nghiệp phần mềm và dịch vụ chiếm 81%,
phần cứng chiếm 19%. Như vậy ngành công nghiệp phần mềm chiếm tỷ trọng
rất cao, đem lại doanh thu lớn.

Mặt khác liên tục từ năm 1999 tốc độ tăng trưởng trung bình 28% mỗi
năm, nếu tính riêng cho công nghiệp phần mềm là 32%. Điều này cho thấy
ngành công nghiệp phần mềm đang được chú trọng phát triển và dần giữ vai
trò chủ đạo.

25
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003

bắt những xu thế mới của ngành. Giữa thập kỷ 80, khi công nghiệp phần mềm
bắt đầu phát triển, Ấn Độ nhận thấy đây là cơ hội cho hướng phát triển mới và
áp dụng mọi biện pháp để thúc đẩy ngành công nghiệp này. Một loạt các
chính sách được thực hiện như bãi bỏ các rào cản và tự do hóa nhập khẩu đầu
vào nhằm tạo một môi trường đầu tư thuận lợi cho ngành công nghiệp phần
mềm. Kết quả là công nghiệp phần mềm đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
của Ấn Độ.
Có thể không cần phải nói quá nhiều về những con số, những thành công
liên tiếp mà ngành phần mềm Ấn Độ đạt được bắt đầu từ những bước đi đầu
tiên, những đầu tư liên tục, mạnh mẽ và quyết liệt của chính phủ nước này với
phương châm đưa "công nghiệp phần mềm Ấn Độ lên thành kiểu mẫu của
sức mạnh và thành công". Ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước, đi cùng
với chủ trương tự do hoá và mở cửa kinh tế, chính phủ Ấn Độ đã có những
đầu tư chiến lược để đạt được mục tiêu đưa Ấn Độ trở thành một siêu cường
về IT của thế giới. Đưa CNTT lên làm ngành kinh tế mũi nhọn, tập trung
nhanh, mạnh vào lĩnh vực phần mềm, Ấn Độ đã nhanh chóng có được thành
công vượt trội.
Ngành công nghiệp công nghệ cao của Ấn Độ đã được biết đến với tên
gọi trung tâm gia công phần mềm, một ngành đem lại khoản lợi nhuận khổng
lồ. Hiện nay, tổng giá trị xuất khẩu của ngành IT Ấn Độ chiếm khoảng 35%
tổng giá trị xuất khẩu của nền kinh tế, chiếm 75% GDP, khoảng 200 trong
tổng số 500 công ty lớn nhất của Mỹ đã mua các sản phẩm phần mềm của Ấn
Độ. Hiện nay Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất của ngành phần mềm Ấn Độ với
thị phần 61%. Giờ đây "India is IT" đã không còn là một khẩu hiệu suông mà
thực sự trở thành một phương châm đưa Ấn Độ lên hàng top trong danh sách
những địa chỉ gia công phần mềm của thế giới với tốc độ phát triển vài trăm
phần trăm mỗi năm. Năm 2007, lĩnh vực IT-PBO của Ấn Độ đạt mức tăng

tuyệt vời với các học viện công nghệ quốc gia được trang bị các trang thiết bị
hiện đại nhất, mạng lưới hơn 1000 trường đại học và cao đẳng đào tạo chuyên

