MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
Chương I : Khái quát về hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản4
I. Khái quát về hỗ trợ phát triển chính thức 4
1.Khái niệm 4
2.Đặc điểm 4
3.Vai trò của ODA 5
3.1.Đối với nước cung cấp ODA 5
3.2.Đối với nước nhận ODA 5
4.Ưu nhược điểm của ODA 5
4.1. Ưu điểm của ODA 5
4.2. Bất lợi khi nhận ODA 6
II.ODA Nhật Bản 7
1. Vài nét khái quát về ODA Nhật Bản 7
2.Lịch sử hình thành và phát triển của Hỗ trợ phát triển chính thức Nhật
Bản: 9
3.Phân loại ODA Nhật Bản 11
3.1.ODA song phương 11
3.2.ODA đa phương: 14
4.Chính sách ODA Nhật Bản: 14
4.1.Chính sách ODA Nhật Bản trước những năm 90: 14
4.2. Một số thay đổi gần đây về chính sách ODA 19
Chương II :Vai trò của ODA Nhật Bản với nền kinh tế Việt Nam. .21
I. Thực trạng thu hút và sử dụng ODA của Nhật Bản ở Việt Nam 21
1. ODA của Nhật bản với Việt Nam 21
1.1.Giai đoạn 1975-1978: 22
1
1.2. Giai đoạn 1979- 1991 23
1.3.Giai đoạn 1992 đến nay: 23
hàng đầu về cả số vốn cam kết và lượng ODA được giải ngân. ODA nói chung
và ODA Nhật Bản nói riêng đã phát huy tốt vai trò của mình trong trong quá
trình xây dựng và phát triển các quốc gia Đông Nam á trong những thập niên
cuối cùng của thế kỷ XX.
Đề tài tập trung phân tích chính sách, thực trạng và những thành tựu đạt
được từ việc sử dụng nguồn ODA Nhật Bản và tình hình ODA của Nhật Bản tại
Việt Nam .Từ đó rút ra những bài học trong việc thu hút- sử dụng ODA của
Nhật Bản. Đồng thời dự báo hoạt động ODA của Nhật Bản cho Việt Nam và sau
cùng là đưa ra một số giải pháp đối với Việt Nam để tăng cường thu hút và sử
dụng ODA của Nhật Bản sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
Bố cục của đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát về hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản
Chương II: Vai trò của ODA Nhật Bản với nền kinh tế Việt Nam
ChươngIII: Một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng ODA của Nhật Bản ở
Việt Nam3
NỘI DUNG
Chương I : Khái quát về hỗ trợ phát triển chính thức của
Nhật Bản
I. Khái quát về hỗ trợ phát triển chính thức
1.Khái niệm
Hỗ trợ phát triển chính thức (tiếng Anh là: Official Development Agency
được gọi tắt là ODA).
Theo tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) định nghĩa :ODA là
các nguồn hỗ trợ do các tổ chức Chính Phủ, bao gồm chính quyền địa Phương,
hoặc do các cơ quan thực thi của các tổ chức này hoặc do các tổ chức đa
phương cung cấp cho các nước đang phát triển hoặc các tổ chức đa phương với
các tiêu chí như sau:
quản lý kinh tế xã hội còn hạn chế Một đất nước đang trong hoàn cảnh như vậy
thì ODA đóng vai trò rất lớn trong việc giải quyết những vấn đề khó khăn trên.
ODA góp phần phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy kinh tế, phát triển nguồn nhân
lực, cải thiện mức sống của người dân ở nước tiếp nhận, cải thiện và chống ô
nhiễm môi trường. Như vậy đối với những nước đang phát triển ODA góp một
phần quan trọng trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước.
4.Ưu nhược điểm của ODA
4.1. Ưu điểm của ODA
• Lãi suất thấp (dưới 2%, trung bình từ 0.25%năm)
• Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải
hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm)
• Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp
nhất là 25% của tổng số vốn ODA.