ngành về CNTT nằm rải rác khắp cả nước, chưa kể các cơ sở đào tạo tư nhân
uy tín, các trung tâm đào tạo và đào tạo lại của các doanh nghiệp lớn tất cả
đã tạo cho nguồn nhân lực phần mềm của quốc gia này một căn bản cực tốt.
Cộng thêm thuận lợi sẵn có, tiếng Anh là thứ ngôn ngữ chính thống dùng
giảng dạy, các kỹ sư CNTT, kỹ sư phần mềm của Ấn Độ ngay khi ra trường
đã có thể làm việc ngay tại môi trường quốc tế với chất lượng đạt chuẩn toàn
cầu. Đó là chưa kể khả năng thích ứng cực tốt của các kỹ sư này với mọi môi
trường làm việc và những biến đổi nhạy bén của thế giới trong lĩnh vực
CNTT. Cùng với xu hướng toàn cầu hoá, những kỹ sư này được hút ra các thị
trường ngoài biên giới Ấn Độ như Mỹ, châu Âu và rồi lại trở lại thị trường Ấn
Độ để tạo ra các thế hệ kỹ sư phần mềm mới cho đất nước. Tất nhiên, không
thể phủ nhận sau những thế hệ kỹ sư được đào tạo từ thời Xô Viết, chất lượng
nhân lực của ngành có phần giảm sút, mất cân đối cung cầu, song không vì
thế, nguồn nhân lực mất đi vai trò chủ chốt trong nội lực của ngành phần mềm
nước này. Và nguồn nhân lực được đào tạo bàn bản vẫn luôn là một trong
những nguồn sức mạnh chủ yếu của Ấn Độ.
Thứ hai có thể đề cập tới là chính sách. Dù không thực sự rõ ràng và trực
tiếp tác động, nhưng chính sách mở cửa, thông thoáng và những ưu đãi nhất
định của chính phủ Ấn Độ đã phần nào tạo nên sức hút khiến phần lớn những
tên tuổi lớn nhất của công nghệ toàn cầu đã phải có mặt ở đây. 7 khu công nghệ
cao nằm rải rác khắp cả nước đã được xây dựng nên nhờ những nguồn vốn đầu
tư cơ sở hạ tầng của các tên tuổi lớn của thế giới như IBM, Digital, Hewlett
Packard, Sun, Motorola với những chính sách ưu đãi đặc biệt như: cung cấp
đầy đủ cơ sở hạ tầng, miễn thuế nhập khẩu, thuế doanh thu trong 5 năm, tối
giản các thủ tục hành chính phức tạp và tạo quyền chuyển lợi nhuận về nước
Đó cũng là những hành động thiết thực nhất thể hiện quyết tâm đầu tư quyết
liệt của chính phủ nước này cho CNTT nói chung và phần mềm nói riêng.

suy yếu lợi thế của Ấn Độ trong lĩnh vực gia công phần mềm. Hiện cơ sở hạ
tầng tại các khu công nghệ phần mềm lớn của Ấn Độ đặt tại 7 thành phố

Bangalore, Chennai, Mumbai, Hyderabad, Kolkata, Gurgaon và Noida.
Những nơi này hiện không còn chỗ để đáp ứng khối lượng công việc ngày
một nhiều.
Để chắc chắn, các công ty Ấn Độ đang thiết lập hoạt động riêng của họ tại
Trung Quốc. Chẳng hạn như, Satyam rất hăng hái mở rộng ra ngoài Ấn Độ.
Các hãng Infosys và Tata Consultancy Services cũng thế. Nhưng vấn đề đặt ra
là các nhà quản trị đến từ các công ty Trung Quốc cho rằng họ vẫn có lợi thế
hơn đối thủ Ấn Độ. "Chúng tôi quyết tâm giữ kinh doanh tại Trung Quốc",
một hãng thầu phụ nhỏ của Trung Quốc nói. Trong khi đó, các công ty Ấn Độ
"không có động lực mạnh như chúng tôi để kinh doanh tại Trung Quốc". Như
vậy có nghĩa là đối thủ của Ấn Độ rất quyết tâm và tin tưởng vào sự phát triển
của ngành gia công phần mềm nước nhà, đó là điều khó khăn khi các doanh
nghiệp phần mềm Ấn Độ mở rộng cơ sở của mình ở Trung Quốc. Mặc dù
vậy như ng Trung Quốc vẫn còn chặng đường dài để đi trước khi có thể bắt
kịp Ấn Độ trong ngành gia công dịch vụ CNTT. Các công ty dịch vụ của
Trung Quốc chưa thể đạt đến quy mô hay sự chuyên nghiệp như các hãng Ấn
Độ. Hiện nay chưa một công ty gia công nào ở Trung Quốc có ít nhất 1 tỷ
USD doanh thu gia công phần mềm. Trung Quốc cũng chưa có danh tiếng
trên toàn cầu để thu hút các hợp đồng lớn. Các công ty đa quốc gia sẽ tìm
kiếm những đối tác có khả năng và quy mô hỗ trợ họ.
Hiện nay ngành gia công phần mềm đang gặp phải khó khăn là “gia công
phần mềm bị bội thực”. Đây sẽ là cơ hội cho các nước khác như Ấn Độ, Việt
Nam… Vì vậy các doanh nghiệp phần mềm Ấn Độ cần có sự bố trí nhân lực
sao cho hợp lý, đồng thời tránh tình trạng nhận hợp đồng gia công một cách ồ
ảt trong khi với khả năng về lao động hiện khó có thể đáp ứng được.
Mặc dù còn một số thách thức nhưng những gì mà Ấn Độ đạt được đã
khẳng định vị trí hàng đầu về gia công phần mềm.