5
4.2. Bất lợi khi nhận ODA
Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược
như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an
ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều có chính
sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những
mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã
hội trong nước, khu vực và trên thế giới)
• Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế
quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu
hàng hoá của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng
bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của
nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp
nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả
năng sinh lời cao
• Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng
thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn
chấp những điều kiện hạn chế này Nhật Bản đã không những có thể xây dựng
lại nền kinh tế của mình mà còn trở thành một trong những quốc gia công
nghiệp hàng đầu trong hệ thống các nước tư bản. Hiện nay Nhật Bản là một
trong 3 trung tâm kinh tế- tài chính lớn nhất thế giới. Tổng sản phẩm quốc dân
(GNP) của Nhật năm 2001 đạt 4800 tỷ USD, chiếm 19,1% GNP toàn thế giới,
bằng khoảng 70% GNP của Đông á và gấp 10 lần GNP của các nước ASEan.
GNP tính theo đầu người đạt khoảng 39000 USD.
Sau chiến tranh nền kinh tế Nhật bản hồi phục một cách nhanh chóng, tốc
độ phát triển kinh tế hai con số, từ cuối những năm 60 đến đầu 1970 Nhật Bản
đã dẫn đầu các nước tư bản chủ nghĩa về các ngành công nghiệp như là: Điện tử
dân dụng, đóng tầu, luyện thép, chế tạo ô tô, chất bán dẫn, người máy vv Tiếp
7
theo đó Nhật Bản còn tiếp tục đẩy mạnh phát triển các nghành có hàm lượng
công nghệ cao như: Công nghệ sinh học, điện tử công nghiệp, gốm cao cấp,
nghiên cứu đại dương vv Nhờ sự gia tăng nhanh chóng của tổng sản phẩm kinh
tế quốc dân đến đầu thập kỷ 80 Nhật Bản đã đứng thứ hai chỉ sau Mỹ trong số
các nền kinh tế thị trường, kim nghạch xuất khẩu tăng liên tục, cán cân thanh
toán dư thừa, nền kinh tế phát triển phồn vinh. Nhưng hàng năm Nhật phải nhập
khẩu một lượng rất lớn khoáng sản đặc biệt là dầu mỏ do vậy nền kinh tế Nhật
phụ thuộc sâu sắc vào nền kinh tế nước ngoài.
Nhật Bản hiện nay là chủ nợ lớn nhất thế giới, các nước Đông Nam á nợ
Nhật 183 tỷ USD, Nhật có lượng dự trữ ngoại tệ lớn khoảng 220 tỷ USD.Thị
trường chứng khoán Tokyo là một trong 3 thị trường chứng khoán lớn nhất thế
giới cùng với New York và London.
Mục đích viện trợ của ODA Nhật Bản nhìn chung cũng giống như các
nhà tài trợ khác đó là giúp các nước đang phát triển giải quyết những vấn đề khó
khăn mà họ vấp phải như: nghèo đói, giáo dục, phát triển công nghiệp và những
vấn đề thuộc môi trường. Trên cơ sở xác định ý tưởng đó, ODA song phương
của Nhật Bản có 3 đặc điểm sau
Thứ nhất, ODA của Nhật Bản dành cho viện trợ kinh tế tùy thuộc vào
rất nhiều giai đoạn lịch sử đáng ghi nhớ. Chúng ta biết rằng Nhật là một nước rất
nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, lại là nước thất bại trong chiến tranh thế
giới thứ II.Vậy mà sau thế chiến II, Nhật đã tự mình tìm ra những hướng đi thích
hợp để khôi phục và phát triển đất nước một cách ổn định và vững chắc.
Thật vậy sau chiến tranh nền kinh tế Nhật thiệt hại rất nặng nề, do đó từ
năm 1945- 1954 Nhật phải nhận viện trợ từ Mỹ và Ngân hàng thế giới để khôi
phục đất nước, song cho đến 1954 Nhật bản đã bắt đầu thực hiện chương trình
viện trợ phát triển chính thức đối với các nước đang phát triển ở Châu á sau khi
tham gia kế hoạch Colombo năm 1954.Từ đó cho đến nay thì quá trình viện trợ
của Nhật được phân ra làm 4 giai đoạn chính.