các công ty nước ngoài tăng thêm 250 nghìn lao động.

Đặc biệt Trung Quốc có được sự đầu tư nước ngoài vào công nghiệp
CNTT năm 2005 đạt 3,5 tỷ USD. Năm 2005 Microsoft đầu tư 100 triệu USD
lập cơ sở nghiên cứu R&D với 800 lao động. Tập đoàn IBM đầu tư từ năm
1992, hiện có 5000 lao động. Một trong 4 công ty phần mềm lớn nhất thế giới
SAP đầu tư từ năm 2004 lập cơ sở R&D và Trung tâm hỗ trợ khách hàng với
1000 lao động. Điều này tạo điều kiện để phát triển gia công phần mềm.
Từ năm 2003 Trung Quốc đã trở thành nước gia công phần mềm lớn nhất
cho Nhật Bản, nhu cầu kỹ sư phần mềm biết tiếng Nhật đang tăng 150%/năm.
Theo đánh giá của các chuyên gia cho thấy so với Ấn Độ thị trường gia công
phần mềm của Trung Quốc còn rất trẻ. Gần đây công ty phần mềm của Trung
Quốc MDCL-Frontline (thuộc tập đoàn Frontline Châu Á) đã nhượng quyền
sử dụng nhiều hệ thống phần mềm mà họ sản xuất tại Trung Quốc, và ký
những hợp đồng trị giá nhiều triệu USD phát triển phần mềm ứng dụng và hệ
thống quản lý cho các hải cảng ở thành phố Đại Liên.
Phân tích của hãng nghiên cứu thị trường IDC cũng cho thấy rằng, trái
với Ấn Độ, thị trường gia công CNTT của Trung Quốc chủ yếu nhắm vào nhu
cầu nội địa. Năm 2006, hơn 40 % doanh thu GCPM đến từ các tập đoàn đa
quốc gia hoạt động tại Trung Quốc. Dự báo nhu cầu này sẽ tiếp tục tăng
nhanh trong 4-5 năm tới, mở ra cơ hội tuyệt vời cho các nhà cung cấp dịch vụ
bằng cách giúp họ mở rộng hoạt động mà không phải cạnh tranh trực diện với
các doanh nghiệp Ấn Độ trên thị trường Âu châu và Bắc Mỹ. Tập đoàn
Neusoft có trụ sở tại Thâm Quyến là nhà gia công CNTT lớn nhất ở Trung
Quốc, sử dụng hơn 10.000 nhân công, chuyên cung cấp phần mềm và dịch vụ
CNTT cũng như công nghệ y dược. Phần lớn doanh thu của Neusoft là từ
kinh doanh phần mềm và dịch vụ ở thị trường nội địa.
Trong những năm gần đây ngành công nghiệp phần mềm của Trung
Quốc tăng trưởng mạnh mẽ. Chỉ trong hai năm từ 2001 đến 2003, số lượng
các doanh nghiệp phần mềm đã tăng từ 4000 lên 8000, trong đó 23% các

lên mạnh mẽ nhằm giành vị trí hàng đầu về gia công phần mềm.
Hiện nay Trung Quốc đang thực hiện 3 dự án công nghệ phần mềm lớn
hướng vào xuất khẩu, đó là Wangxin Software Development Base, Wangxin
Nanchang Software Park and Ningbo Software Park. Các dự án này sẽ đặt
trọng tâm vào các thị trường phần mềm của Hoa Kỳ, Nhật Bản và châu Âu.
0
5
10
15
20
25
30
1999 2000 2001 2002 2006
Trung Quốc
Ấn Độ

3.3. Nguyên nhân của những thành công:
Để có được các thành công trên, về quản lý nhà nước Trung Quốc đã áp
dụng rất nhiều cơ chế và chính sách đặc biệt cho ngành công nghiệp phần
mềm.
3.3.1. Nhà nước:
 Chính phủ có Bộ công nghiệp CNTT, có Cục phát triển công nghiệp
phần mềm và công nghiệp vi mạch. Các doanh nghiệp có Hiệp hội DN phần
mềm Trung Quốc làm đại diện và được Nhà nước hỗ trợ. Tháng 7/2000, Hội
đồng Nhà nước ban hành Nghị định khuyến khích phát triển công nghiệp
phần mềm và công nghiệp vi mạch
 Ưu đãi về thuế :
Từ năm 2000, nhà nước áp dụng chính sách đặc biệt về thuế để hỗ trợ
doanh nghiệp phần mềm. Cụ thể nhà nước vẫn thu thuế VAT 17% trên sản
phẩm phần mềm khi tiêu thụ, nhưng sau đó cấp hỗ trợ lại cho DN phần mềm

Có thể nói một trong những lý do hàng đầu để gia công phần mềm tại
Trung Quốc ngày nay là các công ty Mỹ và Nhật Bản đang cố nối kết các thị
trường nước ngoài, chủ yếu với các trung tâm gia công phần mềm. Điều đó có
nghĩa là các công ty như Microsoft, Motorola và Nokia đang cố gắng khai
thác thị trường tiêu dùng khổng lồ này, họ sẽ phải đặt hàng gia công phần
mềm hỗ trợ cho chiến lược mở rộng hoạt động của họ tại Trung Quốc. Ngoài
giá lao động rẻ, các yếu tố thúc đẩy sự tăng trưởng ngành GCPM ở Trung
Quốc là sự thông thoáng của các quy định và thủ tục, sự đầu tư lớn vào giáo
dục công nghệ, tiến bộ trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, và sự bùng nổ
của nền kinh tế Trung Quốc. Tuy có những bước tăng trưởng đầy ấn tượng,
Trung Quốc vẫn không ngừng củng cố năng lực của lực lượng lao động, nhất
là về khả năng Anh ngữ, kỹ năng quản lý dự án và kinh nghiệm cạnh tranh
với Ấn Độ trên thị trường toàn cầu. Theo đánh giá “Ngày càng có nhiều
khách hàng đặt niềm tin vào việc kinh doanh ở Trung Quốc” điều đó cho thấy
rằng gia công phần mềm ở Trung Quốc phất triển mạnh mẽ, không chỉ những
thế mà trong lúc gia tăng việc đấu thầu các dự án gia công quốc tế, các công
ty CNTT Trung Quốc cũng khai thác các thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc,
nơi họ có lợi thế là sự gần gũi về địa lý và sự tương đồng về chữ viết. Lợi
dụng mức lương thấp và kỹ năng sử dụng các ngôn ngữ Đông Á của công

nhân Trung Quốc, ngày càng có nhiều doanh nghiệp cung ứng dịch vụ gia
công của Ấn Độ đầu tư trực tiếp vào Trung Quốc. Nhờ sự ủng hộ của chính
phủ cả hai nước, nhiều doanh nghiệp Ấn Độ – kể cả các công ty CNTT hàng
đầu như Infosys, Satyam Computer Services và Wipro Technologies, đã triển
khai hoạt động tại Trung Quốc. Học tập các doanh nghiệp Ấn Độ, các công ty
GCPM tốt nhất của Trung Quốc đang dần dần tích hợp vào sản phẩm của
mình những ứng dụng tiên tiến. Một số công ty này đang phát triển khả năng
soạn thảo các phần mềm nhúng (embedded software) có chất lượng cao để
làm việc với các nhà sản xuất điện thoại di động và thiết bị phần cứng khác.
Vậy phải nói rằng Trung Quốc rất biết sử dụng lợi thế của mình, và biết chớp