9
-Giai đoạn 1: Từ 1954-1963: Thời kỳ này Nhật cung cấp viện trợ cho các
nước Đông Nam á thông qua các khoản bồi thường chiến tranh đến Inđônêxia,
philippin, Myanma, miền Nam Việt Nam. Ngoài ra Nhật Bản còn thực hiện viện
trợ không hoàn lại cho Lào, Campuchia, Myanma.
-Giai đoạn2: Từ năm 1964-1976: Nhật Bản tiến hành mở rộng và đa dạng
hóa các khoản viện trợ cả về khối lượng lẫn hình thức viện trợ.Trong giai đoạn
này Nhật tham gia vào OECD, Ngân hàng phát triển liên Mỹ; thành lập cơ quan
hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA); Nhật bắt đầu một loạt các hình thức viện trợ
mới như là:cung cấp tín dựng ưu đãi, cung cấp trang thiết bị, cử tình nguyện
viên, hỗ trợ lương thực, đào tạo tại nước thứ 3, viện trợ không hoàn lại cho các
hoạt động văn hóa
-Giai đoạn 3: Từ 1977-1988. Là thời kỳ viện trợ được hệ thống hóa bằng
những kế hoạch trung hạn cụ thể là: cung cấp 2 gói tín dụng ODA cho Trung
Quốc; tham gia Ngân Hàng phát triển Châu Phi; bắt đầu cung cấp các khoản tín
dụng điều chỉnh cơ cấu qua WB; công bố kế hoạch hợp tác của mình
-Giai đoạn 4:Từ 1989 đến nay: Đây là giai đoạn Nhật bản đứng vị trí hàng
đầu trong những nước cung cấp ODA trên thế giới, Nhật Bản lập quĩ nghiên cứu
cao cấp về Phát triển quốc tế (FASID), trả hết nợ cho WB
ODA là hoạt động mang lại lợi ích cho cả nước cho và nước nhận.Cho
♦ODA không hoàn lại: Hầu hết các hoạt động của ODA không hoàn lại
được Chính phủ Nhật Bản thực hiện thông qua cơ quan hợp tác quốc tế Nhật
bản viết tắt là JICA (Japan International Cooperation Agency), gồm có Viện trợ
chung và hợp tác kỹ thuật.
-Viện trợ chung là khoản hỗ trợ tài chính không yêu cầu hoàn trả
của Nhật Bản cho một nước đang phát triển nhằm thực hiện các dự án
phát triển kinh tế và xã hội.Viện trợ không hoàn lại chung là một yếu tố
quan trọng của ODA Nhật Bản. Đây là loại hỗ trợ có chất lượng cao
11
nhất. Chất lượng của viện trợ thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng của
viện trợ. Hình thức này bao gồm hoạt động cấp hỗ trợ tài chính cho các
hình thức như: Các dự án chung; các hoạt động văn hóa; cứu trợ khẩn
cấp và giảm nhẹ thiên tai; hỗ trợ lương thực và tăng khả năng sản xuất
lương thực; phát triển nghành thuỷ sản
-Hợp tác kỹ thuật của Chính Phủ Nhật Bản bao gồm các hình thức như
sau:
+Đào tạo nâng cao trình độ cán bộ của nước tiếp nhận ODA, tổ
chức đào tạo tại Nhật Bản hoặc một nước thứ 3.
+Cử chuyên gia Nhật Bản hoặc chuyên gia của một nước thứ 3
sang công tác tại nước tiếp nhận với mục tiêu chuyển giao công nghệ và kiến
thức của chuyên gia tới các cán bộ của nước tiếp nhận ODA.
+Cung cấp trang thiết bị nhằm tạo thuận lợi cho việc chuyển giao
và phổ biến công nghệ, đào tạo cán bộ
+Cử các thanh niên Nhật Bản sang các nước đang phát triển trong
thời gian 2 năm nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước,
đào tạo nguồn nhân lực của nước tiếp nhận. Ngoài ra còn nhằm mục đích là để
tăng cường và thiết lập mối quan hệ hiểu biết sâu sắc lẫn nhau, xây dựng tình
hữu nghị lâu dài giữa 2 quốc gia.
+Hợp tác kỹ thuật kiểu dự án: Là sự phối hợp 3 hình thức kỹ thuật
trọn gói: Đào tạo kỹ thuật tại Nhật Bản; cử chuyên gia; cung cấp máy móc thiết
qua một tổ chức tài chính gián tiếp taị nước tiếp nhận với đối tượng thụ
hưởng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các lĩnh vực công nghiệp chế
tạo và nông nghiệp.
-Tín dụng ODA phi dự án bao gồm:
+Tín dụng hàng hóa được cấp cho các nước đang phát triển, các
nước này muốn nhập khẩu hàng hóa nhưng không có tiền, nhờ hình thức này
nước nhận có thể ổn định và phát triển kinh tế trước mắt.
13
+Tín dụng điều chỉnh cơ cấu (SAL) được cung cấp để các nước
đang phát triển tiến hành cải cách toàn bộ nền kinh tế
+Tín dụng ngành là tín dụng hàng hóa hỗ trợ phát triển một nghành
cụ thể của nước tiếp nhận.
3.2.ODA đa phương:
Là hình thức đóng góp tài chính hoặc ký thuật của Chính phủ Nhật Bản cho
các tổ chức quốc tế đa phương như: UNDP, UNFPA, UNCTAD, DAC,
OECD và các tổ chức tài chính quốc tế như: WB, ADB tất cả đều nhằm mục
tiêu góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển và ổn định tại các nước đang phát
triển. Đóng góp cho các tổ chức đa phương thường được thực hiện dưới dạng
hợp tác kỹ thuật , còn đóng góp cho các tổ chức tài chính quốc tế bằng tài chính.
4.Chính sách ODA Nhật Bản:
4.1.Chính sách ODA Nhật Bản trước những năm 90:
4.1.1. Chính sách ưu tiên cung cấp theo khu vực địa lý:
Nhật Bản và Châu á có sự gần gũi về địa lý cũng như văn hóa, tôn giáo,
phong tục do vậy kể từ khi bắt đầu hoạt động cung cấp ODA cho đến những
năm đầu thập kỷ 70 Châu á luôn chiếm 90% thậm chí có thời điểm 100% lượng
ODA của Nhật, trong đó thì khu vực Asean chiếm từ 30%-50%. Châu á luôn là
khu vực nhận được ODA của Nhật Bản với tỷ lệ cao nhất
Khi chuyển sang giai đoạn 1977-1988 Nhật Bản có sự thay đổi về chính
sách mở rộng sang các khu vực khác một phần là do sự phản đối Nhật Bản diễn
ra ở một số nước trong khu vực Châu á. Cho nên lượng ODA cho Châu á giảm
ODA cũng là điều dễ hiểu như đã nêu ở trên, ngoài ra mục đích của Nhật Bản
còn để thu hẹp khoảng cách Bắc-Nam và khai thác thị trường nguyên liệu rẻ,
phong phú, nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu dùng dễ tính của
Asean Theo xu thế quốc tế hóa để duy trì vị trí là một trung tâm kinh tế- tài
chính của thế giới đòi hỏi Nhật phải tạo cho mình một thị trường tiêu thụ ổn
định, Châu á nói chung và Asean nói riêng chính là mục tiêu của Nhật Bản. Như
15
vậy một Châu á phát triển lành mạnh và ổn định sẽ là thị trường lớn cho hàng
hóa của Nhật Bản.