Trung Quốc đang thu hẹp dần khoảng cách với các nước phương Tây. Đất
nước đang khao khát tiến bộ này sẽ tiếp tục phấn đấu giành các mục tiêu cao
hơn và có thể nói rằng không bao lâu nữa, Trung Quốc sẽ là địa chỉ gia công
được ưa thích trong nhiều lĩnh vực kinh tế. Và để thực hiện mục tiêu đó,
Trung Quốc vừa công bố kế hoạch đào tạo nhân lực cho ngành GCPM, gọi là
kế hoạch “5-10-100”. Theo đó, trong năm năm tới sẽ phát triển 100 công ty
chuyên về dịch vụ gia công có chất lượng cao ở 10 thành phố nhằm thu hút
khoảng 100 tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng đến đặt hàng tại Trung Quốc.
Ngoài ra để duy trì lợi thế cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các công ty
dịch vụ gia công của Trung Quốc đã biết tăng cường thu hút khách hàng
bằng cách cung ứng những sản phẩm và dịch vụ tiêu chuẩn cao, tính sáng tạo
rõ ràng và hàng loạt những lợi ích cộng thêm khác.
* Các cuộc nghiên cứu về khắc phục những lỗ hổng kinh nghiệm phát triển
phần mềm tại Trung Quốc: tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp với phát triển phần mềm
giáo dục, chỉ số kinh nghiệm phát triển phần mềm…để từ đó có chiến lược
đầu tư hơn nữa cho nhân lực.
Chương 2. Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và Ấn Độ
1. Thực trạng ngành gia công phần mềm của Việt Nam:
1.1 Tình hình phát triển ngành gia công phần mềm ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình phát triển chung:
Phát triển CNTT, đặc biệt là CNPM là chủ trương ưu tiên của lãnh đạo
Nhà nước, là một trong những hướng đi tắt, đón đầu để công nghiệp hoá đất
nước. Thời gian qua, CNTT đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát
triển cao nhất và giá trị đóng góp vào tăng trưởng GDP ngày một lớn, trở thành

còn lại đa số những tiêu chí khác của VN nằm ở mức trung bình. Thậm chí
đáng lo ngại hơn thế là VN có 4 tiêu chí bị đánh giá yếu gồm kỹ năng ngoại
ngữ, sự hỗ trợ của Chính phủ, cơ sở hạ tầng, an ninh và bảo vệ quyền riêng tư.
Những đánh giá này khá đồng nhất với Liên minh phần mềm doanh nghiệp
BSA và The Brown-Wilson Group khi cho rằng VN còn quá yếu về nghiên
cứu phát triển, đào tạo nhân lực và an ninh cũng như bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Doanh nghiệp phần mềm nước ta đã tìm được những khách hàng lớn để
gia công xuất khẩu nhưng chủ yếu mới là dịch vụ và đang gặp phải sự cạnh
tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp phần mềm Ấn Độ, Nga, Trung Quốc và
những nước đang phát triển. Gần đây, thị trường Nhật Bản đang nổi lên, và đã
có một lựa chọn ưu tiên với những doanh nghiệp Nhật Bản có kế hoạch đầu tư
mở rộng dịch vụ phần mềm tại Việt Nam. Những công ty có người Mỹ gốc
Việt làm việc cũng là khách hàng lớn của các công ty phần mềm ở Việt Nam.
Vào thời điểm giữa tháng 4.2007, việc ban hành chỉ tiêu đến năm 2010
dù đặt ra mức 800 triệu USD đã không gây sốc như trước đây (trong đó giá
trị xuất khẩu ít nhất đạt 40%). Bởi, đầu tư nước ngoài đang dồn dập đổ vào
Việt Nam, đặc biệt là công nghệ cao. Hàng loạt các Cty CNTT, viễn thông
Châu Âu, Châu Á đến Việt Nam tìm hiểu cơ hội hợp tác. Từ chứng khoán đến
nhà đất - những thị trường cực kỳ quan trọng của một nền kinh tế - đều đã sôi
trở lại.
Tình hình kinh tế suy thoái hiện nay đã ảnh hưởng đến các doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status