Biểu1: Vốn ODA Nhật Bản cho ASEAN 10 vay đến 1998
Đơn vị: Tỷ yên
Nước Vốn vay Viện trợ
Hợp tác công
nghệ
Tổng cộng
Inđônêxia 3.432,3 189,7 207,4 3.829,4
Philippin 1.772,6 211,6 129,6 2.113,8
Thái Lan 1.665,4 161,4 161,8 1.988,6
Malaysia 754,0 11,9 83,3 849,2
Việt Nam 520,2 77,3 22,1 619,6
Myanma 405,5 159,3 19,1 583,6
Lào 9,1 66,3 18,1 93,5
Campuchia 2,3 54,7 13,1 70,1
Xingapo 12,7 3,1 21,4 37,2
Brunây 0,0 0,0 39,3 39,3
(Nguồn: Bộ ngoại giao Nhật Bản)
4.1.2.Chính sách ưu tiên theo lĩnh vực:
ODA của Nhật Bản tập trung ưu tiên vào các lĩnh vực như là: Giao thông
vận tải, năng lượng, y tế, giáo dục Thúc đẩy nâng cao kỹ thuật và năng suất các
ngành nông- lâm- ngư nghiệp
vào dạng viện trợ hợp tác kỹ thuật để trang bị cho trường học. Ngoài ra Chính
phủ Nhật Bản còn hỗ trợ các tổ chức phi Chính phủ của Nhật trong việc thực
hiện các dự án xây dựng trường học cho các nước nhận ODA.
♦Lĩnh vực năng lượng: Nhật Bản chú trọng vào xây dựng các nhà máy
điện, công nghệ sản xuất dầu, vì thế ODA của họ thường tập trung vào qui trình
công nghệ tiết kiệm năng lượng và giúp các nước nhận ODA sử dụng năng
lượng có hiệu quả hơn. Hơn nữa cũng phải ghi nhận kỹ thuật công nghệ làm
giảm bớt sự ô nhiễm môi trường của Nhật Bản. ODA dành cho khu vực này từ
1989- 1993 chiếm khoảng 17% trong tổng số các khoản viện trợ và thường là
viện trợ tín dụng. Ví dụ trong năm 1993 tổng ODA cho vay dành cho năng
17
lượng là 297,551 tỷ yên chi cho 23 dự án của 9 nước là ấn Độ, Việt Nam,
Inđônêxia, Thái Lan, Bangladesh, Malaysia, Trung Quốc, Sri Lan ca và Iran.
♦Giao thông vận tải: Nhật Bản quan tâm khá nhiều đến lĩnh vực này,
dành 20% lượng ODA cho giao thông vận tải. Phần lớn ngân sách ODA dành
cho GTVT là cho vay vì nói chung đều là những dự án được thực hiện ở Châu á
(chiếm khoảng 98% trên tổng số ODA dành cho GTVT), trong đó chủ yếu cho
các nước ASEAN. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng có thực hiện viện trợ không hoàn
lại và viện trợ hợp tác kỹ thuật cho lĩnh vực này. Bên cạnh đó ODA Nhật Bản
còn quan tâm đến việc giúp đỡ để đào tạo cán bộ kỹ thuật có chuyên môn trong
việc quản lý và điều hành hệ thống giao thông vận tải.
♦Truyền thông và viễn thông, ODA Nhật Bản đã tỏ rõ sự quan tâm đặc
biệt tới lĩnh vực này, do đặc điểm của thông tin truyền thông có hiệu quả tác
động rất lớn tới công nghiệp, thương nghiệp, quản lý nhà nước, giáo dục, văn
hóa và nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội vì thế Nhật Bản đã đưa vào Châu
á từ năm 1989- 1993 là 78,4% vốn ODA cho vay trong tổng số ODA cho lĩnh
vực truyền thông và viễn thông, 50% hệ thống vi sóng phủ 2500km ở Inđônêxia
và 76% hệ thống này ở Jakarta được xây dựng từ nguồn ODA của Nhật Bản.
Các khoản viện trợ không hoàn lại trong lĩnh vực này thường được đưa đến
những vùng hẻo lánh để xây dựng cơ sở vật chất. Còn phần viện trợ hợp tác kỹ
đồng quốc tế, có nghĩa là làm ổn định hệ thống tài chính quốc tế.
Liên quan đến vấn đề trên Nhật Bản đã quyết định sẽ tăng những đóng
góp của họ đối với các tổ chức tài chính đa phương và các tổ chức tài chính
cùng với viện trợ của Nhật Bản hoặc các khoản cho vay và trợ cấp tương ứng.
Trong giai đoạn này, chính sách viện trợ của Nhật Bản đã có một sự thay đổi
đáng kể, nó bao gồm những mục tiêu và qui mô rộng lớn hơn, nhấn mạnh một
cách rõ ràng vai trò toàn cầu và quốc tế của Nhật Bản. Do tác động của cuộc
chiến tranh vùng Vịnh nổ ra ở Trung Đông vào 1990, chính sách viện trợ của
19
Nhật Bản đã phát triển xa hơn những nguyên tắc cơ bản của nó, có tính đến cả
các nền kinh tế chính trị. Hiến chương về viện trợ phát triển chính thức được
hình thành từ tháng 6/1992 đã khẳng định, về mặt nguyên lý của nó, không chỉ
nhằm vào các mục tiêu kinh tế mà còn nỗ lực nhằm tạo ra một xã hội đảm bảo
tự do, quyền con người và nền dân chủ là những điều kiện tiên quyết. Về những
nguyên tắc của viện trợ phát triển chính thức, bản Hiến chương cũng đã trích
dẫn bốn điểm sau đây:
• Sự tương ứng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường
• Không sử dụng quĩ viện trợ phục vụ cho các mục đích quân sự hoặc
khuyến khích các cuộc xung đột quốc tế
• Quan tâm thích đáng tới những xu hướng trong chi tiêu về mặt
quân sự, phát triển hoặc chế tạo vũ khí phá hủy lớn, nhập khẩu và
xuất khẩu vũ khí ở các nước nhận viện trợ.
• Quan tâm thích đáng tới việc khuyến khích dân chủ hóa, những nỗ
lực nhằm thực hiện một nền kinh tế hướng vào thị trường, và duy
trì các quyền con người cơ bản tự do.
4.2.2.Điều chỉnh chính sách ODA trước những thay đổi trong nền kinh tế của
Nhật Bản:
Trong những năm gần đây nền kinh tế Nhật Bản gặp rất nhiều khó khăn,
hiện tượng suy thoái kéo dài, vì vậy đã có ảnh hưởng đến chính sách viện trợ
ODA của Nhật Bản. Một loạt các biện pháp khuyến khích kinh tế dựa trên cơ sở
Chương II :Vai trò của ODA Nhật Bản với nền kinh tế Việt Nam
I. Thực trạng thu hút và sử dụng ODA của Nhật Bản ở Việt Nam.
1. ODA của Nhật bản với Việt Nam.
Việt Nam và Nhật Bản chính thức lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973;
Năm 1992, Nhật Bản quyết định mở lại viện trợ cho Việt Nam. Quan hệ giữa
Việt Nam-Nhật Bản phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực và đã bước sang
giai đoạn mới về chất và đi vào chiều sâu. Các mối quan hệ kinh tế chính trị,
giao lưu văn hóa không ngừng được mở rộng; đã hình thành khuôn khổ quan hệ
ở tầm vĩ mô; sự hiểu biết giữa hai nước không ngừng được tăng lên.
21
Nhật Bản bắt đầu cung cấp ODA cho Việt Nam vào năm 1975. Tuy nhiên
trước 1975 chính phủ Nhật bản cũng đã cung cấp tín dụng ODA cho chính
quyền Sài Gòn với khối lượng rất nhỏ bên cạnh khoản bồi thường chiến tranh trị
giá 13 tỷ Yên. Sau một thời gian dài thực hiện chính sách "đóng băng" đến 1992
Nhật Bản nối lại hoàn toàn viện trợ cho Việt Nam, ODA của Nhật Bản tăng dần
và hiện nay đang đứng đầu các nhà tài trợ cho Việt Nam kể từ 1995.
1.1.Giai đoạn 1975-1978:
Trong giai đoạn này hoạt động ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam
chỉ gồm các khoản viện trợ không hoàn lại dưới dạng máy móc, thiết bị, vật tư,
hàng hóa.
Trong hai năm 1975-1976, chính phủ Nhật Bản quyết định cung cấp viện
trợ không hoàn lại đầu tiên cho Việt Nam thông qua việc cung cấp máy đào,
xúc, san nền trị giá 8,5 tỷ yên. Sang năm 1976, Nhật Bản tiếp tục tài trợ không
hoàn lại cho Việt Nam 5 tỷ yên dưới hình thức cung cấp thiết bị và nguyên liệu
cho một nhà máy sản xuất xi măng có tổng trị giá là 5 tỷ yên. Tổng số 13,5 tỷ
yên này là không lớn và theo các nhà nghiên cứu khoản viện trợ này chính là
khoản bồi thường chiến tranh cho Việt Nam, mà có lẽ nó phải được thực hiện
trước đó rất lâu. Mặc dù khi các nhà kinh tế đưa ra những nhận định như trên
Chính phủ Nhật Bản không chính thức thừa nhận như vậy. Song điều quan trọng
hơn cả là chương trình tài trợ trong hai năm 1975-1976 đã có ý nghĩa như là
ODA cho Việt Nam. Tuy nhiên trong suốt giai đoạn này, Nhật Bản vẫn duy trì
cung cấp cho Việt Nam thông qua các khoản viện trợ nhân đạo với khối lượng rất
nhỏ. Thực chất các khoản viện trợ nhân đạo này mang tính chất "duy trì" các quan
hệ ngoại giao nhiều hơn. Dẫu sao thì các khoản viện trợ nhân đạo và việc duy trì
các cuộc tiếp xúc ngoại giao giữa hai nước trong suốt hơn một thập kỷ trước khi
nối lại viện trợ ODA chính thức vẫn là những chất xúc tác làm ấm một phần quan
hệ song phương vốn bị lạnh cóng do chính sách "đóng băng" của Nhật Bản.
1.3.Giai đoạn 1992 đến nay:
Đây được coi là giai đoạn phát triển nhất trong suốt quá trình thực hiện ODA
của Nhật Bản tại Việt Nam. Nhật Bản và ASEAN có mối quan hệ khá khăng khít về
23
mọi mặt kinh tế- chính trị- văn hóa xã hội. Bộ trưởng ngoại giao Nhật còn tuyên bố
trong chuyến đi thăm Inđônêxia rằng "Nhật Bản chỉ nối lại tài trợ cho Việt Nam sau
khi tham khảo ý kiến của ASEAN ". Trong những năm cuối thập kỷ 80 và đầu 90 đã
có những cuộc thăm viếng đều đặn của lãnh đạo hai nước, điều này thể hiện thiện chí
và nỗ lực của cả hai phía nhằm nối lại hoạt động cung cấp ODA cho Việt Nam. Từ
1992-2000 viện trợ của Nhật Bản cho Việt Nam gia tăng đều đặn, tổng gía trị ODA
đạt 744 tỷ yên (số cam kết), giá trị này gồm vốn vay ODA: 525 tỷ yên; viện trợ không
hoàn lại: 59 tỷ yên; hỗ trợ kỹ thuật: 33 tỷ yên. Chương trình hỗ trợ cho Việt Nam đặt
ưu tiên để tạo điều kiện phát triển bền vững và hỗ trợ xóa đói giảm nghèo. Để theo
đuổi mục tiêu trên, đã đề ra năm lĩnh vực ưu tiên như sau:
• Phát triển nguồn nhân lực và thể chế.
• Phát triển cơ sở hạ tầng.
• Phát triển nông nghiệp và nông thôn
• Phát triển giáo dục và y tế.
• Bảo vệ môi trường.
Với việc hoạch định rõ ràng năm lĩnh vực như trên vào năm 1992 Nhật Bản tài
trợ cho Việt Nam tổng số là 46,7 tỷ yên, đưa Nhật Bản lên vị trí số 1 trong số các nước
cung cấp viện trợ ODA cho Việt Nam. Trong đó tài trợ không hoàn lại là 1,2 tỷ yên và
tài trợ tín dụng là 45,5 tỷ yên. Một số dự án lớn được cấp tài trợ không hoàn lại là: Dự
đứng ở vị trí số một trong số các nhà tài trợ ODA cho Việt Nam.
25